Biện pháp phòng, trị một số bệnh ở dê - Pdf 15

Biện pháp phòng, trị một số bệnh ở dê
1. Biện pháp phòng và trị các bệnh ký sinh trùng
Dê có thể mắc các bệnh nội ký sinh (giun đũa, sán lá gan…) và các bệnh ngoại
ký sinh (ghẻ, ve, rận…). Để phòng các bệnh này, cần tuân thủ các biện pháp sau
đây:
- Luôn đảm bảo chuồng nuôi sạch sẽ, khô ráo. Mỗi tuần nên quét dọn phân trên
nền chuồng và rắc vôi bột một lần. 3 tháng nên tổng vệ sinh, sát trùng chuồng nuôi,
tiêu độc rãnh phân và sân chơi một lần.
- Cung cấp đầy đủ thức ăn chất lượng tốt, bảo đảm đủ nước uống sạch sẽ. Không
sử dụng các loại thức ăn ôi thiu, ẩm, mốc.
Điều trị:
+ Đối với bệnh giun sán: định kỳ tẩy giun sán 6 tháng/lần.
+ Đối với bệnh do ghẻ: cần tách những con bị bệnh ra khỏi đàn, cắt lông chỗ bị
ghẻ, cạo sạch vẩy mụn và bôi Cythion 5% hoặc Ivermectin.
+ Đối với ve, rận: dùng Credin hoặc dầu thông bôi vào chỗ ve, rận đốt. Có thể sử
dụng Chlorfenvinphos 0,5% để diệt trứng.
2. Bệnh viêm phổi ở dê
Bệnh viêm phổi ở dê thường xuất hiện vào những thời kỳ chuyển mùa từ thu
sang đông hoặc đầu mùa xuân. Các yếu tố bất lợi của môi trường như nhiệt độ thấp,
gió lùa, chuồng trại ẩm ướt, chật, mất vệ sinh, dính mưa… làm tăng tỷ lệ dê mắc
bệnh.
Dê bị bệnh có biểu hiện sốt cao, kém ăn, mệt mỏi, ủ rũ, nằm một chỗ, có thể chảy
nước dãi, nước mũi, ho và khó thở. Trường hợp bệnh nặng và không điều trị kịp
thời dê dễ bị chết. Bệnh có thể chuyển sang dạng mãn tính, dê ốm yếu, gầy còm và
rất khó hồi phục.
* Phòng bệnh:
- Giữ chuồng trại khô ráo, sạch sẽ, thoáng mát vào mùa hè và ấm áp vào mùa
đông. Định kỳ tẩy uế chuồng nuôi bằng nước vôi 10% hoặc axit phenic 2%.
- Cho dê ăn uống tốt, bảo đảm đủ dinh dưỡng; thức ăn, nước uống phải sạch sẽ.
- Phát hiện sớm những con dê bị bệnh, nuôi cách ly và điều trị kịp thời.
* Điều trị

các loại lá chát như lá hồng xiêm, lá ổi, lá chè xanh./.

CHĂM SÓC AO TÔM TRONG MÙA MƯA
Tôm sú là loài động vật máu lạnh, nhiệt độ cơ thể của tôm có thể thay đổi trong
một khoảng nhiệt độ giới hạn. Nhưng nếu các yếu tố môi trường thay đổi đột ngột
vượt quá giới hạn cho phép, tôm sẽ bị yếu, sốc và có thể chết hàng loạt.
Khi trời mưa, nhiệt độ, độ mặn, pH và oxy hòa tan trong ao đều bị giảm đột ngột.
Việc chăm sóc tôm nuôi trong mùa mưa nhất là những cơn mưa liên tục kéo dài,
gây nhiều khó khăn cho người nuôi, kể cả những người nuôi có kinh nghiệm, từ
việc xả nước mặt cho đến chế độ tăng giảm lượng thức ăn cho hợp lý.
Cho nên cần có sự chuẩn bị đồng bộ các khâu từ khi xử lý ao đến khi nuôi.
1. Xây ao lắng: Phải có ao lắng và xử lý nước đúng quy trình trước khi cấp vào
ao nuôi, ao lắng có diện tích bằng 1/3-1/2 ao nuôi. Có thể nuôi thay đổi ao sau từng
vụ. Dự trữ đủ nước để sẵn sàng thay nước cho ao nuôi. Không nuôi tôm với mực
nước quá cạn.
2. Mật độ thả nuôi thích hợp: Trong mùa mưa chỉ nên thả với mật độ vừa phải
(<25 con/m2).
3. Quạt nước: Tăng cường hệ thống quạt nước, oxy đáy ao, giảm phân tầng trong
ao về nhiệt độ, độ mặn, ôxy.
Ước tính 1 cánh quạt sẽ cung cấp đủ oxy cho 2.800 con tôm từ lúc mới thả đến
khi thu hoạch. Lắp cánh quạt theo đúng yêu cầu kỹ thuật:
+ Khi quạt vận hành, nước phải xoáy vào giữa ao để gom mùn bã hữu cơ vào
giữa ao.
+ Vận tốc của guồng quay phải đạt từ 80-85 vòng/ phút.
+ Cách thử: Cho quạt quay, sau đó đổ xuống ao từ 5-10kg saponin, nếu bọt nước
tập trung ở giữa ao là lắp quạt đúng. Lắp đặt hệ thống oxy đáy ao: ống nhựa hoặc
đá bọt.
4. Kiểm tra hoạt động của tôm và môi trường nước sau mưa
+ Kiểm tra hình dáng bên ngoài, màu sắc, phản xạ, kiểm tra đường ruột của tôm,
thức ăn trong nhá (vó)…

Trong ao, nước đục chủ yếu do hạt sét gây nên. Nước đục ảnh hưởng đến các yếu
tố: Giới hạn sự quang hợp của tảo làm thiếu oxy trong ao, tăng hàm lượng CO2 quá
cao làm tôm ngạt thở. Tảo thường bị tàn đột ngột. Phù sa bám vào mang tôm làm
cho tôm hay bị sưng hoặc vàng mang. Có thể sử dụng 1 trong những cách sau đây
để xử lý cho ao có 5.000m3 nước:
+ Dùng 125kg rơm khô thả dọc bờ ao và kết hợp 10kg BLUEMIX. Rơm được
bó thành từng bó khoảng 3-5kg thả xuống ao, khi thấy nước tiết ra có màu đỏ thì vớt
lên và lặp lại 2-3 lần.
+ Dùng 150kg thạch cao, nếu sau 2 lần đánh mà nước vẫn chưa trong thì nên tăng
nồng độ ở lần thứ 3. Chú ý khi sử dụng thạch cao phải nâng độ kiềm của ao lên
100ppm rồi mới sử dụng.
+ Dùng sunphat nhôm Al2(SO4)3.14H2O với liều lượng 50kg. Khi sử dụng
phương pháp này chú ý phải tăng pH và độ kiềm của ao. Đây là biện pháp cuối cùng,
chỉ sử dụng khi không còn làm được cách khác vì rất nguy hiểm.
Khi nước đã giảm đục, chúng ta cần gây màu nước bằng cách dùng BLUEMIX
với liều lượng 2-3 kg/1.000m3 nước. Có thể làm hệ thống lưới đáy ao giúp hạn chế
phù sa và tăng thêm diện tích cho tôm ở.
9. Quản lý các khí độc NH3, H2S, CH4
+ Tránh hiện tượng dư thừa thức ăn.
+ Cần có ao xử lý để thay nước thường xuyên vào những tháng cuối.
+ Sử dụng định kỳ men vi sinh.
+ Si phon đáy ao, hút chất thải ra ngoài khi tôm được hơn 70 ngày tuổi.
+ Tăng cường hệ thống máy quạt nước.
+ Ổn định pH trong khoảng 7,8-8,2.
+ Đo kiểm tra nồng độ NH3, H2S, NO2- (NO2 thường xuất hiện trong ao có độ
mặn <10 ppt).
Dấu hiệu tôm nhiễm khí độc: Thân tôm thường có màu đỏ nhạt, vỏ ốp, bơi lờ đờ
trên mặt nước, giảm ăn. Nếu bệnh nặng có thể tấp bờ, chết rải rác đến hàng loạt.
Biện pháp khắc phục:
Dùng muối hạt 10kg/ 1600m2 đáy ao rải vào lúc trời có nắng. Lặp lại liên tục 2-3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status