Giải thích pháp luật: Một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam
1. Thực tiễn giải thích pháp luật ở Việt Nam
1.1. Các quy định của pháp luật về giải thích pháp luật
Giải thích pháp luật theo nghĩa hẹp là một hoạt động thể hiện quyền lực nhà nước,
do đó các nội dung của nó phải được các VBQPPL quy định và khi thực hiện giải
thích pháp luật các chủ thể buộc phải tuân theo. Thực tế cho thấy, tương ứng với
mỗi hệ thống pháp luật sẽ có một cơ chế giải thích pháp luật và theo đó cơ sở pháp
lý của giải thích pháp luật sẽ được thể hiện dưới các hình thức văn bản khác nhau,
có thể là Hiến pháp, luật hoặc văn bản dưới luật. Tuy nhiên, một cách chung nhất,
cơ sở pháp lý của giải thích pháp luật thường quy định các nội dung về:
- Chủ thể có thẩm quyền đề nghị giải thích pháp luật;
- Chủ thể có thẩm quyền giải thích pháp luật;
- Hình thức và giá trị pháp lý của văn bản giải thích pháp luật;
- Quy trình thủ tục khi tiến hành giải thích pháp luật.
Hiến pháp 1959 (khoản 3 Điều 53) là VBQPPL đầu tiên quy định về giải thích
pháp luật với tư cách là một thẩm quyền của UBTVQH. Luật tổ chức Quốc hội,
Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ, Luật tổ chức Toà án nhân dân, Luật tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân; Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Toà án nhân
dân tối cao và tổ chức của các Toà nhân dân địa phương; Pháp lệnh quy định cụ
thể về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao là các văn bản thể chế hoá quy
định này. Tuy nhiên, các văn bản này mới chỉ quy định nguyên tắc mang tính định
hướng mà chưa quy định các nội dung cụ thể và do đó việc giải thích pháp luật
chưa được tiến hành trên thực tế.
Trên cơ sở kế thừa và phát triển quy định của Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980,
Hiến pháp 1992 và các VBQPPL quy định về giải thích pháp luật như: Luật tổ
chức Quốc hội; Luật tổ chức Chính phủ; Luật tổ chức Toà án nhân dân; Luật tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân; Luật Ban hành VBQPPL; Quy chế hoạt động của
UBTVQH; Nghị quyết số 02 của UBTVQH ban hành về tổ chức, nhiệm vụ của
Văn phòng Quốc hội; Nghị quyết số 369 của UBTVQH ban hành về việc thành
lập Ban Công tác lập pháp năm 2003… và một số VBQPPL khác, đã quy định về
giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh mà không quy định về giải thích pháp luật.
Khi phát sinh nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, các chủ thể có thẩm
quyền đề nghị UBTVQH giải thích. Trong văn bản đề nghị phải thể hiện được các
nội dung cơ bản như sự cần thiết, nội dung quy định cần giải thích, các cách hiểu
khác nhau về quy định… Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đề
nghị giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, điều ước quốc tế, UBTVQH có trách
nhiệm xem xét và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã đề nghị biết ý kiến
của UBTVQH về vấn đề này.
- Soạn thảo dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh:
Sau khi đề nghị giải thích được UBTVQH chấp nhận thì Ban soạn thảo được thành
lập để chuẩn bị dự thảo nghị quyết giải thích. Thông thường, chủ thể giải thích sẽ
tự thành lập Ban soạn thảo. UBTVQH thành lập Ban soạn thảo trong trường hợp
chủ thể đề nghị giải thích là: UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc
hội, đại biểu Quốc hội hoặc nội dung giải thích có liên quan đến nhiều ngành,
nhiều lĩnh vực.
Căn cứ vào tính chất và nội dung của việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh mà
UBTVQH giao cho Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội để soạn thảo dự thảo nghị
quyết. Dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh sau khi đã soạn
thảo sẽ được trình UBTVQH để tiến hành thẩm tra. Thời hạn gửi dự thảo nghị
quyết để thẩm tra chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày bắt đầu phiên họp
UBTVQH.
- Thẩm tra dự thảo nghị quyết giải thích:
Trên cơ sở dự thảo nghị quyết đã được cơ quan soạn thảo chuẩn bị, UBTVQH căn
cứ vào nội dung và tính chất của nội dung cần giải thích, giao cho Hội đồng Dân
tộc, các Uỷ ban hữu quan của Quốc hội thẩm tra.
Như vậy, chủ thể thực hiện việc thẩm tra là Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban của
Quốc hội. Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết, UBTVQH tự mình hoặc theo đề
nghị của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Dân tộc, Uỷ ban của
Quốc hội hoặc đại biểu Quốc hội trình Quốc hội quyết định thành lập Uỷ ban lâm
thời của Quốc hội để thẩm tra dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp
thông qua tại một phiên họp và hai phiên họp là tương tự nhau. Tại phiên họp thứ
nhất, dự thảo nghị quyết sẽ được biểu quyết thông qua các nội dung cơ bản như
phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và những vấn đề còn nhiều ý kiến khác
nhau. Sau đó, trên cơ sở các ý kiến đóng góp, trong thời gian giữa hai phiên họp,
UBTVQH chỉ đạo cơ quan soạn thảo và các cơ quan hữu quan tiến hành nghiên
cứu tiếp thu và chỉnh lý dự thảo nghị quyết để trình UBTVQH thông qua tại kỳ
họp thứ hai. Tại phiên họp thứ hai, sau khi, tiếp thu, chỉnh lý, dự thảo nghị quyết
được đọc trước toàn thể phiên họp UBTVQH. Các thành viên UBTVQH tiến hành
biểu quyết thông qua một số nội dung còn ý kiến khác nhau và biểu quyết toàn văn
dự thảo nghị quyết. Nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh được thông
qua khi có quá nửa thành viên UBTVQH biểu quyết tán thành, trừ trường hợp Chủ
tịch nước đề nghị xem xét lại được quy định tại Điều 39 và Điều 103 Hiến pháp
1992. Theo các quy định này, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nghị quyết được
UBTVQH thông qua, Chủ tịch nước có quyền đề nghị UBTVQH xem xét lại
những nội dung mà Chủ tịch nước chưa đồng ý. Nếu nghị quyết đó vẫn được
UBTVQH biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch
nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất (khoản 7 Điều 103 Hiến pháp
1992).
- Công bố nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh:
Pháp luật hiện hành không quy định cụ thể về việc công bố nghị quyết giải thích
Hiến pháp, luật, pháp lệnh của UBTVQH. Nhưng theo quy định chung, sau khi
nghị quyết được Chủ tịch Quốc hội ký sẽ được gửi tới Chủ tịch nước để ký lệnh
công bố. Thời hạn này là 15 ngày, kể từ ngày nghị quyết được thông qua.
Một số đánh giá về cơ sở pháp lý của giải thích pháp luật
- Thứ nhất, hệ thống VBQPPL hiện hành mới chỉ quy định về giải thích Hiến
pháp, luật, pháp lệnh mà chưa có các quy định về giải thích pháp luật. Đã đến lúc
chúng ta phải nhìn nhận lại giá trị của Điều 53 Hiến pháp 1959, tc là bên cạnh
việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh thì giải thích các văn bản quy phạm pháp
cũng cần phải được quy định. Chỉ có như vậy, mới khắc phục được tình trạng đánh
đồng hoạt động quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật của Chính phủ với
dẫn đến các cách hiểu không thống nhất làm phát sinh tranh chấp về thẩm quyền
giải quyết tranh chấp giữa Toà án nhân dân và Uỷ ban nhân dân. Để giải quyết
việc này, Tổng cục Địa chính đã đề nghị UBTVQH giải thích nội dung này.
Nhưng do nhiều lý do, việc giải thích luật đã không được thực hiện. Một trong các
lý do có thể kể đến là nhiều ý kiến trong UBTVQH cho rằng, Điều 89 Luật Đất
đai, Quốc hội đã giao Chính phủ quy định chi tiết nên việc này thuộc thẩm quyền
của Chính phủ. Nếu UBTVQH tiến hành giải thích sẽ tạo ra tiền lệ và chắc chắn
UBTVQH sẽ khó có thể đảm đương được nhiệm vụ này. Kết quả là, Toà án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tổng cục Địa chính đã ban hành
Thông tư số 02/TTLT, ngày 28/7/1997 để hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án
nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại
khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai năm 1993. Xem xét nội dung của Thông tư này, về
bản chất, chính là hoạt động giải thích luật.
Việc giải thích luật chỉ được chính thức thực hiện lần đầu tại phiên họp thứ 25 của
UBTVQH khoá XI. Trên cơ sở Tờ trình số 06/CP-XDPL ngày 21/01/2005 của
Chính phủ về việc giải thích điểm c khoản 2 Điều 241 của Luật Thương mại và
Báo cáo ý kiến số 1519 a /UBKTNS ngày 24/01/2005 của Thường trực Uỷ ban
Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội, UBTVQH đã thông qua Nghị quyết số
746/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 28/01/2005 để giải thích khoản c Điều 241 Luật
Thương mại 1997.
Lần thứ hai UBTVQH thực hiện thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh
là để giải thích khoản 6 Điều 19 của Luật Kiểm toán Nhà nước. Trên cơ sở Tờ
trình số 682/TTr-KTNN ngày 12/10/2006 của Tổng Kiểm toán Nhà nước và Báo
cáo ý kiến số 3050/UBKTNS ngày 8/11/2006 của Ủy ban Kinh tế và Ngân sách
của Quốc hội, UBTVQH đã thông qua Nghị quyết số 1053/2006/NQ-UBTVQH11
ngày 10/11/2006.
Một số đánh giá về thực hiện giải thích pháp luật ở Việt Nam
Tìm hiểu hai lần UBTVQH tiến hành giải thích luật trên cho thấy, còn một số bất
cập sau đây:
- Các chủ thể pháp luật nói chung và các chủ thể có thẩm quyền đề nghị giải thích
quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân; ii) quyền lực nhà nước là thống nhất, có
sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền
lập pháp, hành pháp, tư pháp; iii) pháp luật có vai trò quan trọng trong quản lý nhà
nước, quản lý xã hội, trong đó, Hiến pháp và luật có vị trí tối cao trong đời sống xã
hội. Bên cạnh đó khẳng định vai trò của đạo đức và các quy tắc xã hội khác; iv)
bảo đảm quyền con người, quyền công dân, khẳng định và thực hiện nguyên tắc
trách nhiệm qua lại giữa Nhà nước và công dân, thực hiện dân chủ xã hội chủ
nghĩa, tiếp tục thể chế hóa chủ trương dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội; v)
xác định trách nhiệm đầy đủ của Nhà nước trong việc thực hiện các cam kết quốc
tế trong quá trình hội nhập kinh tế theo tinh thần Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối
tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và
phát triển; vi) bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà
nước trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân
[3]
.
Thứ hai, hoàn thiện giải thích pháp luật để khắc phục những tồn tại và đáp ứng kịp
thời yêu cầu giải thích pháp luật phát sinh trên thực tế. Qua hơn 20 năm đổi mới
vừa qua, trước sức ép của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển của
xã hội, một số lượng lớn các VBQPPL đã được ra đời. Với tốc độ "làm luật
khoán" và trình độ làm luật ở nước ta hiện nay, không ai dám chắc chắn và khẳng
định chất lượng về nội dung của các văn bản đã được ban hành. Thực tế cho thấy,
tình trạng luật khung, luật ống vẫn còn tồn tại với số lượng không ít làm cho các
đạo luật chậm đi vào cuộc sống và luôn phải chờ hướng dẫn, quy định chi tiết. Bên
cạnh đó, vấn đề kỹ thuật lập pháp cũng chưa được quan tâm một cách đúng mức
nên nội dung của các điều luật không phải lúc nào cũng minh bạch, rõ ràng dễ hiểu
và đơn nghĩa. Chính vì vậy, trong thời gian tới chắc chắn nhu cầu giải thích pháp
luật sẽ phát sinh nhiều và cần được giải quyết một cách kịp thời nhằm đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, đặc biệt để bảo vệ quyền lợi của các
doanh nghiệp trước các tranh chấp quốc tế.
Trên cơ sở lý luận, thực tiễn của việc giải thích pháp luật và định hướng, quan
điểm hoàn thiện nêu trên, việc giải thích pháp luật ở Việt Nam trong thời gian tới
cần thực hiện những nội dung sau đây:
Thứ nhất, cần sớm nghiên cứu quy định về việc giải thích pháp luật thay vì chỉ quy
định việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp luật như hiện nay để khắc phục tình
trạng "bỏ ngỏ" việc giải thích các VBQPPL khác hay đánh đồng giữa việc Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật với
việc giải thích pháp luật.
Thứ hai, cần thiết lập một cơ chế riêng về giải thích Hiến pháp cho phù hợp với vị
trí, vai trò của Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền và phù hợp với điều kiện
Việt Nam. Theo đó, Quốc hội phải là cơ quan (chủ thể) duy nhất có thẩm quyền
giải thích Hiến pháp với tư cách là một chủ thể lập hiến.
Việc giao Quốc hội giải thích Hiến pháp cũng hoàn toàn phù hợp với truyền thống
và nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như nguyên tắc tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Hơn nữa, nó còn bảo đảm tính thứ bậc
pháp lý trong hệ thống VBQPPL; bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp trong nhà
nước pháp quyền.
Thứ ba, cần có sự phân định về thẩm quyền giữa các chủ thể trong việc giải thích
pháp luật theo hướng trao một phần thẩm quyền giải thích pháp luật cho hệ thống
toà án. Bởi vì, tư pháp (theo nghĩa hẹp là hệ thống tòa án)
[4]
là việc xét xử các
hành vi vi phạm pháp luật và các vụ kiện tụng trong nhân dân
[5]
. Toà án là các cơ
quan xét xử có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội
chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập
thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân
[6]
. Mục
thích chính thức mang tính quy phạm. Nhưng trong thời gian tới, Quốc hội phải là
chủ thể đảm nhận thẩm quyền này thay vì ủy quyền cho UBTVQH. Quốc hội phải
bằng việc ban hành nghị quyết để giải thích các quy định của luật trên cơ sở đề
nghị giải thích luật của các chủ thể đã được quy định. Phạm vi giải thích pháp luật
của Quốc hội còn lại chủ yếu là liên quan đến các luật về tổ chức bộ máy các cơ
quan nhà nước và các quy định về thẩm quyền của các cơ quan nhà nước (các quy
phạm pháp luật thuộc luật công). Ví dụ, giải thích về thẩm quyền giải quyết tranh
chấp về đất đai giữa tòa án và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của khoản 3
Điều 38 Luật Đất đai hoặc giải thích về thẩm quyền ban hành VBQPPL của Tổng
Kiểm toán Nhà nước theo quy định của khoản 3 Điều 16 của Luật Kiểm toán Nhà
nước. Các quy phạm pháp luật cần giải thích này là rất quan trọng và hiện nay
cũng không thuộc thẩm quyền của tòa án; do đó, với vị trí là cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất, Quốc hội mới là chủ thể có đủ tư cách và thẩm quyền để thực
hiện giải thích.
Bên cạnh các sự thay đổi về nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể trong hoạt động
giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh như đã đề cập, thì điều kiện đủ để triển khai
sự thay đổi đó chính là cần bảo đảm các điều kiện về nhân lực và vật chất.
Tóm lại, giải thích pháp luật là hoạt động làm sáng tỏ về tư tưởng và nội dung của
các quy phạm pháp luật. Thông qua hoạt động này, nội dung của các quy phạm
pháp luật được hiểu một cách rõ ràng, cụ thể và thống nhất hơn, giúp các chủ thể
pháp luật có nhận thức đúng đắn về pháp luật, nâng cao hiểu biết và ý thức pháp
luật; đảm bảo việc thực thi và áp dụng pháp luật được nghiêm chỉnh, thống nhất;
bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa. Chính vì vậy, nghiên cứu hoàn thiện cơ chế giải thích pháp luật là một
nhu cầu cần thiết mang tính tất yếu, khách quan đối với bất cứ hệ thống pháp luật
của nước nào. Nó còn trở nên thật sự cần thiết hơn khi Việt Nam đang xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân trong điều kiện
hội nhập kinh tế quốc tế. /.