ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP GIAI ĐOẠN
1945-1954
“Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng,
thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hy
sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ Hỡi đồng
bào! là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc ”. Lời kêu gọi
kháng chiến của Bác là một bản cương lĩnh kháng chiến mang tính khái quát cao, chứa đựng tư
tưởng, quan điểm, đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc, lâu dài, tự lực tự cương
cùng sự chỉ đạo sáng suốt tài tình của Đảng, chúng ta nhất định dành được thắng lợi
I. CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG (1945-1946)
1.Hoàn cảnh lịch sử:
a. Thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám (1945):
Trong hơn 80 năm đô hộ của thực dân Pháp, trong đó có 45 năm đầu thế kỷ XX, kinh tế Việt Nam
chìm đắm trong nghèo nàn và lạc hậu, nhân dân ta phải sống trong cảnh nô lệ và đói nghèo cả về vật
chất và tinh thần, 90% dân số mù chữ. Các ngành sản xuất vật chất là nông nghiệp và công nghiệp
chịu tác động nặng nề của chế độ thực dân kiểu cũ nên rất lạc hậu. Trong nông nghiệp, thực dân Pháp
tiếp tục duy trì kiểu bóc lột phong kiến bằng tô tức, sưu cao thuế nặng. Người nông dân phải chịu
cảnh một cổ hai tròng là thực dân và phong kiến. Phần lớn ruộng đất tập trung vào tay bọn địa chủ và
chủ đồn điền người Pháp.
Dưới chế độ thực dân nửa phong kiến, nền nông nghiệp nước ta hết sức nghèo nàn về cơ sở vật chất,
lạc hậu về kỹ thuật và hoàn toàn dựa vào lao động thủ công và phụ thuộc vào thiên nhiên. Năng suất
các loại cây trồng đều rất thấp. Ruộng đất phần lớn tập trung trong tay giai cấp địa chủ phong kiến và
thực dân Pháp. Nhân dân lao động chiếm 97% số hộ nhưng chỉ sử dụng 36% ruộng đất. Trong nông
thôn có tới 59,2% số hộ không có ruộng đất phải sống bằng cày thuê, cấy rẽ. Nghịch cảnh sâu sắc
diễn ra dưới thời thực dân Pháp chiếm đóng: Hàng năm Việt Nam xuất khẩu trên 1 triệu tấn gạo
trắng, nhưng nông dân Việt Nam, người làm ra lúa gạo, lại luôn luôn phải chịu cảnh đói nghèo. Năm
1945 có trên 2 triệu người chết đói. Cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn: cả không có công trình tiêu
úng nên lũ lụt thường xuyên xảy ra Nông nghiệp chủ yếu là quảng canh, năng suất cây trồng, vật
nuôi rất thấp. Sản xuất công nghiệp rất nhỏ bé và què quặt, chủ yếu là công nghiệp khai thác mỏ và
một số cơ sở công nghiệp nhẹ nhằm bóc lột nguồn nhân công rẻ mạt và vơ vét tài nguyên khoáng
sản.
mạng tinh thần yêu nước của nhân dân dấy lên từ cao trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa
tiếp tục phát triển với những hình thức và nội dung mới nhằm xây dựng, bảo vệ chính quyền, giữ
vững thành quả cách mạng.
Bên cạnh những thuận lợi do thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đem lại, nhân dân ta và chính
quyền cách mạng phải đương đầu với những khó khǎn, thử thách nặng nề. Ngay từ những ngày đầu
của chính quyền cách mạng, các thế lực đế quốc, phản động quốc tế đã cấu kết, bao vây, chống phá
hòng thủ tiêu mọi thành quả cách mạng của nhân dân ta, đặt lại ách thống tri của chúng, xoá bỏ nền
độc lập mà dân tộc ta vừa giành được. Gần 20 vạn quân của chính quyền Tưởng Giới Thạch (Trung
Quốc) - Đồng minh của đế quốc Mỹ, kéo vào miền Bắc. Dưới danh nghĩa quân đội Đồng minh vào
tước vũ khí quân Nhật, nhưng âm mưu của Quốc dân đảng Trung Hoa là: "Tiêu diệt Đảng ta, phá
tan Việt Minh, giúp bọn phản động Việt Nam đánh đổ chính quyền nhân dân, để lập một chính phủ
phản động làm tay sai cho chúng". Cuối tháng 8 đầu tháng 9 nǎm 1945, quân đội Tưởng do tướng
Lư Hán làm tổng chỉ huy đã đóng quân tại Hà Nội và hầu hết các thành phố, thị xã từ biên giới Việt -
Trung đến vĩ tuyến 16. Ngày 11-9-1945, tướng Lư Hán tuyên bố thời gian quân Tưởng ở Việt Nam
là không hạn định, tự cho mình quyền kiểm soát trật tự, an ninh trong thành phố. Tiêu Vǎn, nhân vật
được chính quyền Tưởng giao trách nhiệm xếp đặt chế độ chính trị ở Việt Nam, mà thực chất là thực
hiện âm mưu lật đổ đã sớm có mặt ở Hà Nội. Ở phía Nam vĩ tuyến 16 (từ Đà Nẵng trở vào), cũng
với danh nghĩa lực lượng Đồng minh, quân đội Anh vào tước vũ khí quân Nhật, nhưng trên thực tế,
đế quốc Anh đã giúp cho thực dân Pháp trở lại chiếm Việt Nam và cả Đông Dương. Anh và Pháp
cấu kết đàn áp cách mạng Đông Dương vì "sợ rằng phong trào ấy "làm gương" cho các thuộc địa
của Anh". Mặt khác, cũng để ngǎn chặn âm mưu của Mỹ muốn tranh giành quyền lợi với Anh, Pháp
ở Đông Dương và Đông - Nam châu á. Ngày 6-9-1945, quân đội Anh vào Sài Gòn, Gờ-ra-xây -
tổng chỉ huy quân đội Anh ở Nam Đông Dương - đòi giải giáp quân đội Việt Nam. Ngày 12-9-1945,
2
quân Anh chiếm trụ sở Uỷ ban nhân dân Nam Bộ, che chở cho lực lượng của Pháp biểu tình khiêu
khích ở Sài Gòn. Chúng tự ý duy trì trật tự trong thành phố, giao cho quân Nhật làm nhiệm vụ cảnh
sát, thả 1500 lính Pháp bị Nhật giam giữ trước đây và trang bị cho lực lượng này, đồng thời trắng
trợn đòi lực lượng vũ trang Việt Nam nộp vũ khí. Ngày 23-9-1945, được quân Anh và quân Nhật
giúp sức, quân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đâu cuộc xâm lược lần thứ hai của thực dân
Pháp hòng đặt lại ách thống trị ở Việt Nam và Đông Dương. Chưa bao giờ trên đất nước ta lại có
động của chính quyền mới gặp không ít khó khǎn, lúng túng.
2. Âm mưu của thực dân Pháp:
Âm mưu xâm lược của tư bản Pháp đối với Việt Nam lâu dài và liên tục, bắt nguồn từ những năm
đầu thế kỉ XVII được cắm mốc với việc kí kết hiệp ước Vecxai (Versaiìles) năm 1787, sau đó ngày
càng được xúc tiến một cách mạnh mẽ, đặc biệt từ giữa thế kỉ XIX
Thực dân Pháp định “đánh úp” các cơ quan đầu não của Nhà nước Cách mạng, bóp chết lực lượng
vũ trang non trẻ của ta. Chúng lên kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh, đồng thời với việc chuẩn bị
mở những cuộc tấn công mới, thực dân Pháp chủ trương bình định những vùng đã chiếm để thực
3
hiện âm mưu thâm độc “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Đối
với thanh niên, thực dân Pháp dùng thủ đoạn vừa mua chuộc, lôi kéo, vừa đàn áp, khủng bố. Chúng
còn thành lập ra các tổ chức thanh niên phản động để lôi kéo, ru ngủ, chia rẽ thanh niên hòng làm
cho họ lãng quên dân tộc, đất nước Bọn thống trị Pháp còn cố tình gây ra nạn đói "để ngǎn trở
phong trào yêu nước và bắt buộc đông bào chúng ta phải làm việc như nô lệ. Chúng luôn muốn sử
dụng chiến thuật quân sự "tốc chiến, tốc thắng"
3. Chủ trương của Đảng và Chính phủ nhằm bảo vệ chính quyền, xây dựng chế độ mới:
a. Chủ trương “kháng chiến kiến quốc”:
Những khó khǎn, thử thách to lớn cả về quân sự, chính trị, kinh tế và xã hội trên đây, đặt chính quyền
cách mạng và vận mệnh đất nước ta trong thế "ngàn cân treo sợi tóc". Tình hình trên đòi hỏi Đảng
và chính quyền cách mạng có đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn, phát huy sức mạnh của
toàn dân mới có thể bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng.
Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và hiện trạng đất nước, ngày 25-11-1945, Trung ương Đảng
ra chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc". Bản chỉ thị xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng lúc này
"vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”. Vì trên thực tế, cuộc cách mạng đó vẫn đang tiếp diễn,
nước ta chưa hoàn toàn độc lập. Chính quyền cách mạng cùng toàn dân phải "kiên quyết hoàn
thành nhiệm vụ thiêng liêng” ấy. Khẩu hiệu của cách mạng vẫn là "Dân tộc trên hết", "Tổ quốc trên
hết". Xem xét âm mưu của chủ nghĩa đế quốc đối với cách mạng Việt Nam và Đông Dương cũng
như những hành động xâm lược của thực dân Pháp ở Nam Bộ cho thấy, việc Đảng ta xác định
nhiệm vụ chiến lược trên đây là đúng đắn.
Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" còn nêu rõ những nhiệm vụ cấp bách trước mắt là "củng cố chính
kết dân tộc trong Mặt trận Việt Minh và Liên Việt là cơ sở chính trị, xã hội rộng lớn bảo đảm sự
vững mạnh của chính quyền nhân dân, của chế độ mới trước những khó khǎn thử thách nặng
nề. Sức mạnh chính trị được biểu hiện tập trung ở việc giữ vững và tǎng cường sự lãnh đạo của
Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, ở việc giữ nghiêm kỷ luật của Đảng và tǎng cường số
lượng và chất lượng đội ngũ đảng viên. Trong tình hình chính trị có nhiều phức tạp, trước âm mưu
chia rẽ, chống phá của giặc ngoài, thù trong, để bảo toàn lực lượng và có lợi cho sách lược đấu
tranh, Đảng tạm thời rút vào hoạt động bí mật (ngày 11-11-1945): Nhưng Đảng vẫn giữ vững vai
trò lãnh đạo cách mạng, xem đó chỉ là một giải pháp cần thiết, bắt buộc trước tình thế hiểm nghèo
của cách mạng, Đảng phải "lãnh đạo kín đáo và có hiệu quả hơn"
Trước hành động xâm lược của thực dân Pháp ở Nam Bộ, Đảng chủ trương nhanh chóng phát
triển lực lượng vũ trang, tǎng cường sức manh quân sự, động viên lực lượng toàn dân kiên trì kháng
chiến. Ngày 23-9-1945, quân dân Sài Gòn và cả Nam Bộ đã mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ và
gian khổ chống thực dân Pháp. Ở miền Nam, Đảng phát động toàn dân triệt để tổng đình công, bãi
công, bãi chợ, không hợp tác với địch, làm đúng lời thề trong lễ tuyên bố độc lập, đồng thời tiến
hành chiến tranh du kích rộng khắp, kìm chân và tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, làm thất bại kế
hoạch đánh nhanh thắng nhanh của địch. Ở miền Bắc và miền Trung, Đảng phát động phong trào
"Nam tiến" chi viện người và của cho cuộc chiến đấu ở miền Nam. Chính cuộc đấu tranh vũ trang
anh dũng dựa trên sức mạnh của quân dân cả nước đã gây cho địch nhiều khó khǎn, làm thất bại kế
hoạch đánh nhanh thắng nhanh của chúng, buộc thực dân Pháp phải đàm phán với Chính phủ Việt
Nam dân chủ cộng hoà.
Lực lượng vũ trang cách mạng đến nǎm 1946 đã lên tới 8 vạn người. Đó là một trong những lực
lượng nòng cốt bảo vệ chính quyền, bảo vệ thành quả cách mạng. Ngay từ đầu, Đảng và chính
quyền cách mạng đã rất chǎm lo xây dựng, củng cố công an nhân dân, coi đó là công cụ trọng yếu
bảo vệ thành quả cách mạng. Sự ra đời của công an nhân dân ngày 19-8-1945 và cuộc đấu tranh có
hiệu quả chống các thế lực phản cách mạng đã thể hiện tinh thần đó.
Chính quyền cách mạng đã nhanh chóng xoá bỏ bộ máy cai trị của chính quyền cũ như Sở liêm
phóng, hiến binh, giải tán các đảng phái phản động. Ngày 5-9-1945, Chính phủ ra sắc lệnh giải tán
"Đại Việt quốc gia xã hội đảng", "Đại Việt quốc dân đảng", ngày 13-9-1945, Chính phủ ra tiếp sắc
lệnh quản thúc an trí những người nguy hiểm cho nền dân chủ cộng hoà.Đảng và chính quyền cách
mạng kiên quyết trừng trị bọn phản quốc lợi dụng khó khǎn của cách mạng và dựa vào thế lực bên
hội của chế độ cũ và từng bước xây dựng đời sống vǎn hoá mới đã mang lại hiệu quả tích cực, tạo
nên sức mạnh chính trị, tinh thần của chế độ xã hội mới.
Thành công lớn của Đảng trong thời kỳ này là tǎng cường thực lực cách mạng về mọi mặt: chính trị,
quân sự, kinh tế, vǎn hoá tư tưởng, đồng thời phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân với tư cách
người chủ đất nước để xây dựng và bảo vệ chế độ mới và nền độc lập dân tộc. Sức mạnh của chính
quyền và chế độ mới thật sự bắt nguồn từ sức mạnh của nhân dân.
Một số thành tựu của Đảng trong giai đoạn này:
Phát huy được sức mạnh của toàn dân là do Đảng giải quyết thành công một số vấn đề cơ bản và
thiết yếu sau đây:
Một là, Đảng ý thức sâu sắc rằng, cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân. Trong đường
lối, chủ trương, chính sách cũng như trong hoạt động thực tiễn, Đảng đã bằng mọi cách làm cho nhân
dân hiểu rõ điều đó, làm cho nhân dân thấy được việc củng cố, bản vệ chính quyền và thành quả cách
mạng là quyền lợi và trách nhiệm, là ý chí và tình cảm của mọi người để họ thực hiện nhiệm vụ cách
mạng một cách tự giác. Nếu không có sự ủng hộ hết lòng và tự giác của nhân dân thì chính quyền
không thể đứng vững. Sức mạnh của quần chúng nhân dân chỉ được phát huy đầy đủ khi có sự lãnh
đạo đúng đắn của Đảng. "Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có
6
Chính phủ; thì nhân dân không ai dẫn đường. Vậy nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành
một khối". Có được sự thống nhất giữa Đảng, chính quyền cách mạng và nhân dân thành một khối
vững vàng là do Đảng và chính quyền đã có đường lối, chính sách đúng, quan tâm đến những vấn
đề dân sinh, dân chủ, dân trí, vì cuộc sống và lợi ích thiết thực của nhân dân; biết tổ chức, động viên
quần chúng và điều cực kỳ quan trọng là ở sự gương mẫu, hy sinh của cán bộ, đảng viên. Đội ngũ
cán bộ, đảng viên được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục và rèn luyện đã thu phục được
lòng dân bằng tâm đức của mình. Nhờ vậy, mọi việc đều trở nên tốt đẹp, mọi khó khǎn đều nhanh
chóng vượt qua.
Hai là, Đảng và chính quyền cách mạng nêu cao lý tưởng cách mạng mà mục tiêu trước hết là độc
lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc với tinh thần "Độc lập trên hết", "Tổ quốc trên hết". Mục tiêu giải
phóng dân tộc và giải phóng nhân dân được kết hợp chặt chẽ và nhuần nhuyễn trong đường lối,
chính sách của Đảng và chính quyền. Thực tế lịch sử cho thấy, trong hoàn cảnh đất nước có muôn
vàn khó khǎn, chính quyền mới chưa có thời gian và điều kiện thực hiện được nhiều việc thiết yếu
Để giữ vững được chính quyền trong hoàn cảnh bị nhiều kẻ thù bao vây và chống phá, đòi hỏi Đảng
phải phân tích, đánh giá đúng âm mưu, thủ đoạn, thể và lực của từng kẻ thù, để có đối sách thích
hợp, khơi sâu và lợi dụng mâu thuẫn giữa chúng, làm thất bại từng âm mưu, thủ đoạn của chúng.
Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" của Trung ương Đảng đã chỉ rõ: thực dân Pháp là kẻ thù nguy
hiểm hơn, là kẻ thù chính, cần phải tập trung mũi nhọn vào chúng. Xác đinh thực dân Pháp là kẻ thù
chính, bởi vì chúng đã và đang trắng trợn vũ trang xâm lược nước ta ở Nam Bộ. Thực dân Pháp rắp
tâm đặt lại ách thống trị của chúng ở Đông Dương. Âm mưu đó được thể hiện trong Tuyên ngôn của
chính phủ Đờ Gôn ngày 24-3-1945. Nhận rõ âm mưu của chủ nghĩa đế quốc sau Chiến tranh thế
giới thứ hai, Đảng ta cho rằng, các thế lực đế quốc sẽ đi đến dàn xếp với nhau để cho thực dân Pháp
trở lại Đông Dương. Trước sau chính quyền Tưởng Giới Thạch cũng "sẽ bằng lòng cho Đông
Dương trở về tay Pháp, miễn là Pháp nhượng cho Tưởng nhiều quyền lợi quan trọng". Như vậy,
việc tập trung chống thực dân Pháp lúc này là hoàn toàn đúng. Để tập trung đối phó với thực dân
Pháp, cần phải hoà hoãn, nhân nhượng với Tưởng. Bởi lẽ chúng chưa thể trắng trợn gây chiến
tranh xâm lược nước ta được. Như vậy, tranh được tình thế khó khǎn bất lợi là phải đối đầu với cả
quân Pháp và quân Tưởng cùng một lúc. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ quân Tưởng vào
nước ta với ý đô lật đổ Chính phủ ta, lập nên chính quyền tay sai của chúng nhưng lại dưới danh
nghĩa quân Đồng minh làm nhiệm vụ tước vũ khí quân Nhật, nên Đảng ta đề ra chính sách "Hoa -
Việt thân thiện", có những nhân nhượng nhất định, chính là chủ động ngǎn chặn và làm thất bại âm
mưu lật đổ của chúng, tỏ rõ thiện chí của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là sẵn sàng hợp tác,
giúp đỡ quân Đồng minh trong việc giải giáp quân Nhật, không để họ kiếm cớ lật đổ chính quyền
của ta. Đây là sự nhìn nhận và xử trí cực kỳ tinh tế sáng suốt, tránh được sự đối đầu có thể dẫn tới
đổ vỡ. Khi quyết định sách lược hoà hoãn với Tưởng, Đảng ta cũng nhận rõ những mâu thuẫn, khó
khǎn trong nội bộ quân Tưởng. Chính quyền Tưởng tuy có Mỹ giúp sức, song đang phải đối phó với
sự phát triển của cách mạng Trung Quốc do Đảng cộng sản lãnh đạo và nước Trung Hoa đang
đứng trước một cuộc nội chiến mới. Chính quyền Tưởng tuy tham vọng thì lớn, nhưng thực lực có
hạn, đội quân Tưởng kéo sang Việt Nam tuy đông nhưng ô hợp, tổ chức kém và hậu cần khó khǎn,
nên chúng không thể muốn gì là làm được, không thể không trông mong vào những khả nǎng hậu
cần tại chỗ. Do đó, chúng không thể không giao thiệp và dựa vào chính quyền của ta đã được xác
lập, để có thể giải quyết những nhu cầu cấp thiết. Sức mạnh của cách mạng nước ta, là đã không chỉ
tự lực giành chính quyền, mà còn đang tự bảo vệ có hiệu quả thành quả cách mạng của mình, đã
Đảng và nhân dân đã làm thất bại âm mưu và hành động khiêu khích, lật đổ của quân Tưởng. Chủ
động đưa ra chính sách Hoa - Việt thân thiện, chẳng những đã gạt bỏ được những âm mưu hành
động chống phá của một kẻ thù lớn và xảo quyết, mà còn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng và
nhãn quan chính trị sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính sách đó đã vô hiệu hoá sự
chống phá của các đảng phái phản động mà ý đồ của chúng không có gì khác là dựa vào quân
Tưởng để đoạt lấy chính quyền, thống trị nhân dân ta và làm tay sai cho các thế lực đế quốc và phản
động nước ngoài. Sách lược của Đảng ta đối với Tưởng đã góp phần quan trọng ổn định miền Bắc
và mọi mặt để tập trung sức chống lại thực dân Pháp xâm chiếm Nam Bộ.
c. Tạm thời hoà hoãn với thực dân Pháp đề đẩy nhanh quân Tưởng về nước
Từ tháng 11-1945, trong chỉ thị Kháng chiến kiến quốc, Đảng đã phân tích và cho rằng, trước sau
chủ nghĩa đế quốc cũng dàn xếp với nhau và chính quyền Tưởng cũng để Đông Dương trở về tay
Pháp. Diễn biến lịch sử cho thấy nhận định trên là hoàn toàn đúng. Ngày 28-2-1946, Tưởng và
Pháp đã ký Hiệp ước Hoa - Pháp, thoả thuận để quân Pháp vào miền Bắc thay thế quân Tưởng
"canh giữ tù binh Nhật" và "giữ trật tự theo "hiệp ước quốc tế". "Hiệp ước Hoa - Pháp không phải là
chuyện riêng của Tàu Tưởng và Pháp. Nó là chuyện chung của phe đế quốc và bọn tay sai của
chúng ở thuộc địa. Dù nhân dân Đông Dương muốn hay không muốn, nhất định chúng cũng thi
hành Hiệp ước ấy" Thực chất đây là sự mua bán chính trị giữa các thế lực đế quốc, phản động, một
sự áp đặt như "việc đã rồi", bất kể Chính phủ và nhân dân Việt Nam có thừa nhận hay không. Tình
hình phức tạp trên đây đòi hỏi Đảng ta phải nhanh chóng quyết định tiếp tục đánh hay tạm thời hoà
với Pháp? Chỉ thị "Tình hình và chủ trương" của Trung ương Đảng ngày 3-3-1946 đã chỉ dẫn: vấn
đề lúc này không phải là muốn hay không muốn đánh, "vấn đề là biết mình biết người, nhận định
một cách khách quan những điều kiện lợi hại trong nước và ngoài nước mà chủ trương cho đúng".
Chỉ thị phân tích rõ, "lúc chúng ta ngǎn quân Pháp vào Bắc Việt Nam thì chính là lúc bọn phản
động Việt Nam sẽ đứng ra lập chính phủ bù nhìn, đi đôi với thực dân Pháp đánh ta, buộc cho ta là
phiến loạn, là chống Liên Hiệp Quốc, là phản hoà bình và chính lúc đó quân Tàu trắng sẽ kiếm cớ ở
lại Đông Dương cùng thực dân Pháp và bọn phản động Việt Nam đánh ta". Tạm thời hoà với Pháp,
cho quân Pháp vào miền Bắc sẽ tránh được tình thế bất lợi cùng một lúc phải chiến đấu với nhiều kẻ
thù, bảo toàn được thực lực, có thời gian củng cố chính quyền và thành quả cách mạng, tǎng thêm
tiềm lực để đưa cách mạng tiến lên bước phát triển mới,tranh thủ thời gian hoà hoãn với Pháp để
9
hướng hữu khuynh, ngây thơ tưởng rằng Hiệp định Việt - Pháp làm cho dân tộc ta tránh được mọi
khó khǎn rồi. Xu hướng này dễ gây mất cảnh giác, không chuẩn bị đối phó với mọi bất trắc, không
sẵn sàng chiến đấu, nếu thực dân Pháp tráo trở. Trong khi hoà hoãn, nhân nhượng với thực dân
Pháp, Đảng vẫn chủ trương thực hiện sách lược khôn khéo, mềm dẻo với chính quyền Tưởng. Ngày
18-3-1946, Chính phủ ta cử một phái đoàn sang Trùng Khánh để giữ quan hệ hoà hảo với Chính
phủ Quốc dân đảng Trung Hoa. Lịch sử đã chứng minh rằng, chủ trương hoà với Pháp là một đòn
nặng đánh vào âm mưu thâm độc của Tưởng và tay sai "phá cuộc đàm phán giữa ta và Pháp, đẩy ta
chống lại Hiệp ước Hoa - Pháp, để cho cả ba lực lượng: Tàu trắng, thực dân Pháp và bọn phản
động Việt Nam quay lại tiêu diệt ta". Chủ trương đó cũng đã lợi dụng được mâu thuẫn về quyền lợi
giữa Pháp và Tưởng - cả hai thế lực này đều muốn thôn tính và độc chiếm nước ta, ký hiệp định với
Pháp để gạt quân Tưởng và kéo theo sự tan rã của bọn phản động tay sai của Tưởng. Điều đặc biệt
quan trọng là chủ trương này đã tạo điều kiện để củng cố và tǎng cường lực lượng cách mạng nước
ta về mọi mặt. "Gần một nǎm tạm hoà bình đã cho chúng ta thời giờ để xây dựng lực lượng cǎn
bản". Cuộc đấu tranh bảo vệ thành quả và phát triển thực lực cách mạng của nhân dân ta từ sau
Hiệp định sơ bộ diễn ra hết sức phức tạp và gay gắt. Một mặt, ta kiên trì đấu tranh ngoại giao, duy
10
trì khả nǎng hoà hoãn, tỏ rõ lập trường hoà bình, hữu nghị với nước Pháp; đồng thời, kiên quyết đấu
tranh đẩy lùi những âm mưu, hành động khiêu khích, xung đột, lấn tới của bọn thực dân Pháp. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đi thǎm nước Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp từ ngày 31-
5-1946. Cuộc đàm phán chính thức ở Pan giữa đoàn đại biểu Chính phủ ta và Chính phủ Pháp bắt
đầu từ ngày 6-7-1946, nhưng không đạt được kết quả. Trước khi rời nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí
Minh ký với Chính phủ Pháp bản Tạm ước Việt - Pháp ngày 14-9-1946, thể hiện thiện chí hoà bình
trước sau như một của Chính phủ và nhân dân Việt Nam. Mặt khác, để Đảng và Chính phủ ta có
thời gian xúc tiến nhanh việc chuẩn bị lực lượng, cảnh giác và sẵn sàng đối phó với sự bội ước của
thực dân Pháp và sự phá hoại của bọn việt gian thân Pháp. Trong chỉ thị Hoà để tiến, Đảng ta đã
lưu ý "sau khi đổ bộ và đóng lại các nơi cǎn cứ rồi, rất có thể bọn thực dân Pháp quay ra kiếm
chuyện tiến công ta để lật đổ chính quyền nhân dân, cho bọn bù nhìn Việt gian thân Pháp lên thay.
Bởi vậy, vẫn phải tiếp tục chuẩn bị những việc kháng chiến lâu dài, nhưng làm kín đáo để tránh mọi
sự hiểu nhầm giữa ta và Pháp". Việc thực dân Pháp đem quân chiếm đóng trái phép Phủ toàn quyền
cũ ở Hà Nội ngày 25-6-1946, âm mưu làm đảo chính lật đổ Chính phủ ta vào ngày 14-7-1946 và lập
Giữ vững chính quyền nhân dân ở nước ta trong những nǎm 1945-1946 làm nổi bật kinh nghiệm về
cách mạng biết tự bảo vệ trong bối cảnh lịch sử cực kỳ khó khǎn, phức tạp. Dưới sự lãnh đạo của
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng một lúc nhân dân ta phải thực hiện nhiều nhiệm vụ lớn: kháng
chiến chống xâm lược giữ vững nền độc lập; trấn áp các thế lực phản động, xây dựng và củng cố
chính quyền, xây dựng chế độ mới; phát triển kinh tế, vǎn hoá để từng bước ổn định đời sống nhân
dân v.v Những chủ trương, biện pháp đúng đắn đó đã khơi dậy sức mạnh to lớn của cả dân tộc, do
đó chẳng những đã bảo vệ được chính quyền, mà còn đưa cách mạng tiếp tục phát triển vững chắc
và giành thế chủ động ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
II. CHỦ TRƯƠNG KHÁNG CHIẾN CỦA ĐẢNG GIAI ĐOẠN 1946-1954:
Chiến tranh là thử thách lớn đối với mỗi quốc gia dân tộc trên tất cả các mặt của đời sống xã hội.
Thử thách đó càng lớn hơn nhiều với nước ta vào cuối nǎm 1946. Nền độc lập mới gình lại được 16
tháng, chính quyền chưa được củng cố vững mạnh, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, nên các mặt đời
sống xã hội chưa thật sự ổn đinh, mà dân tộc ta đã phải đương đầu với cuộc chiến tranh trên quy mô
toàn quốc. Sớm ý thức được "sự mâu thuẫn giữa Anh - Mỹ - Pháp và Liên Xô có thể làm cho Anh -
Mỹ nhân nhượng với Pháp và để cho Pháp trở lại Đông Dương", Đảng và Nhà nước ta đã tích cực,
chủ động chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng đối phó với hành động xâm lược trắng trợn của thực dân
Pháp, đồng thời làm hết sức mình để cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp không mở rộng
ra cả nước. Nhân dân ta muốn hoà bình, ta đã nhân nhượng, nhưng thực dân Pháp càng lấn tới,
buộc nhân dân ta phải cầm súng để bảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo vệ thành quả Cách mạng tháng
Tám 1945. Vào lúc 20 giờ ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng
nổ.
1. Điều kiện lịch sử chi phối tiến trình cuộc kháng chiến:
Kháng chiến toàn quốc xảy ra trong điều kiện so sánh tương quan lực lượng không có lợi cho ta.
Đối tượng tác chiến của ta là đội quân nhà nghề của thực dân Pháp, có trang bị tối tân, có trình độ
tác chiến và chỉ huy cao - một quân đội có kinh nghiệm trong chiến tranh xâm lược, đã thống trị
nước ta gần một thế kỷ, đội quân của một nước tư bản phát triển, có tiềm lực kinh tế, khoa học và kỹ
thuật khá hiện đại. Đến cuối nǎm 1946, đội quân này gồm 10 vạn tên đã có mặt trên đất nước ta.
Hành động đánh chiếm Việt Nam và Đông Dương của thực dân Pháp nằm trong âm mưu và chiến
lược phản kích toàn cầu của chủ nghĩa đế quốc sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Pháp chiếm đóng
Đông Dương nhằm ngǎn chặn làn sóng cách mạng và chủ nghĩa xã hội ở vùng Đông Nam châu á.
Đảng ta và nhân dân ta dám đánh và quyết đánh thắng thực dân Pháp xâm lược, vì độc lập dân tộc,
vì sự tồn vong của đất nước. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược tiếp tục sự nghiệp
của Cách mạng tháng Tám. Khí thế của Cách mạng tháng Tám đã thôi thúc đông đảo thanh niên tự
nguyện tham gia lực lượng vũ trang. Họ chiến đấu với tinh thần "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh",
bằng sức mạnh của "cả nước đồng lòng, toàn dân đánh giặc". Sức mạnh của dân tộc được khơi dậy
nhờ nhiều yếu tố. Đó là cuộc kháng chiến của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt
Nam, có đường lối kháng chiến đúng đắn: Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cao tinh thần độc
lập tự chủ, tự lực tự cường, phát huy truyền thống bất khuất của dân tộc và vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam; nhân dân ta tin tưởng vào Đảng; cán bộ, đảng viên của
Đảng đã thực sự tỏ rõ tính tiên phong gương mẫu, dám đi đầu trong cuộc kháng chiến đây gian khổ,
hy sinh; chính quyền nhân dân được củng cố, tiêu biểu cho ý chí chống xâm lược của toàn dân, đã
huy động được sức mạnh của toàn dân, động viên được mọi tiềm nǎng của đất nước phục vụ kháng
chiến. Là chính quyền của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân tổ chức cuộc kháng chiến bảo
vệ độc lập dân tộc và lợi ích của nhân dân, nên vai trò của chính quyền cách mạng đã tạo được thế
và lực ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện. Nhân dân ta tiến hành
cuộc kháng chiến trong điều kiện quốc tế phức tạp. Tình hình thế giới có những thuận lợi, đồng thời
có những khó khǎn cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thế giới
hình thành hai phe đối lập về mặt chính trị, phát triển theo xu hướng phủ định, bài trừ nhau. Cuộc
kháng chiến của nhân dân ta vận động theo xu hướng phát triển đó. Sớm muộn cuộc kháng chiến
của nhân dân ta sẽ nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới,
trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa và dân chủ nhân dân. Nhưng do những điều kiện lịch sử hạn
chế, từ nǎm 1950 mới thật sự có điều kiện quốc tế thuận lợi trên. Từ đây cuộc kháng chiến của nhân
dân ta thực sự là một bộ phận của lực lượng tiến bộ và cách mạng trên thế giới, đối lập với các thế
lực đế quốc và phản động quốc tế. Những nǎm đầu, cuộc kháng chiến của nhân dân ta ở trong thế
bao vậy của chủ nghĩa đế quốc. Nhưng, Đảng và nhân dân ta luôn xác định rằng, ta kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược lá góp phần bảo vệ hoà bình thế giới, làm thất bại và đẩy lùi các thế
lực gây chiến. Trên cơ sở phân tích tình hình, Đảng ta thấy rằng, để đánh thắng thực dân Pháp xâm
lược phải tổ chức toàn dân kháng chiến. Phương châm chỉ đạo cuộc kháng chiến là:"kháng chiến
toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính". Chúng ta còn yếu, phải chống lại kẻ địch
13
chiến tranh nhân dân vững chắc. Tháng 10-1947, địch mở đợt tấn công lên Việt Bắc, nhằm tiêu diệt
bộ đội chủ lực và cơ quan đầu não kháng chiến của ta, hòng kết thúc chiến tranh theo chiến thuật
quân sự "tốc chiến, tốc thắng" của chúng. Triệt để lợi dụng yếu tố địa hình thuận lợi, bộ đội chủ lực
phối lực với dân quân tự vệ đã chiến đấu dũng cảm, giữ vững quyền chủ động trong từng tình
huống, từng trận đánh. Nhiều trận ta đánh cho địch không kịp viện binh, không kịp rút chạy. Sau hơn
200 trận đánh, chiến dịch Việt Bắc kết thúc thắng lợi, đã phá tan kế hoạch "đánh nhanh; thắng
nhanh" của địch. Việt Bắc trở thành mồ chôn giặc Pháp. Sau chiến dịch đánh lên Việt Bắc thất bại,
địch thay đổi kế hoạch. Từ trọng điểm đánh chiếm Bắc Bộ quay về "bình định" Nam Bộ, từ tập trung
tiêu diệt chủ lực của ta sang đánh phá cơ sở quần chúng và kinh tế của ta. Địch tǎng cường "bình
định" vùng chiếm đóng, ráo riết xây dựng nguy quản, nguy quyền, thực hiện chính sách "lấy chiến
tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt". Để phá kế hoạch thâm độc của địch, ta
chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích, xây dựng, phát triển thế trận chiến tranh nhân dân. Bộ đội
chủ lực được phân tán thành các đại đội độc lập và các tiểu đoàn tập trung, phát động trong quân
đội phong trào luyện quân lập công. Trong nǎm 1948, quân ta đã diệt hàng trǎm đôn bốt địch bằng
14
nhiều hình thức tập kích bất ngờ, nội ứng, bức rút và mở một số chiến dịch, tiêu diệt một bộ phận
quan trọng sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất đai. Cùng với sự trưởng thành của bộ đội chủ
lực, dân quân du kích được phát triển. Ta chú ý xây dựng các cǎn cứ và khu du kích, đẩy mạnh chiến
tranh du kích, hỗ trợ cho nhân dân đứng dậy phá tề diệt ác, xây dựng chính quyền cơ sở. Chiến
tranh nhân dân phát triển mạnh trong hai nǎm 1948 và 1949; đồng thời, chúng ta cũng tạo được
điều kiện quốc tế thuận lợi cho cuộc kháng chiến. Ngày 1-10-1949, nước Cộng hoà nhân dân Trung
Hoa ra đời. Nhân thắng lợi to lớn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thǎm Trung Quốc và Liên Xô.
Chuyến đi thǎm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho bè bạn xa gần hiểu ta hơn, tạo điều kiện
thuận lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Tình hình trong nước và quốc tế có những điều
kiện thuận lợi cho ta chủ động mở chiến dịch Biên giới vào tháng 9-1950. Thắng lợi của chiến dịch
Biên giới đã phá vỡ phòng tuyến biên giới của địch, làm thay đổi cục diện chiến tranh. Ta đã phá thế
bị bao vây, giành lại thế chủ động trên chiến trường, từ phương thức tác chiến chủ yếu là du kích
chiến đã chuyển sang vận động chiến "công đồn diệt viện", từ đánh nhỏ tiến lên đánh vừa và đánh
lớn giành thắng lợi lớn, mở ra một giai đoạn mới của cuộc kháng chiến. Từ tháng 12-1950 đến
tháng 6-1951 ta liên tiếp mở ba chiến dịch đánh địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Ba chiến dịch
15
chúng phải đi đến một giải pháp chính trị, kết thúc chiến tranh ở Đông Dương. Qua các chiến dịch
lớn, thấy rõ tư tưởng chỉ đạo của Đảng là đánh chắc thắng, chủ động, mưu trí và sáng tạo tiến công
địch, không có chiến dịch phòng ngự, không có sự phòng ngự chiến lược. Nhưng có phòng ngự
chiến thuật, có lúc, có nơi phải rút khỏi chỗ này, chỗ khác, hoặc đánh thắng rồi rút quân. Phương
châm đánh chắc thắng còn quán triệt mục đích quân sự của chiến tranh cách mạng là diệt địch và
bảo toàn lực lượng mình. Chỉ có tiêu diệt thật nhiều địch trong từng trận đánh, từng chiến dịch mới
giữ được lực lượng của ta một cách chắc chắn nhất; làm cho địch không còn khả nǎng, không còn
đủ lực lượng tiến công tiêu diệt lực lượng ta. Chiến thuật phòng ngự trong chiến tranh cách mạng
cũng nhằm tạo điều kiện tiến lên tiêu diệt địch và cách phòng ngự có hiệu quả nhất là phòng ngự
tích cực bằng tiến công. Ngay từ đầu tuộc kháng chiến, Đảng ta đã dự kiến những hình thức và bước
đi của cuộc kháng chiến, trong đó có hình thức kết thúc chiến tranh. Đó là tiến trình qua ba giai
đoạn và cuối cùng "ta tung lực lượng toàn quốc, toàn dân đè bẹp quân địch giành lại toàn bộ lãnh
thổ" hoặc là "trong những điều kiện nhất định, những đảng phái dân chủ Pháp có thể đứng ra dàn
xếp với ta để cứu vãn tình thế. Nhân đó cuộc kháng chiến lâu dài của ta sẽ có những cuộc dàm phán
mới xen vào và đây chính là một trong những đặc điểm của nó". Cuối nǎm 1953 và đầu nǎm 1954,
trên cơ sở thắng lợi của 8, 9 nǎm kháng chiến đã có những yếu tố mới làm xuất hiện khả nǎng kết
thúc chiến tranh bằng một giải pháp chính trị. Trên chiến trường, ta thắng lớn trong chiến cuộc
Đông Xuân 1953-1954. Đặc biệt thắng lợi trong trận quyết chiến chiến lược, ở Điện Biên Phủ đẩy
địch lún sâu vào thế thất bại, từ phòng ngự trên chiến trường phải rút về phòng ngự quanh các cứ
điểm lớn và các thành phố, thị xã. Trong khi đó, tình hình nước Pháp không ổn định, Chính phủ
phân hoá, Quốc hội tranh luận sôi nổi về việc chấm dứt chiến tranh Đông Dương, nhân dân đòi lập
lại hoà bình ở Đông Dương, binh lính phản chiến ngày càng đông. Tình hình quốc tế cũng có những
thay đổi. Các nước lớn đã đi vào thế hoà hoãn, muốn kết thúc chiến tranh Đông Dương, tạo điều
kiện cho Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc thương lượng với nhau. Mặt khác, Mỹ đe doạ sẽ can thiệp trực
tiếp vào Đông Dương. Trước tình hình đó, Đảng ta quyết định: trước đây ta chủ trương trường kỳ
kháng chiến, tự lực cánh sinh là đúng, nay do tình hình biến đổi, ta chủ trương tranh thủ hoà bình,
đồng thời tiếp tục chuẩn bị chiến tranh nếu cần thiết. Do đó, chúng ta đã cử phái đoàn Chính phủ do
đồng chí Phạm Vǎn Đồng dẫn đầu tham dự Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương. Ngày 8-5-1954,
một ngày sau chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương khai mạc.
đấu thắng lợi, trước hết Đảng động viên toàn dân tham gia kháng chiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu
gọi: "Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ
là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ Quốc. Ai có súng dùng súng, ai có
gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gãy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực
dân cứu nước" Đây là nét tiêu biểu về tinh thần tự lực tự cường và phản ánh thực chất của chiến
tranh nhân dân Việt Nam. Toàn dân đánh giặc là truyền thống của dân tộc Việt Nam. Đảng ta đã
biết phát huy truyền thống đó, vì Đảng luôn tin ở dân. Đảng xác định sự nghiệp kháng chiến là sự
nghiệp của toàn dân, sức mạnh của kháng chiến là sức mạnh của nhân dân, việc tǎng cường lực
lượng kháng chiến chính là tâng cường sức dân, trong đó công nông là gốc. Cuộc kháng chiến chỉ
giành thắng lợi khi việc tham gia kháng chiến đã trở thành hành động tự giác của nhân dân đặt dưới
sự lãnh đạo của Đảng. Ai cũng lo chuyện đánh giặc, mọi người dân đêu là chiến sĩ, khó phân biệt
được người dân với người lính, hậu phương với tiền tuyến. Đó là tính chất nhân dân trong chiến
tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Điều quan trọng trong việc tổ chức lực lượng toàn
dân đánh giặc là xây dựng lực lượng chính trị hùng hậu. Lực lượng chính trị quần chúng là lực
lượng trong nhân dân được giác ngộ chính trị, đã hiểu rõ mục đích và đường lối kháng chiến của
Đảng, tham gia kháng chiến có tổ chức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Họ tự nguyện tham gia các
tổ chức cứu quốc hoặc hoạt động theo các khẩu hiệu hành động của mật trận dân tộc thống nhất.
Qua các tổ chức của mặt trận, Đảng tuyên truyền, giáo dục đường lối kháng chiến cho nhân dân,
như Lênin nói: Việc quần chúng nhận thức được mục đích và nguyên nhân của cuộc chiến tranh có
một tầm quan trọng to lớn, đó là sự bảo đảm cho thắng lợi. Chiến tranh nhân dân là toàn dân đánh
giặc, nhưng lực lượng vũ trang là nòng cốt, là lực lượng chủ yếu đánh bại lực lượng vũ trang của
địch, đè bẹp ý chí xâm lược của chúng. Đảng chủ trương động viên và vũ trang toàn dân để xây
dựng lực lượng vũ trang của ta là lực lượng chính trị quần chúng được tổ chức và trang bị vũ khí ở
những mức độ khác nhau, tạo thành các thứ quân khác nhau. Tuy có sự khác nhau về trình độ và
trang bị, nhưng lực lượng vũ trang của ta có điểm thống nhất là đội quân tự nguyện, tự giác, chiến
đấu cho mục đích chính trị của cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng luôn luôn xác đính lực
lượng vũ trang của ta là đội quân tình nguyện có tinh thần chiến đấu dũng cảm, phải có hình thức tổ
chức thích hợp để nâng cao hiệu suất chiến đấu và phù hợp với đối tượng tác chiến. Trong những
nǎm của cuộc kháng chiến, lực lượng vũ trang của ta được tổ chức dưới hai hình thức: vệ quốc quân
và dân quân (tự vệ và du kích). Hình thức tổ chức này phù hợp với điều kiện vật chất và trang bị vũ
tự chế, đông thời tích cực lấy vũ khí của giặc để đánh giặc. Thực tế chiến đấu cho thấy, vũ khí thô sơ
có tác dụng lợi hại trong việc tiêu hao, tiêu diệt địch trong chiến tranh nhân dân. Chính vì vậy, trong
cơ cấu trang bị lực lượng vũ trang của ta đã luôn chú ý phối hợp giữa vũ khí tối tân và vũ khí thô sơ
nhằm nâng cao hiệu suất chiến đấu. Một khó khǎn phải giải quyết là vũ khí trang bị của chủ lực vũ
trang do nhiều nguồn và nhiều nơi sản xuất. Để phát huy hiệu lực của vũ khí trang bị, đòi hỏi bộ đội
ta phải có quyết tâm cao, cố gắng nắm vững và sử dụng thành thạo những trang bị hiện có, đồng
thời tích cực cải tiến vũ khí trang bị cho phù hợp với điều kiện chiến đấu của ta. Nhiều loại vux khí
được bộ đội ta cải tiến sử dụng linh hoạt, đã phát huy hiệu lực rất to lớn. Tất cả những điều đó góp
phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến.
2- Xây dựng cǎn cứ địa và hậu phương tại chỗ vững chắc là điều kiện hình thành thế trận
chiến tranh nhân dân rộng khắp
Nước ta hẹp lại dài, hai mặt giáp biển, phía bắc giáp Trung Quốc, mà lúc này Trung Quốc còn
trong tay chính quyền Tưởng Giới Thạch, nên dễ bị bao vây chia cắt. Để bảo đảm chiến đấu thắng
lợi, Đảng chủ trương xây dựng cǎn cứ đia và hậu phương tại chỗ vững mạnh, lấy nông thôn đồng
bằng và rừng núi làm địa bàn chiến lược trọng yếu. Đây là chủ trương đúng đắn và sáng tạo của
Đảng ta trong việc quán triệt tư tưởng của Lênin về vai trò của hậu phương trong chiến tranh. Khi
18
chuẩn bị kháng chiến, cả nước được chia làm 12 khu để thuận tiện cho việc chỉ đạo chiến tranh.
Bước vào cuộc kháng chiến, Đảng xác định ở Việt Nam có cǎn cứ địa vững chắc là lòng dân. Từ đó
có thể mở mặt trận ở bất cứ nơi nào có bóng địch, đánh ngay cả ở sau lưng địch, trong lòng địch và
tổ chức cǎn cứ địa không những ở rừng núi mà cả ở đồng bằng". Với tinh thần đó, Đảng ta tích cực
củng cố những cǎn cứ đã có như Việt Bắc, khu IV và khu V, vùng Đồng Tháp Mười, đồng thời tích
cực xây dựng các làng chiến đấu, các cǎn cứ và khu du kích trong vùng tạm chiếm. ở nước ta không
hình thành "vùng đỏ", "vùng trắng", không lấy nông thôn bao vây thành thị, mà hình thành một hệ
thống cǎn cứ kháng chiến đa dạng ở cả vùng rừng núi, đồng bằng và thành phố. Nông thôn đồng
bằng là địa bàn tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch. Địch ra sức "bình định" vùng đồng bằng để
"lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" Chúng xây dựng hệ thống đồn
bốt, cǎn cứ nhỏ ở ven đô thi, trục đường giao thông nhằm ngǎn chặn ta từ xa, tạo ra thế bao vây,
chia cắt vùng nông thôn để dễ kiểm soát. Ta quyết tâm giữ vùng nông thôn để xây dựng hậu phương
tại chỗ vững mạnh. Các làng chiến đấu và cǎn cứ du kích nằm xen kẽ với hệ thống đôn bốt địch. Tạo
Pháp. Hình thức đấu tranh trong các đô thị rất đa dạng và phong phú như: kết hợp đấu tranh chính
trị với những hoạt động vũ trang phối hợp của các đội biệt động và công an, kết hợp hoạt động công
19
khai với hoạt động bí mật, hợp pháp với bất hợp pháp. Vận động binh lính phản chiến làm tan rã
nguy quân với hoạt động tẩy chay "Hội đông an dân", "Hội đồng chấp chính" nhằm làm tê liệt bộ
máy nguy quyền. Vừa tích cực đánh phá kho tàng, cơ sở hậu cần của địch, vừa tích cực chuẩn bị
thuốc men, vải sợi và các hàng hoá khác cung cấp cho kháng chiến và vùng giải phóng. Bằng những
hình thức đa dạng như thế, đã đưa người dân thành thị tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào công
cuộc kháng chiến, làm cho thực dân Pháp không yên ở chính nơi mà chúng cho là an toàn nhất. Tích
cực xây dựng cǎn cứ kháng chiến và hậu phương tại chỗ, Đảng coi trọng xây dựng cǎn cứ, hậu
phương chiến lược của cả nước. Căn cứ Việt Bắc được xây dựng thành cǎn cứ chiến lược của cuộc
kháng chiến. Để đáp ứng yêu cầu trước mắt của cuộc kháng chiến, và chuẩn bị tiền đề cho công
cuộc xây dựng kinh tế sau chiến tranh, nền kinh tế dân chủ nhân dân và chính quyền dân chủ nhân
dân được củng cố và xây dựng vững mạnh ở Việt Bắc. Tháng 10-1949, cách mạng Trung Quốc
thắng lợi, từ đầu nǎm 1950 các nước xã hội chủ nghĩa lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao với
chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà. Tranh thủ điều kiện thuận lợi này, tháng 9-1950, ta chủ động
mở chiến dịch Biên giới nối thông chiến khu Việt Bắc với Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa.
Từ đây, hậu phương kháng chiến của ta hình thành ba tầng: tại chỗ, cả nước và phe xã hội chủ
nghĩa, kết hợp tự lực tự cường với đoàn kết quốc tế. Dù có sự giúp đỡ quốc tế, nhưng Đảng ta vẫn
thường xuyên giáo dục quân và dân ta nêu cao tinh thần tự lực tự cường để xây dựng hậu phương
vững mạnh. Đảng vận động nhân dân tích cực sản xuất và tạo điều kiện để phát triển sản xuất nông
nghiệp. Ngày 14-7-1949, Chính phủ ra sắc lệnh giảm tô và những quy định về giảm tức, quy chế lĩnh
canh và tạm cấp ruộng đất cho nông dân., Đảng chủ trương tiến hành cải cách ruộng đất trong
vùng tự do nhằm xoá bỏ chế độ chiếm hữu phong kiến về ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng,
nhằm bồi dưỡng sức dân, bồi dưỡng lực lượng kháng chiến. Phát triển lực lượng vũ trang gồm ba
thứ quân và xây dựng hệ thống cǎn cứ địa tại chỗ vững chắc là hai bộ phận cấu thành thế trận chiến
tranh nhân dân rộng khắp ở Việt Nam. Hai nhiệm vụ phát triển lực lượng vũ trang và xây dựng cǎn
cứ địa có quan hệ thúc đẩy nhau phát triển. Đảng ta đã giải quyết thành công mối quan hệ đó, đã
thực sự xây dựng "mỗi phố là một trận địa, mỗi làng xã là một pháo đài, mỗi người dân là một người
lính". Thành công này là nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng. Hình thành thế trận chiến tranh
dân tộc, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội đã quy định đường
lối kháng chiến là chiến tranh nhân dân, là phát huy sức mạnh tổng hợp của dân tộc và thời đại, là
"vừa kháng chiến, vừa kiến quốc", tự lực tự cường kết hợp với đoàn kết quốc tế. Phương châm của
cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính. Thực hiện phương
châm đó Đảng ta đã sử dụng được sức mạnh mọi mặt của toàn dân để khắc phục những khó khǎn
ban đầu tưởng chừng như không vượt nổi, đồng thời khai thác được sức mạnh của truyền thống, của
chính nghĩa chống chiến tranh phi nghĩa. Do đó, nước ta từ một nước có nền kinh tế lạc hậu, khó
khǎn, thiếu thốn, tiến lên tự cung tự cấp đủ sức kháng chiến; có đội quân du kích phân tán xây dựng
được lực lượng vũ trang với ba thứ quân; có chính quyền non trẻ xây dựng thành chính quyền nhân
dân có uy tín và hoạt động có hiệu lực; và có một nền vǎn hoá với 90% số dân mù chữ trở thành một
nền vǎn hoá kháng chiến và cách mạng. Phương pháp cách mạng trong kháng chiến là xây dựng và
sử dụng sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân để đánh thắng chiến tranh xâm lược. Đó là
sức mạnh của đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, lấy đấu tranh vũ trang là chủ yếu,
là kết hợp vận động ngụy quân với nổi dậy phá tề trừ gian làm tan rã nguy quyền ở cơ sở. Đó là sức
mạnh của du kích chiến tiến lên vận động chiến và phối hợp các hình thức tác chiến đó. Đó là sức
mạnh của hậu phương kết hợp với tiền tuyến, của chiến trường chính với các chiến trường phối hợp,
của nông thôn với thành phố. Để thực hiện đường lối kháng chiến đúng đắn trong thực tiễn, Đảng
đặc biệt quan tâm tới công tác xây dựng Đảng về tổ chức và tư tưởng. Trong điều kiện chiến đấu
ngày càng ác liệt liên lạc gặp nhiều khó khǎn, Đảng chủ trương xây dựng các "chi bộ tự động công
tác", phát huy tính chủ động sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp bộ đảng ở các khu, tỉnh,
thành v.v Tǎng cường quyền hạn cho Uỷ ban kháng chiến khu. Khi mất liên lạc, Uỷ ban kháng
chiến khu có toàn quyền điều khiển mọi mặt hoạt động ở địa phương theo đường lối của Đảng. Tǎng
cường lực lượng lãnh đạo, Đảng quyết định phát triển "lớp đảng viên tháng Tám", kết nạp công
nhân, nông dân, trí thức ưu tú và thanh niên dũng cảm trong quân đội. Sức chiến đấu của Đảng
được tǎng cường ở nông thôn, các đơn vị quân đội và các ngành công tác của chính quyền, các xí
nghiệp nhà nước hầu hết có chi bộ. Đến nǎm 1949, Đảng ta đã có hơn 70 vạn đảng viên. Tuy nhiên,
trong quá trình phát triển Đảng, có nhiều trường hợp không nắm chắc tính giai cấp của Đảng,
không thấu suốt tiêu chuẩn đảng viên, chưa coi trọng giáo dục nâng cao nhận thức về chủ nghĩa
cộng sản. Để làm tròn sứ mệnh lãnh đạo kháng chiến, Đảng luôn luôn nhất mạnh việc củng cố
Đảng và tǎng cường giáo dục đảng viên. Nǎm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho các đồng
trong giai đoạn mới và hoàn chỉnh đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đồng thời, đề ra
hai nhiệm vụ cụ thể có quan hệ chặt chẽ với nhau là đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và
Đảng ra hoạt động công khai lấy tên là Đảng lao động Việt Nam. Đại hội khẳng định tư tưởng chiến
lược là nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc va chủ nghĩa xã hội đã nêu trong Cương lĩnh đầu tiên của
Đảng (1980) là đúng đắn. Đại hội đã phát triển và cụ thể hoá tư tưởng chiến lược đó theo hướng:
"Dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, do nhân dân lao động làm động lực, cách mạng đó
không chỉ giải quyết những nhiệm vụ phản đế và phản phong kiến, mà còn phát triển chế độ dân chủ
nhân dân một cách mạnh mẽ, đông thời gây mầm mống cho chủ nghĩa xã hội, tạo điều kiện tiến lên
chủ nghĩa xã hội" Đại hội cũng xác định phương hướng phát triển của cách mạng Việt Nam đại thể
qua ba giai đoạn: độc lập dân tộc, dân chủ nhân dân và chủ nghĩa xã hội. ở giai đoạn đầu, nhiệm vụ
giải phóng dân tộc bao gồm cả nhiệm vụ phản đế và nhiệm vụ phản phong kiến. Sự "mô hình hoá"
và sự khẳng định nguyên tắc chỉ đạo chiến lược trên đánh dấu bước tiến mới của Đảng về nhận thức
quy luật cách mạng ở nước thuộc địa nửa phong kiến, giải quyết đúng mối quan hệ có tính quy luật
giữa nhiệm vụ trước mắt và xu hướng tiến lên của cách mạng. Đại hội cũng thảo luận và quyết định
những nội dung cơ bản về xây dựng và củng cố chính quyền, quân đội, mặt trận dân tộc thống nhất,
phát triển kinh tế, vǎn hoá, nhằm đẩy mạnh cuộc kháng chiến giành thắng lợi. Sau thành công của
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng và sự giúp đỡ quốc tế có mạnh hơn trước, trong
Đảng ta xuất hiện một số nhận thức không đúng như ỷ lại vào bên ngoài, hoặc lạc quan tếu, muốn
thắng nhanh, không thấy hết tính phức tạp, trường kỳ, gian khổ của cuộc kháng chiến. Để uốn nắn
22
những nhận thức sai, nâng cao tinh thần tự lực tự cường, nǎm 1952, Đảng tổ chức "Cuộc vận động
chỉnh Đảng". Đây là một cuộc đấu tranh phê bình và tự phê bình nghiêm túc nhằm thống nhất nhận
thức, đoàn kết nội bộ, xây dựng tư tưởng tự lực tự cường, kháng chiến lâu dài trong cán bộ, đảng
viên, làm rõ yêu cầu giữa vấn đề dân tộc và dân chủ. Nhưng trong tổ chức cuộc vận động chỉnh
Đảng cũng đã mắc một số khuyết điểm. Thiếu sót của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của
Đảng là tuy có nêu vấn đề thực hiện từng bước chính sách ruộng đất, nhưng không khẳng định chủ
trương thực hiện cải cách ruộng đất nguy trong kháng chiến khi yêu cầu của cuộc kháng chiến đặt
ra. Để khắc phục thiếu sót đó, tháng 11-1953, Đảng ban hành cương lĩnh ruộng đất và quyết định
tiến hành cải cách ruộng đất trong vùng tự do. Cương lĩnh ruộng đất và chủ trương tiến hành cải
cách ruộng đất trong kháng chiến là đúng, đã thúc đẩy cuộc kháng chiến phát triển mạnh mẽ.
6. Phan Tuấn Kiệt
7. Ngô Thị Kiều My
8. Trần Quang Lộc
24