yBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG QUAN HỆ PHÂN
PHỐI Ở NỨOC TA VÀ NHỮNG GIẢI
PHÁP HOÀN THIỆN QUAN HỆ PHÂN
PHỐI Ở NỨOC TA HIỆN NAY
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
CHƯƠNG 1
Một số vấn đề cơ bản về quan hệ phân phối
ở nớc ta hiện nay
1.1/Tính tất yếu khách quan của vai trò phân phốỉ trong nền
kinh tế thị trờng
Trong nền kinh tế thị trờng thì phân phối giữ vi trí hết sức quan trọng .Trong
quá trình tái sản xuất thi phân phối làm khâu trung gian nối liền giũa sản xuất với sản
xuất, sản xuất với tiêu dùng, nó phục vụ và thúc đẩy sản xuất, phục vụ tiêu dùng.
Nhng sản xuất lại đóng vai trò quyết định đối với phân phối ,sản xất tao ra đối
tợng và vật liệu cho phân phối ,quyết định quy mô và cơ cấu của cải để phân phối .
Phân phối không thể vợt qúa khả năng cho phép của sản xuất,thu nhập thực
tế chỉ có thể tăng lên theo đà phát triển của sản xuất nhng tốc độ tăng của thu nhập
thực tế phải chậm hơn tốc độ tăng lên của sản xuất ,có nh thế mới đảm bảo tái sản
xuất mở rộng . Hiện nay nứoc ta đang thực hiện công cuộc CNH-HĐH đất nớc xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội . Chế độ xã hội chủ nghĩa là chế
độ làm chủc tập thể của nhân dân lao động trên tất cả mọi lĩnh vực trong đó làm chủ
tập thể về kinh tế là cơ sở. Trong chế độ làm chủ tập thể về kinh tế thì làm chủ về t
liệu sản xuất là cơ sở ,điều kiên để đảm bảo làm chủtập thể về phân phối. Một khi t
liệu sản xuất la thuộc sở hữu chung của nhân dân lao động thì của cải làm ra cũng
thuộc sở hữu chung của họ và việc phân phối của cải làm ra chỉ có thể nhằm mục
đích phục vụ lợi ích của nhân dân lao động .Trong điều kiện của nớc ta hiện nay nền
kinh tế vẫn còn ở tình trạng lạc hậu , nghèo nàn cha đủ sản phẩm để phân phối theo
nhu cầu .Vì thế việc thực hiện phân phối theo thu nhập trong thời kì quá độ lên chủ
nghĩa xã hội là mộ vấn đề vô cùng quan trọng đẻ tạo ra đọng lực mạnh mẽ góp phần
tích cực thúc đẩy sản xuất phát triển, ổn định tình hình kinh tế -xã hội nâng cao đời
sống nhân dân thực hiện mục tiêu dân giầu nớc mạnh xã hội công bằng ,dân chủ
phối cho tiêu dùng do đó tổng sản phẩm xã hội vừa đợc phân phối để tiêu dùng cho
sản xuất, vừa đợc phân phối để tiêu dùng cho cá nhân mỗi thành viên trong xã hội .
Nhng vì sự phân phối bao giờ cũng gồm cả sự phân phối cho sản xuất xem là yếu tố
của sản xuất và phân phối cho tiêu dùng xem là kết quả của quá trình sản xuất,cho
nên không phải toàn bộ sản phẩm xã hội tạo ra đều đợc phân phối cho tiêu dùng cá
nhân mà cần trích ra để bù đắp những t liệu sản xuất hao phí, mở rộng sản xuất lập
quỹ dự phòng, chi phí về quản lý hành chính tổ chức Phần còn lại phù hợp với số
lợng và chất lợng lao động. Nh vậy,phân phối là tổng sản phẩm xã hội và phân
phối để tiêu dùng cho sản xuất, vừa đợc phân phối để tiêu dùng cho cá nhân.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
1.3/ Các hình thức phân phối ở nớc ta hiện nay
Đại hội đai biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định và Đại hội
Đảng lần thứ IX cũng tiếp tục khẳng định nền kinh tế nớc ta trong thời kỳ quá độ là
nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nớc ,tơng ứng với nó là nhiều
hình thức phân phối nhng lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế
là chủ yếu , đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp nguồn lực khác vào kết quả
sản xuất - kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội.
Trong nền kinh tế này xuất hiện nhiều chủ thể kinh tế khác nhau với các hình
thức sở hữu khác nhau và cũng vì lẽ đó mà xuất hiện nhiều phơng thức phân phối
khác nhau.Mỗi thành phần kinh tế có phơng thức sản xuất kinh doanh khác nhau
nên kết quả kinh doanh khác nhau do đó cần các hình thức phân phối khác nhau
Vì vậy ở nớc ta hiện nay không thể tồn tại một hình thức phân phối duy nhất
1.3.1/ Phân phối theo lao động
Trong thời kỳ quá độ hiện nay ,hình thức phân phối theo lao động là hình thức
phân phối căn bản , là nguyên tắc phân phối chủ yếu và thích hợp nhất với các thành
phần kinh tế dựa trên chế độ công hữu về t liệu sản xuất (kinh tế nhà nớc)hoặc các
hợp tác xã cổ phần mà góp vốn của các thànhviên bằng nhau (kinh tế hơp tác )
Phân phối theo lao động là hình thức phân phối căn bản, là nguyên tắc phân phối
chủ yếu thích hợp nhất với các thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu công hữu về
vốn to lớn hơn nhiều nguồn vốn tự có. Nh vậy mặc dù sở hữu vốn là t nhân, nhng
việc sử dụng vốn đã mang tính xã hội. Xét tình hình đất nớc ta thì cần phải tạo điều
kiện pháp lý cho các thành phần kinh tế t nhân cá thể và tất cả mọi thành viên trong
xã hội yên tâm và mạnh dạn đầu t vốn và sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó thực
hiện phân phối kết quả sản xuất kinh doanh theo vốn và theo tài sản của mỗi cá nhân
đóng góp vào quá trình sản xuất xã hội dơí hình thức lợi tứcvà lợi nhuận và đợc
coi là hình thức phân phối hợp pháp và đợc sự bảo hộ của pháp luật. Do sự liên
doanh liên kết giữa các thành phần kinh tế, giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh nên
đã xuất hiện các công ty liên doanh, các xí nghiệp cổ phần. ở các loại xí nghiệp này,
việc phân phối dựa trên cơ sở vốn cổ phần, dới hình thức lợi tức cổ phần. Phân phối
thu nhập dới hình thức lợi tức tiền gửi của các cá nhân hoặc tập thể vào ngân hàng.
1.3.3/ Phân phối thông qua phúc lợi tập thể , phúc lợi xã hội
Phân phối theo lao động và phân phối theo tài sản và vốn đều là tất yếu khách
quan trong quá độ hiện nay ở nớc ta , vì các hình thức phân phối đó đều nhằm mục
đích thúc đẩy nền sản xuất phát triển và tạo lập sự công bằng xã hội giữa mọi thành
viên trong xã hội. Nhng trong điều kiện cụ thể của nớc ta hiện nay , nhng ngoài
những ngời khoẻ mạnh có khả năng lao động và đang lao động, đợc trả công theo
lao động, những có vốn và tài sản đóng góp vào qúa trình sản xuất để đợc nhận lợi
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
tức và lợi nhuận, thì trong xã hội còn có những ngời vì lẽ này hay lẽ khác, không thể
tham gia vào lao động đợc trả công của xã hội. Đời sống số đông ngời này đợc gia
đình đảm bảo. Mặt khác, ngay cả mức sống của cán bộ công nhân viên chức Nhà
nớc và những ngời làm việc trong tất cả các thành phần kinh tế cũng không chỉ dựa
vào tiền công cá nhân. Bởi mức tiền công theo qui định của Nhà nớc cha đảm bảo
đợc mức sống. Họ phải dựa một phần vào các quĩ phúc lợi công cộng của Nhà nớc,
của các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế xã hội khác.
Vì vậy mà ngoài việc phân phối theo lao động, theo tài sản và theo vốn thì
trong xã hội còn tồn tại hình thức phân phối ngoài thù lao lao động, thông qua quĩ
đã thất bại chủ yếu do phân phối thu nhập không đều.Chính vì việc phân phói
không đều đã bó hẹp thị trờng nội địa không chỉ do đông đảo quần chúng nghèo
khổ mà còn do những ngòi có thu nhập cao thờng mua hàng ngoại , hoặc tiêu dùng
những sản phẩm đơn lẻ.Qua đó đã chứng minh rằng ,giữa tăng trởng kinh tế và phân
phối thu nhập có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau .Tăng
trởng kinh tế không chỉ dẫn đến sự giàu có chung của đất nớc , mà còn tạo điều
kiện thuận lơi để giúpcácnhóm có thu nhập thực hiễn xoá đói giảm ngheo mặt khác
không thể có tăng trởng kinh tế kéo dài nếu không áp dụng các chinh sách phân
phối thu nhập công bằng hơn
Thành công của các nớc này thờng đi kèm với sự gia tăng vững chắc của tiền
lơng thực tế năng xuất và sự tham gia vào các hoạt kinh tế của đại đa số dân
chúng.Một bài học chung rút ra từ thực tế các nớc ASEAN là thành công trong phát
triển phụ thuộc vào sự can thiệp một cách có hiệu quả của nhà nớc vào đời sống thực
tế và lợi ích của đại bộ phận nhân dân.
+Phát triển ,hoàn thiện lực lợng sản xuất ngày một tốt hơn trong thời gian tới
về mọi mặt .
+Hoàn thiện chính sách tiền lơng,bình quân chống chủ nghĩa bình quân và thu
nhập bất chính.Trong vấn đề này,vai trò của chính phủ là phải gắn vhặt tiền công,tiền
lơng với ngời lao động nhằm tờng bớc thực hiện hpân phối công bằng hợp
lí.Nghiêm trị những kẻ có thu nhập bất chính,chúng ta phải từng bớc tiền tệ hoá tiền
lơng,xoá bỏ những đặc quyền, đặc lợi trong phân phối
+Điều tiết thu nhập dân c giữa các khu vực khác nhau.Trong hoàn cảnh kinh
tế nh hiện nay chúng ta phải thừa nhận sự chênh lệch thu nhập giữa các tổ chức với
nhau.Tuy vậy vai trò của nhà nớc là phải làm giảm đi phần nào sự chênh lệch
đó.Điều tiết thu nhập là một yêu cầu khách quan ở bất kì chế độ nào nhằm duy trì và
ổn định xã hội.Điều tiết thu nhập thông qua các hình thức nh:thuế thu nhập,tự
nguyện đóng góp vào các quỹ phú lợi xã hội
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
xã hội nói chung tỷ lệ học sinh sơ cấp tăng từ 88 % lên 96,4
%. Các chỉ số về y tế nh tỷ lệ sinh tỷ lệ chết tuổi thọ trung bình đều có những tiến bộ
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
đáng kể. Tuy nhiên , việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của những ngời nghèo
vẫn còn là vấn đề cần quan tâm.
1.4.4/ Philippin
Khi nghiên cứu tình trạng nghèo khổ ở Philippin các nhà kinh tế đã chỉ ra một số
nguyên nhân sau:
+.Nguồn cung cấp lao động tăng nhanh dẫn tới thất nghiệp và lơng thấp.
+.Mô hình đầu t công nghiệp với cờng độ vốn tăng nhanh đã làm giảm khả năng
thu hút lao động
+.Sự thiếu hụt về việc làm đã dẫn đến tình trạng nguồn nhân lực nông thôn không
chuyển đợc sang các nghành thứ yếu khác.
+.Sự phân phối đất đai khá chênh lệch.
+.Những sai lầm trong chiến lợc công nghiệp hoá nh:bảo hộ quá mức,tập trung quá
nhiều nguồn lực vào trong thành phố
Trên đây là một số vấn đề mà Philippin gặp trong việc phân phối .Thậm chí trong
chiến lợc công nghiệp hoá hiện đại hoá Philippin cũng tập trung quá nhiều vào thành
thị,chính sách phân phối có lợi cho ngời có thu nhập cao.Hệ thống thuế chủ yếu dựa
vào thuế gián thu.Các gia đình có thu nhập cao chỉ phải đóng 12%,trong đó các gia
đình có thu nhập thấp lại phải đóng tới 20%.Chơng trình giảm nghèo khổ có mục
đích chính là thực hiện một sự phân phối công bằng hơn trên cơ sở phân phối một
cách hợp lí hơn.
1.4.5/ Singapore
Là một đất nớc giầu có và có thu nhập cao sự tăng trởng kinh tế cao và liên
tục trong nhiều thập niên đã làm cho việc xoá bỏ nghèo khổ ở đây ít nan giải hơn tỷ lệ
nghèo tuyệt dối giảm từ19 % xuống còn chỉ 13 %. Trong những năm gần đây, chính
không dẫn tới sự phân hoá xã hội, hình thành hai cực đối lập. Công cụ điều tiết thu
nhập có thể là hình thức tự nguyện đóng góp của cá nhân có thu nhập cao vào quỹ
phúc lợi xã hội từ thiện
Những điều đó nhằm trợ giúp thờng xuyên cho những ngời có thu nhập
thấp, trợ giúp những ngời thất nghiệp, những ngời tham gia bảo hiểm khi gặp rủi ro,
bổ sung thu nhập mang tính bình quân trong các tổ chức doanh nghiệp vào các dịp lễ
tết
Thứ t, khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo, mục tiêu đầu
tiên của chúng ta là khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu
t mở mang ngành nghề phát triển sản xuất, tạo nhiều việc làm cho ngời lao động.
Phân bố lại dân c trên địa bàn cả nớc mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất
khẩu lao động. Tạo điều kiện cho mọi ngời tự tạo tự kiếm việc làm. Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
chơng 2
thực trạng quan hệ phân phối ở nớc ta hiện nay
và một số giải pháp nhằm hoàn thiện quanhệ phân
phối ở nớc ta trong thời gian tới
2.1
Thực trạng quan hệ phân phối ở nớc ta hiện nay
Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung , quan liêu ,bao cấp
sang nền kinh tế hàng hoá với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần , đa hình thức sở hữu
đang nảy sinh những quan điểm mới về quan hệ phân phối. Để đánh giá đợc thực
trạng phân phối ở nớc ta hiện nay thì ta xem xét 3 nguyên tắc phân phối cơ bản :phân
phoi theo lao động , phân phối theo tài sản vốn hay những đóng góp khác ,phân phối
Việc cải cách tiền lơng diễn raliên tục bắt đầu từ khi ban hành nghị định
235/HDBT tháng 9 năm 1985 đến đầu năm 1993, Nhà nớc đã phải điều chỉnh tiền
lơng 21 lần.Về cơ chế của chính sách tiền lơng .Nhà nớc trực tiếp định mức lao
động ,định mức tiền lơng duyệt quỹ lơng ,bảng lơng bậc ,bậc lơng cụ thể chocác
đơn vị sản suất kinh doanh phải thực hiện .Chuyển sangmột cơ chế mới ,trong đó tiền
lơng đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh chỉ còn là thông số để tính toán ,Nhà
nớc khống chế lơng tối thiểu, khống chế thu nhập tối đa .
Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự điều tiết vĩ mô của nhà
nứơc ,có lĩnh vực chuyển nhanh nh xác định tự chủ sản xuất kinh doanh của các
đơn vị kinh tế cơ sở, có lĩnh vực cha chuyển lập nh cơ chế kiểm soát và điều tiết
tiền lơng ,thu nhập của nhà nớc khi các đơn vị kinh tế chuyển sang kinh doanh
,vv
Chính sách tiền lơng theo Nghị định 235/HĐBT chỉ giữ đợc thời gian ngắn
,sau đó tiền lơng thực tế bắt đầu giảm mạnh và giảm liên tục .Trên thực tế diễn ra
tình hình tốc độ tăng lơng danh nghĩa chậm hơn tốc độ tăng giá .
Trớc tình hình biến động của giá làm cho tiền lơng thực tế ,đời sống của dân c nói
chung ngày càng sa sút ,đã gây ra sự phản ứng của các đối tợng trong xã hội.Cụ thể
là :
* ở bộ máy nhà nớc các cấp:mặc dù nhà nớc trung ơng đã có biện pháp che
chắn kiểm soát liên tục ,nhng một số địa phong tựđịnh lại mức lơng tối thiểu vidụ,
Long an nâng lên hai lần .không theo chính sách chung .
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
* ở các đơn vị sản xúât kinh doanh :dựa vào quyền tự chủ kinh doanh và những
sơ hở của cơ chế quản lý đang trong bứơc giao thời , đều tìn mọi cách tăng thu nhập
cho mình .Nhìn xí nghiệp làm ăn thua lỗ nhng thu nhập của họ vẫn cao
* ở các đơn vị hành chính sự nghiệp :phải thực hiện theo nghị định
235/HĐBT.Nhng lại đợc nhà nứơc cho phép mở ra các hoạt động dịch vụ đời sống
đủ loại để tăng thu nhập .Toàn bộ những thực tế này đã tạo nên sự chênh lệch về thu
nhập rất lớn ,mà phần lớn không phải sự chênh lệch đó là do tài năng lao động của
Hai là mức tiền lơng tối thiểu là quá thấp cho đến trớc 1/1/2003. Đối với đội
ngũ cán bộ công chức Nhà nớc (mức lơng đợc xây dựng trên mức lơng tối thiểu)
thì tiền lơng chỉ chiếm từ 20-30% thu nhập dẫn đến hiện tợng tiền lơng chỉ còn là
danh nghĩa và chủ yếu dùng làm căn cứ đóng bảo hiểm. Ngời lao động không quan
tâm đến công việc chính của mình, dành nhiều thời gian, sức lực và trí tuệ làm các
công việc khác để tăng thu nhập. Trong khi đối với lao động tại các doanh nghiệp, khi
thu nhập chủ yếu là từ tiền lơng, thì mức lơng tối thiểu đã là 210.000(VND) đến
360.000(VND) đối với doanh nghiệp Nhà nớc, 410.000(VND) đến 620.000(VND)
đối với doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài. Nh vậy là mức lơng tối thiểu (thực
chất là mức lơng cơ bản) cho đội ngũ công chức là không còn phù hợp nữa.
Ba là mặc dù lơng tối thiểu và tối đa đã chênh lệch hơn 10 lần, tởng chừng
khắc phục đợc tình trạng bình quân trong phân phối, nhng do sự chi tiết đến thái
quá làm cho tiền lơng rơi vào tình trạng bình quân chủ nghĩa. Khoảng cách giữa các
bậc lơng quá ngắn, thấp nhất là 0.09 và cao nhất là 0.43. bên cạnh đó lại có quá
nhiều ngạch lơng gây nên sự phức tạp không cần thiết. Đơn cử khu vực hành chính
sự nghiệp hiện có 21 bảng lơng và 196 thang lơng tơng ứng với 196 ngạch công
chức. Hiện tợng không bao giờ đạt đến hệ số lơng cao nhất là phổ biến. Cơ chế
quản lý tiền lơng hiện nay còn bộc lộ hàng loạt những yếu điểm quan trọng. Trớc
hết tiền lơng cha gắn với trách nhiệm và kết quả lao động. Chúng ta vẫn chủ yếu trả
lơng theo thâm niên, theo bậc chứ cha trả lơng theo chức vụ và gắn liền với nó là
trách nhiệm, kết quả lao động hầu nh không có tác động gì đến mức lơng của ngời
lao động trong khu vực hành chính sự nghiệp.
Mô hình quản lý hành chính yếu kém dẫn đến việc các khoản chi là rất lãng
phí, các nguồn thu thì không đợc công khai. Phần lớn các khoản thu chi bất hợp
pháp này đợc hợp pháp hoá và chuyển thành các khoản thu nhập ngoài lơng. đây là
một trong những khâu yếu nhất của chính sách tiền lơng Việt Nam.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Bốn là sự bất cập lơng đối với nhu cầu của cuộc sống đang đẻ ra nhiều nghịch
lý. Mọi ngời đều biết rằng mức lơng hiện nay là không đảm bảo đợc cuộc sống
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
lậu qua biên giới và trong nớc, làm hàng giả, núp bóng dới doanh nghiệp quốc
doanh để trốn thuế khá phổ biến đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và t
nhân. Điều này đã nảy sinh sự bất bình đẳng lớn trong xã hội. Và nếu Nhà nớc
không có chính sách quản lý phù hợp thì khó có thể thực hiện tốt các mục tiêu xã hội
đã đặt ra. Nh vậy, ở nớc ta đòn bẩy kinh tế của lợi nhuận cha đợc phát huy đúng
sức mạnh vốn có của nó. Sở dĩ nh vậy là vì cơ chế hình thành lợi nhuận không hợp lý
đồng thời cơ chế phân phối lợi nhuận cha đủ tạo ra động lực kích thích các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trởng và phát triển kinh tế của
đất nớc nói chung.
Về vấn đề lợi tức và lợi tức cổ phần thì cha thu hút đợc phần lớn nguồn vốn
nhàn rỗi trong nhân dân, cho nên một khối lợng vốn lớn còn cha đi vào chu chuyển
tạo ra sự lãng phí. Tuy số lợng các công ty cổ phần là khá lớn nhng hoạt động thực
sự hiệu quả thì cha nhiều, hoạt động mua bán cổ phiếu công ty vẫn còn rất mới mẻ.
Một vấn đề nữa còn tồn tại hiện nay ở nớc ta đó là thu nhập từ các quĩ phúc
lợi xã hội còn thấp. Các khoản tiền trợ cấp, tiền bảo hiểm xã hội và các khoản chi trả
khác nh học hành, chữa bệnh, thởng thức văn hoá, nghệ thuật còn rất hạn chế.
Nguyên nhân gây ra tình trạng này là do thu nhập chính của ngời dân về cơ bản còn
thấp, đa số chỉ đảm bảo đợc cuộc sống vừa đủ.
Trớc những hạn chế còn tồn tại trong vấn đề phân phối ở nớc ta hiện
nay, để đảm bảo cho phân phối đợc công bằng thì cần có những giải pháp để
khắc phục những hạn chế đó.
2.1.3/Những nhận xét khi rút ra khi nghiên cứu thực trạng của
quan hệ phân phối ở nớc ta hiện nay
2.1.3.1/ Ưu điểm:
ở nớc ta trong những năm qua đã có nhiều cố gắng để giải quyết vấn đề
phân phối thu nhập . Đặc biệt rõ nét nhất là từ khi nền kinh tế nớc ta chuyển
sang nền kinh tế thị trờng đến nay ,hàng loạt các chính sách kinh tế đợc áp
dụng để giải quyết vấn đề tiền lơng , lợi nhuận , lợi tức địa tô ,bảo hiểm ,trợ cấp
xã hội chỉ có hai loại là cống hiến bằng sức lao động và cống hiến bằng sự góp vốn.
Việc thực hiện phân phối theo lao động và theo mức đóng góp vốn phù hợp với yêu
cầu phát triển của lực lợng sản xuất. Để thực hiện đợc nguyên tắc phân phối này thì
phải xác định đúng giá trị cống hiến bằng sức lao động của từng ngời và tỷ lệ giữa
giá trị cống hiến bằng sức lao động và gía trị cống hiến bằng sự góp vốn. Trong đó
phải đảm bảo phân phối theo lao động là chủ yếu nh vậy sự phân phối mới đảm bảo
tính công bằng, Xã hội dân chủ văn minh.
Thứ hai là thực hiện phân phối công bằng trong thu nhập,điều tiết thu nhập dân
c, hạn chế s chênh lệch về mức thu nhập.Nhà nớc phải hạn chế sự chênh lệch thu
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
nhập quá đáng để không khiến xã hội bị phân hoá thành hai cực cấp. mà trớc hết đối
với ngời làm công ăn lơng thì tiền lơng phải thực sự trở thành nguồn thu nhập
chính để nuôi sống họ, từ đó họ có thể hoàn toàn yên tâm và say mê với nghề nghiệp.
Để cho tiền lơng thực sự trở thành một đòn bẩy thúc đẩy ngời lao động làm việc với
sức sáng tạo, trong thời gian tới chúng ta cần tiếp tục hoàn thành chính sách tiền
lơng.
Trong việc xác định tiền lơng cần quán triệt những nguyên tắc sau: Trớc
tiên là cần cải cách chính sách tiền lơng. Cải cách tiền lơng phải mang tính triệt để
và căn bản, tạo ra một luồng sinh khí mới đối với các tầng lớp hởng lơng từ nguồn
ngân sách . Chính sách tiền lơng mới phải phải thật sự là động lực để xây dựng một
nền hành chính quốc gia trong sạch với một bộ máy công quyền mạnh mẽ, công
minh. Cải cách tiền lơng phải đợc tiến hành đồng bộ với hàng loạt các biện pháp
khác, đặc biệt là cải cách hành chính và cải tiến cơ chế quản lý kinh tế đòng bộ, có
hiệu quả Cần xác định đúng đối tợng trả lơng và cơ chế trả lơng thích hợp. Giảm
một cách đáng kể đối tợng hởng lơng từ ngân sách Nhà nớc với những bớc đi
thích hợp. Phải sử dụng mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn thuế thu nhập cá nhân nh một
phơng tiện chủ yếu để điều tiết lợi ích giữa các tầng lớp trong xã hội.
Tiến tới nâng tỷ trọng nâng thuế thu nhập cá nhân trong ngân sách Nhà
nớc.Tiền lơng phải đủ để đảm bảo tái sản xuất mở rộng sức lao động, nó phải thực
tệ ra vào các doanh nghiệp cũng nh hộ dân c.ngoài ra nhà nớc phải đóng vai
trò tích cực trong việc phân bổ tài nguyên , đất đai , có chơng trình đào tạo giáo
dục
Trên đây là một số giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo sự phân phối công bằng
trong xã hội, tạo cơ sở cho sự phát triển và ổn định xã hội trong thời gian tới, tiến tới
kiện toàn nền kinh tế, phát triển nền kinh tế thụ trờng theo định hớng xã hội chủ
nghĩa ,đảm bảo xã hội công bằng dân chủ văn minh
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Kết luận
Trong bất kỳ một xã hội nào thì phân phối luôn
chiếm một vị trí quan
trọng, nó phản ánh trình độ phát triển của lực lợng sản xuất. Hình thức phân phối thể
hiện bản chất của chế độ xã hội. Phân phối tác động trực tiếp đến mọi ngành, mọi đơn
vị kinh doanh, mọi mặt đời sống và mọi ngời trong xã hội. Do đó trong thời kỳ quá
độ, nhà nớc phải biết sử dụng quan hệ phân phối nh một công cụ đắc lực để tác
động đến sự phát triển của nền kinh tế theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Bằng chính
sách huy động, phân phối vốn đúng đắn, chính sách về tiền lơng, tiền thởng năng
suất chất lợng Nhà nớc có thể hớng dẫn, kích thích các đơn vị kinh doanh tích
cực áp dụng thành tựu cách mạng khoa học kỹ thuật, từ đó tác động có hiệu quả vào
cơ cấu kinh tế mới.
Mặc dù trình độ sản xuất còn thấp, mức sống cha cao, nhng nếu nhà nớc biết
khéo léo sử dụng công cụ phân phối vẫn có thể thể hiện tính u việt của chế độ mới.
Một khác , nhà nớc có thể tận dụng đợc khả năng của xã hội để phân phối hợp lý,
không để lãng phí, không để rơi vào tay kẻ bất lơng. Nhà nớc còn có thể thông qua
các biện pháp phân phối và phân phối lại thu nhập để đảm bảo công bằng hơn trong
xã hội, đảm bảo cho sự phát huy, phát triển bình đẳng năng lực của mọi thành viên
trong xã hội.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Mục lục
Lời Mở Đầu 1
Chơng I: Một số vấn đề cơ bản về quan hệ phân phối ở việt
nam hiện nay 2
chơng2:thực trạng quan hệ phân phối ở nớc ta hiện nay
và một số giải pháp hoàn thiện quan hệ phân phối ở nớc ta
trong thời gian tới 11
kết luận
20
danh mục tài liệu tham khảo
21
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.