Kinh tế các ngành sản xuất
Thực trạng phát triển kinh tế biển
ở tỉnh Thái Bình
1 Đặt vấn đề.
1.1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu.
Bước sang thế kỷ 21,“Thế kỷ của biển và đại dương”, khai thác biển đã trở thành vấn
đề quan trọng mang tính chiến lược của hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể cả các quốc gia
có biển và các quốc gia không có biển. Trong điều kiện các nguồn tài nguyên trên đất liền
đang ngày càng cạn kiệt, các nước ngày càng quan tâm tới biển. Mặt khác, sự bùng nổ dân số
ngày càng gia tăng, theo thống kê đầu năm 2006 toàn thế giới có 6,5 tỷ người, dự báo đến
2015 dân số thế giới khoảng 7,5 tỷ người. Sự phát triển của dân số thế giới làm cho không
~ 1 ~
Vũ Thị Huyền_K54 KTC
Kinh tế các ngành sản xuất
gian kinh tế truyền thống đã trở nên chật chội, nhiều nước bắt đầu quay mặt ra biển và nghĩ
đến các phương án biến biển và hải đảo thành lãnh địa, thành không gian kinh tế mới. Một xu
hướng mới nữa là hiện nay, trong điều kiện phát triển khoa học công nghệ nhanh chóng, việc
đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ về biển đang là một xu thế tất yếu của các quốc
gia có biển để tìm kiếm và bảo đảm các nhu cầu về nguyên, nhiên liệu, năng lượng, thực
phẩm và không gian sinh tồn trong tương lai.
Từ bao đời nay, biển luôn gắn bó chặt chẽ với mọi hoạt động sản xuất, đời sống của
dân tộc Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta nhận định: “Biển có ý nghĩa to lớn để nước ta phát
triển, mở cửa giao lưu với quốc tế và ngày càng có vai trò lớn trong định hướng phát triển
tương lai”. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa
dạng, vùng biển Việt Nam mang trong mình những tiềm năng nổi bật như: khai thác dầu
khí, khoáng sản; nuôi trồng và đánh bắt thủy - hải sản; du lịch;… Vì vậy, vấn đề tiến ra biển
để phát triển kinh tế đang là một xu thế tất yếu của các quốc gia có biển, trong đó có Việt
Nam, đặc biệt trong điều kiện hiện nay khi các nguồn tài nguyên trên đất liền có hạn, đã và
1.2.1 Mục tiêu chung
~ 2 ~
Vũ Thị Huyền_K54 KTC
Kinh tế các ngành sản xuất
Nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế biển tỉnh Thái Bình, từ đó đưa ra một số đề xuất
nhằm phát triển kinh tế biển ở tỉnh Thái Bình.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế biển
Đánh giá thực trạng và hiệu quả phát triển kinh tế biển ở tỉnh Thái Bình
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng, những khó khăn thách thức đối với phát triển kinh tế biển tại
địa phương.
Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển kinh tế biển ở Thái Bình.
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Hiệu quả phát triển kinh tế biển ở Thái Bình
Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển tại địa phương
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
Tiểu luận nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế biển ở huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình.
1.4. Phương pháp và địa điểm nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tiểu luận còn sử dụng
1 số phương pháp chủ yếu sau :
- phương pháp phân tích hệ thống và tư duy logic học
- phương pháp thống kê, so sánh
- phương pháp điều tra chuyên sâu
1.4.2. Địa điểm nghiên cứu
Tiểu luận tập trung nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Thực trạng
sân bay ven biển và trên một số đảo nhỏ bé. Các thành phố, thị trấn, khu kinh tế, khu công
nghiệp ven biển còn nhỏ bé, đang trong thời kỳ bắt đầu xây dựng. Hệ thống các cơ sở nghiên
cứu khoa học-công nghệ biển, đào tạo nhân lực cho kinh tế biển, các cơ sở quan trắc, dự báo,
cảnh báo thời thiết, thiên tai, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, còn nhỏ bé, trang bị
thô sơ.
Du lịch biển là một tiềm năng kinh doanh lớn. Vùng biển và ven biển tập trung tới 3/4 khu du
lịch tổng hợp và 10/17 khu du lịch chuyên đề. Tuy nhiên, ngành du lịch biển vẫn thiếu những
sản phẩm dịch vụ biển-đảo đặc sắc có tính cạnh tranh cao so với khu vực và quốc tế và chưa
có khu du lịch biển tổng hợp đạt trình độ quốc tế. Khai thác hải sản và nuôi thuỷ sản nước lợ
vốn là lĩnh vực kinh tế đặc trưng của biển đã đóng góp khoảng hơn 3 tỷ USD trong tổng giá
trị thuỷ sản xuất khẩu (2008) và tạo việc làm cho hơn 1 triệu lao động đánh cá trực tiếp, nuôi
thủy sản và 50 vạn lao động dịch vụ liên quan.
Đối với các lĩnh vực kinh tế liên quan trực tiếp đến biển như chế biến sản phẩm dầu, khí; chế
biến thủy hải sản, đóng và sửa chữa tàu biển, sản xuất muối biển công nghiệp, các dịch vụ
kinh tế biển và ven biển (như thông tin, tìm kiếm cứu nạn hàng hải, dịch vụ viễn thông công
cộng biển trong nước và quốc tế, nghiên cứu khoa học-công nghệ biển, xuất khẩu thuyền
viên, ) hiện chủ yếu mới ở mức đang bắt đầu xây dựng, hình thành và quy mô còn nhỏ bé.
Ông Nguyễn Chu Hồi – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho biết:
“Khai thác biển đảo đã đem lại những lợi ích kinh tế -xã hội bước đầu quan trọng, nhưng việc
sử dụng biển và hải đảo chưa hiệu quả, thiếu bền vững. trình độ khai thác biển của nước ta
vẫn đang ở tình trạng lạc hậu nhất trong khu vực.Việt Nam tuy là một quốc gia biển, song đến
nay, chúng ta vẫn chưa thực sự dựa vào biển để phát triển đúng tiềm năng và thế mạnh. Việt
Nam vẫn chưa phải là quốc gia mạnh biển, vẫn chưa phải là một cường quốc biển.
2.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế biển ở Thái Bình
~ 4 ~
Vũ Thị Huyền_K54 KTC
Kinh tế các ngành sản xuất
Thái Bình có trên 50 km bờ biển với 5 cửa sông lớn đổ ra biển, tạo nên vùng bãi triều
rộng trên 16 nghìn héc-ta, trong đó diện tích khoanh nuôi thủy sản khoảng 10 nghìn héc-ta và
Nguồn: Báo cáo thống kê của cục thống kê tỉnh Thái Bình năm 2008
Năm 2008, số tàu thuyền cơ giới có 1.502 chiếc, tổng công suất 47.381 CV. Ngư dân đã tích
cực đầu tư đổi mới trang thiết bị, cải tiến lưới nghề, mở rộng ngư trường khai thác, nhất là
việc tham gia vùng đánh cá chung Việt Nam - Trung Quốc. Chính sách trợ giá dầu của Chính
phủ theo Quyết định số 289/QĐ-TTg, đã góp phần đưa sản lượng khai thác hải sản năm 2008
đạt 32.106 tấn, tăng 72,3% so với năm 2000. Thái Bình đã tập trung chuyển đổi chủ sở hữu
toàn bộ 38/38 tàu khai thác hải sản xa bờ theo Quyết định số 89/2003/QĐ-TTg ngày 8-5-2003
của Thủ tướng Chính phủ, và là một trong những tỉnh thực hiện nhanh nhất trong cả nước.
Quy mô, năng lực, số đơn vị chế biến tăng mạnh, hiện nay có 8 doanh nghiệp và 200 tổ hợp
tư nhân, hộ gia đình tham gia chế biến; có 4 làng nghề chế biến tập trung được UBND tỉnh
công nhận. Mặt hàng chế biến được đa dạng, quy trình công nghệ từng bước được nâng cao.
~ 5 ~
Vũ Thị Huyền_K54 KTC
Kinh tế các ngành sản xuất
Tỉnh có 59 cơ sở làm dịch vụ giống, thức ăn, thuốc thú y thủy sản phục vụ cho nhu cầu nuôi
trồng, trong đó có 3 trại sản xuất tôm giống, cua, cá vược, ngao, cá bớp Đặc biệt, Thái Bình
đã thực hiện tiếp nhận chuyển giao thành công công nghệ sản xuất giống tôm sú, cua xanh
góp phần chủ động một phần giống trong tỉnh.
Đến năm 2008, toàn tỉnh đã có 200 doanh nghiệp vận tải biển, với 140 tàu vận tải cỡ lớn;
trong đó đã có tàu 6.500 tấn, năng lực vận tải biển đạt 300.000 tấn phương tiện. Khối lượng
hàng hóa vận tải biển đạt 1.227 ngàn tấn, gấp 9,2 lần so với năm 2000. Do được đầu tư mở
rộng, nâng cấp, lượng hàng vận chuyển thông qua cảng Diêm Điền đạt 39.000 tấn, gấp 3,9 lần
so với năm 2000. Tỉnh hiện có 4 cơ sở sửa chữa, đóng tàu biển đang hoạt động, góp phần giải
quyết việc làm, tăng nguồn thu cho tỉnh, giảm chi phí cho các doanh nghiệp vận tải biển trong
việc sửa chữa, đóng mới.
Hệ thống giao thông đường bộ từ trung tâm tỉnh xuống 2 huyện Thái Thụy, Tiền Hải, đường
giao thông nông thôn đã và đang được đầu tư nâng cấp, mở rộng. Từ năm 2001 đến năm
2008, tỉnh đã xây dựng và nâng cấp 696,92 km đường, 56 cầu và 1 cảng biển, với tổng vốn
đầu tư 498,13 tỉ đồng, đường 39B, đường Vô Hối đi Diêm Điền và đường xuống bãi biển
Kinh tế các ngành sản xuất
ngao, 2 nghìn tấn sứa sơ chế và khoảng 1 tấn hải sản tươi sống khác với giá trị khoảng 5 triệu
- 6 triệu USD.
Thu nhập bình quân đầu người/năm ở một số xã ven biển ngày càng cao, điển hình như ở
Nam Thịnh là 20,3 triệu đồng, Nam Phú: 18,7 triệu đồng Tỷ lệ hộ nghèo giảm, số hộ khá,
giàu ngày càng tăng. Chất lượng cuộc sống của nhân dân có nhiều chuyển biến. Tỷ lệ dân
được dùng nước sạch ở hai huyện ven biển đã tăng lên 65,14% (năm 2008). Kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội phát triển nhanh. Hầu hết các xã đã xây dựng được trụ sở làm việc, trường
học, trạm y tế, bưu điện văn hóa xã, đường giao thông trong xã khang trang, sạch đẹp.
Bên cạnh những thành quả khởi đầu, quá trình khai thác, phát triển tiềm năng kinh tế
biển của Thái Bình cũng còn những hạn chế, khó khăn chủ yếu như:
Việc nuôi trồng thủy sản chưa tương xứng với tiềm năng, chưa thực sự bền vững
Với tiềm năng lớn như vậy nhưng Thái Bình vẫn chưa tận dụng hết được những thế mạnh của
mình trong việc nuôi trồng thủy sản. Phương thức nuôi chủ yếu vẫn là quảng canh cải tiến;
kiến thức về khoa học - kỹ thuật của phần lớn nông, ngư dân chưa theo kịp với yêu cầu của
sản xuất.Ở nhiều nơi sản xuất còn ở quy mô nhỏ lẻ, chủ yếu là các hộ gia đình (chưa có nhiều
trang trại).
Hạn chế trong nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân
dân.
Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong việc phát triển
kinh tế biển còn hạn chế, vẫn còn biểu hiện tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự bao cấp của Nhà
nước. Chưa phát huy được tính sáng tạo, dám nghĩ dám làm.
Khai thác thủy hải sản chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển
Khai thác hải sản chủ yếu là khai thác ven bờ, số phương tiện công suất nhỏ có xu hướng
tăng; dịch vụ hậu cần nghề cá chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; hệ thống giao thông chưa đáp
ứng được nhu cầu trong tình hình mới.
Phát triển tiềm năng du lịch biển còn gặp nhiều khó khăn, du lịch biển vẫn trong tình
trạng chậm phát triển
Các loại hình, tuor, tuyến, điểm du lịch chưa hình thành rõ nét, kết cấu hạ tầng vật chất kỹ
- Nước mặn chiếm khoảng 17km
2
chủ yếu dành cho hoạt động khai thác khoáng sản.
Tổng trữ lượng hải sản vùng ven biển Thái Bình khoảng 26.000 tấn. Trong đó trữ lượng cá
24.000 - 25.000 tấn, tôm 600 - 1.000 tấn, mực 700 - 800 tấn. Khả năng khai thác tối đa cho
phép 12.000 -13.000 tấn. Các loài khai thác chính là cá Trích, cá Đé, cá Khoai, cá Đối, cá
Vược các loài tôm: tôm Vàng, tôm Bộp, tôm He Hiện tại mới duy trì các hoạt động đánh
bắt nhỏ, khai thác tự nhiên, phần lớn là nguồn cung cấp nguyên liệu để chế biến các mặt hàng
truyền thống như nước mắm, mắm tôm và chế biến thức ăn thủy sản.
- Vùng nước lợ: Chủ yếu ở các khu vực cửa sông Hồng, sông Thái Bình và sông Trà Lý
có các nguồn phù du sinh vật, các loại tảo thực vật, thủy sinh phong phú làm thức ăn tự nhiên
cho nuôi trồng thủy sản. Vùng này có khoảng 20.705 ha (Tiền Hải 9.949 ha, Thái Thụy
10.756 ha), trong đó diện tích có khả năng phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ là 5.453 ha.
Hiện đã đưa vào khai thác 3.629 ha để nuôi trồng thủy sản: tôm, cua, sò, hến, trồng rau câu.
Bên cạnh đó Thái Bình còn có các cồn cát ven biển như: Cồn Vành, Cồn Thủ, Cồn Đen và
vùng đất ngập mặn rất thích hợp trồng tập trung cây sú vẹt, bần. Hiện tại có gần 5.000 ha rừng
vừa giữ đất, chắn sóng, vừa tạo môi trường sinh thái và cảnh quan thiên nhiên du lịch ven
biển.
- Vùng nước ngọt: Tổng diện tích có khả năng nuôi thủy sản là 9.256 ha, hiện mới đưa
vào nuôi khoảng 6.020 ha. Ngoài ra còn có trên 3.000 ha vùng lúa ruộng trũng cấy 1 vụ năng
suất thấp có thể chuyển sang nuôi thủy sản.
2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Lao động
Với dân 1.842.800 người với mật độ dân số 1.195 người/km² chiếm 86% là nông thôn, đã
đem lại cho tỉnh nguồn lao động dồi dào. Nhân dân với truyền thống cần cù lao động, chịu
thương chịu khó, tuy nhiên lao động trong lĩnh vực nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản chủ yếu
là lao động giản đơn, trình độ văn hóa thấp, chưa được tiếp cận với khoa học, công nghệ hiện
đại. Một bộ phận do thiếu vốn đầu tư, phương tiện kĩ thuật mà đã chuyển từ khai thác sang
nuôi trồng thủy sản, hay các ngành nghề khác.
- Khoa học công nghệ
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Đại hội lần thứ XVI của Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã xác định: “Đẩy mạnh khai thác kinh tế
biển, nhanh chóng phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn. Khuyến khích các thành phần
kinh tế đầu tư phát triển kinh tế biển, bao gồm cả nuôi trồng, đánh bắt, chế biến, dịch vụ, vận
tải và du lịch ”, coi phát triển kinh tế biển là một trong năm trọng tâm cần tập trung tạo bước
đột phá tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XVI của Đảng bộ tỉnh,
ngày 16-7-2001, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TU “Về phát
triển kinh tế biển”. Năm 2003, Tỉnh ủy đã giao cho Sở Thủy sản (nay là Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn) chủ trì phối hợp với Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy và các sở, ngành có liên
quan tiến hành kiểm tra việc lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện Nghị quyết tại 2 huyện Thái
Thụy, Tiền Hải, một số xã ven biển và một số sở, ngành của tỉnh. Đến tháng 11-2006, Ban
Thường vụ Tỉnh ủy đã tổ chức sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 02 “Về phát triển kinh tế
biển”; hiện, đang chỉ đạo tổng kết 8 năm thực hiện nghị quyết. Thông qua đó, phát huy những
mặt mạnh, kịp thời uốn nắn những khuyết điểm, tồn tại trong quá trình triển khai ở từng địa
phương, cơ sở.
Hai là, triển khai xây dựng quy hoạch tổng thể làm cơ sở cho các ngành, địa phương
xây dựng quy hoạch chi tiết; kịp thời ban hành cơ chế, chính sách thu hút các thành phần
kinh tế tham gia đầu tư phát triển kinh tế biển.
Thái Bình đã và đang tích cực triển khai xây dựng và thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế - xã hội huyện Thái Thụy, Tiền Hải đến năm 2020; quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế - xã hội vùng ven biển (gồm 30 xã ở hai huyện Thái Thụy, Tiền Hải); quy hoạch phát triển
du lịch dải ven biển Tiền Hải; quy hoạch khu du lịch Đồng Châu; quy hoạch khu du lịch sinh
thái Cồn Vành, Cồn Đen; quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản từ năm 2001 đến 2010; quy
hoạch tổng thể phát triển giao thông đến năm 2020, quy hoạch phát triển công nghiệp đến
~ 9 ~
Vũ Thị Huyền_K54 KTC
Kinh tế các ngành sản xuất
năm 2010 và 2020; quy hoạch phát triển thương mại đến năm 2010. Thực hiện Nghị quyết
Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X “Về chiến lược biển Việt Nam
quyền của 14 xã, thị trấn ven biển đạt trong sạch, vững mạnh, 90% số tổ chức đoàn thể có
phong trào hoạt động khá. Nhân dân đã cung cấp hàng nghìn nguồn tin có giá trị giúp cho các
lực lượng chức năng ngăn chặn, bắt giữ, phối hợp giải quyết kịp thời các vụ, việc tiêu cực liên
quan đến an ninh trật tự và hoạt động tôn giáo trên địa bàn. Phong trào quần chúng tham gia
tự quản địa bàn ngày càng được nhân rộng với nhiều mô hình, điển hình tiên tiến.
Các lực lượng công an, quân sự, biên phòng đã tích cực tham gia diễn tập, thực hiện phòng,
chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn trên sông, trên biển. Đã có 48 tàu khai thác hải sản tổ chức
hiệp đồng nối mạng thông tin với các đồn biên phòng nhằm bảo vệ cho ngư dân sản xuất và
kịp thời thông tin xử lý những tình huống trên biển. Các chương trình tăng gia sản xuất, cung
cấp nước sạch, quân dân y kết hợp được đẩy mạnh, vừa phục vụ tại chỗ cho bộ đội, vừa cải
thiện đời sống cho nhân dân.
~ 10 ~
Vũ Thị Huyền_K54 KTC
Kinh tế các ngành sản xuất
Phát huy truyền thống tương thân tương ái, uống nước nhớ nguồn, các đơn vị lực lượng vũ
trang đã vận động cán bộ, chiến sĩ đóng góp, trực tiếp tổ chức xây dựng nhà tình nghĩa, tặng
sổ tiết kiệm tình nghĩa, nhận phụng dưỡng các bà mẹ Việt Nam anh hùng, nhận đỡ đầu các
cháu học sinh các gia đình nghèo, tham gia xóa mù chữ cho các cháu và ngư dân tại Cồn
Vành.
Bốn là, gắn phát triển kinh tế với việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân
dân vùng biển.
Tỉnh đã chỉ đạo các huyện, thành phố, các ngành, đoàn thể, các đơn vị kinh tế ở tuyến sau
phát động mạnh mẽ phong trào hướng về nhân dân và chiến sĩ biên phòng bằng nhiều hoạt
động thiết thực, như tổ chức các đoàn đi thăm, tặng quà cán bộ, chiến sĩ, các đối tượng chính
sách và nhân dân trên địa bàn vào các dịp lễ, tết; nhận đỡ đầu, kết nghĩa với các đơn vị biên
phòng; xây dựng các công trình phòng thủ biên giới Kết quả của phong trào không chỉ góp
phần giải quyết khó khăn về vật chất, tinh thần cho nhân dân và cán bộ, chiến sĩ bộ đội biên
phòng, mà điều ý nghĩa hơn là đã động viên, cổ vũ nhân dân, cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm
gìn giữ biên cương Tổ quốc hoàn thành tốt nhiệm vụ.
~ 11 ~
Vũ Thị Huyền_K54 KTC
Kinh tế các ngành sản xuất
mạnh để hỗ trợ một cách tích cực, có hiệu quả cao cho ngư dân khi gặp nạn. Bảo đảm cho
mọi hoạt động của các lực lượng trên biển được an toàn, an ninh; phải xem đó là điều kiện
thiết yếu để đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển. Đồng thời hoạt động bảo
hiểm cho lĩnh vực kinh tế biển phải rất được coi trọng.
b) Các chính sách khuyến khích người dân ra biển làm kinh tế
Hỗ trợ cho loại chính sách này là các hoạt động:
- Tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng vùng biển, hải đảo. Có chính sách xây dựng
phương tiện nối đất liền với đảo, tạo đà cho sự phát triển nhanh. Xây dựng các khu kinh tế,
khu công nghiệp - đô thị mới, khu du lịch và tuyến du lịch biển được kết nối, hỗ trợ nhau phát
triển.
- Nghiên cứu các chính sách và tạo điều kiện thuận lợi để thu hút mạnh mẽ nhân dân ra làm
ăn, sinh sống lâu dài trên các đảo và lao động dài ngày trên biển, góp phần bảo vệ chủ quyền,
biển, đảo của quốc gia.
c) Tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển kinh tế biển
Mở rộng hợp tác quốc tế và tăng cường công tác ngoại giao để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên
biển và phát triển kinh tế biển và vùng ven biển trên các lĩnh vực: đầu tư phát triển công
nghiệp, điều tra và khai thác tài nguyên biển, đào tạo nguồn nhân lực, chia sẻ kinh nghiệm và
thông tin, nghiên cứu khoa học - công nghệ, dự báo và cảnh báo thiên tai, cứu hộ, cứu nạn,
bảo vệ an ninh trên biển Đặc biệt chú ý tăng cường hợp tác với các nước lân cận biển Đông
và những nước có tiềm lực kinh tế, khoa học công nghệ mạnh về biển.
d) Các chính sách liên quan đến đầu tư
Trong hoạt động đầu tư, cần tập trung đầu tư đủ mức, đồng bộ và dứt điểm để sớm đưa vào
hoạt động, phát huy cao nhất năng lực khai thác và đạt hiệu quả cao, đặc biệt là với các khu
công nghiệp, cảng biển, các cơ sở sản xuất.
Đồng thời, cần quán triệt sâu sắc quan điểm về xã hội hoá trong lĩnh vực đầu tư. Khuyến
khích mạnh mẽ các hình thức đầu tư phát triển kinh tế biển, kể cả các công trình thuộc kết cấu
sản, các doanh nghiệp chế biến, sản xuấ, sự quan tâm của cán bộ các cấp, những chính sách
khuyến khích của Đảng và nhà nước…
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì phát triển kinh tế biển ở Thái Bình vẫn
còn tồn tại những vấn đề sau: Việc nuôi trồng thủy sản chưa tương xứng với tiềm năng, chưa
~ 13 ~
Vũ Thị Huyền_K54 KTC
Kinh tế các ngành sản xuất
thực sự bền vững; hạn chế trong nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng
nhân dân; khai thác thủy hải sản chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển; phát triển tiềm năng
du lịch biển còn gặp nhiều khó khăn, du lịch biển vẫn trong tình trạng chậm phát triển
Vì vậy trong thời gian tới cần có sự quan tâm hơn nữa của nhà nước và mọi thành phần kinh
tế vào phát triển kinh tế biển của tỉnh. Từ đó góp phần hoàn thành mục tiêu phát triển bền
vững kinh tế biển, bảo vệ môi trường sinh thái và đưa kinh tế biển dần trở thành một trong
những ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
Với đề tài nghiên cứu này, em mong sẽ góp phần nhỏ vào quá trình phát triển kinh tế
biển của tỉnh nói riêng và của đất nước nói chung trong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa.
3.2. Kiến nghị
- Đối với Đảng và nhà nước
Cần có những chính sách trợ giúp, khuyến khích ngư dân vùng biển mạnh dạn đầu tư hơn nữa
vào phát triển kinh tế biển. Đảm bảo thị trường tiêu thụ cho một số bà con nông dân gặp khó
khăn trong nuôi trồng. Hỗ trợ vốn, giống, kĩ thuật cho một số địa phương gặp khó khăn.
- Đối với chính quyền địa phương
Cần quan tâm hơn nữa đến ngư dân vùng biển, tạo điều kiện cho người dân nuôi trồng, đánh
bắt thủy hải sản cũng như phát triển du lịch biển. Giúp các ngư dân trong việc vay vốn hỗ trợ
sản xuất kinh doanh. Tuyên truyền động viên bà con nhân dân tích cực tham gia sản xuất, lao
động sáng tạo.
- Đối với bà con nông dân
Tích cực hơn nữa trong nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản cũng như phát triển du lịch biển.
Phát triển kinh tế biển gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái. Khai thác thủy hải sản đi đôi