ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
BÀI TẬP NHÓM
BỘ MÔN:
Kế hoạch hóa phát triển kinh tế- xã hội
Đề tài: “Phát triển ngành công nghiệp ở Hà Tĩnh”
Sinh viên thực hiện:
Giáo viên hướng dẫn:
1. Đậu Thị Sương
K46C_KHĐT
2. Hoàng Thị Phương
K46C_KHĐT
3. Nguyễn Thị Trà Linh
K46B_KHĐT
4. Lê Hữu Vinh
K46B_KHĐT
5. Trương Văn Trung
Để phát huy hết các nguồn lực, lợi thế và vận hội mới, việc hình thành và phát
triển các ngành công nghiệp trên địa bàn là một trong nhưng phương hướng cơ
bản và điều kiện để thực hiện chủ trương CNH-HĐH, đảm bảo cho phát triển công
nghiệp một cách chủ động có kế hoạch, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững,
tạo điều kiện để thu hút nguồn vốn đầu tư thuận lợi nhất, giải quyết việc làm cho
lao động địa phương, nâng cao thu nhập cải thiện đời sống của người dân nhất là
các khu vực lân cận các khu công nghiệp của tỉnh. Hiện nay tỉnh Hà Tĩnh đang
trên đà phát triển khu công nghiệp lớn Vũng Áng. Tuy thời gian qua ngành công
nghiệp cũng gặt hái được những thành quả nhưng vẫn còn nhiều hạn chế tồn tại
làm cản trợ thu hút vốn đầu tư và phát triển các ngành công nghiệp, tiềm ẩn nguy
cơ mất ổn định vì phát triển nhanh thì sẽ dẫn tới những hậu quả về ô nhiễm môi
trường, xã hội cho tỉnh Hà Tĩnh.
Xuất phát từ tầm quan trọng của ngành công nghiệp của tỉnh hà Tĩnh từ nay tới
năm 2020 nên chúng em chọn vần đề: “Phát triển ngành công nghiệp ở Hà Tĩnh”
Mục tiêu nghiên cứu:
-
Đánh giá thực trạng của tỉnh Hà Tĩnh những năm gần đây về mọi mặt sau
đó rút ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của tỉnh.
-
Nghiên cứu nguyên nhân của những khó khăn tồn tại của ngành công
nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
-
Đề xuất những giải pháp phát triển ngành công nghiệp của tỉnh Hà Tĩnh
đễn năm 2020.
tích đất tự nhiên của tỉnh, chủ yếu tập trung ở các huyện Hương Sơn, Hương Khê,
Vũ Quang và phía Tây huyện Kỳ Anh. Diện tích sử dụng cho nông nghiệp chỉ
chiếm khoảng 10% diện tích của tiểu vùng.Vùng này có địa hình núi cao, rừng
rậm, suối dốc. Tiêu biểu là các đỉnh núi như: Giang Màn, Đông Cốc, Rèo Pheo,
vv. Thảm thực vật chủ yếu là rừng già nguyên sinh và rừng tái sinh. Đặc biệt có
khu bảo tồn rừng Quốc gia Vũ Quang, Kẻ Gỗ, có độ che phủ tự nhiên cao và có
nhiều loại sinh vật quý hiếm đang đươcc bảo vệ.
1.1.3. Khí hậu
5
Khí hậu nhiệt đới gió mùa của Hà Tĩnh có đặc trưng là thời tiết khắc nghiệt và
cực đoan trong suốt cả năm. Những hiện tượng thời tiết bất lợi bao gồm mưa kéo
dài, bão, lũ lụt, những đợt lạnh và gió Lào khô nóng thổi từ phía Tây Nam. Hà
Tĩnh dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai tái diễn và mối đe dọa lâu dài của biến đổi khí
hậu.
1.1.4. Đất đai, tài nguyên đất đai và sử dụng
Hà Tĩnh có tổng diện tích là 5.997,18 km2, với 3 loại địa hình đặc trưng — khu
vực miền núi, vùng đồng bằng và đồng bằng ven biển. Phần lớn đất đai của tỉnh là
địa hình đồi núi và đất đai phần lớn là đất cằn, bạc màu. Những đặc điểm thổ
nhưởng đặc trưng này là thách thức lớn đối với việc phát triển đất đai và nông
nghiệp.
1.1.5. Trữ lượng khoáng sản
Hà Tĩnh giàu trữ lượng khoáng sản, bao gồm mỏ quặng sắt lớn nhất Việt Nam,
chiếm 45% trữ lượng quặng sắt quốc gia. Mỏ quặng sắt Thạch Khê có trữ lượng
544 triệu tấn, trong đó có 369,9 triệu tấn được xem là có thể khai thác đựoc khi sử
dụng công nghệ hiện nay
1.1.6. Tài nguyên Rừng
Tỷ lệ che phủ rừng của Hà Tĩnh hiện nay là 52,8%, bao gồm cả rừng tự nhiên
Lực lượng lao động Hà Tĩnh năm 2010 có 659.762 người (trong tổng số
709.874 người trong độ tuổi lao động), chiếm khoảng 54% tổng dân số. Mặc dù
lực lượng lao động chỉ tăng trưởng bình quân hàng năm là 1,1% từ năm 2001 đến
năm 2010 (có giảm nhẹ từ năm 2008), số người tham gia lực lượng lao động vẫn
tăng mạnh hơn tốc độ gia tăng dân số của tỉnh trong cùng thời kỳ. Cơ cấu kinh tế
hiện nay tập trung vào nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản (Hình 25). Đây là
ngành có năng suất thấp và sử dụng đến 64% lực lượng lao động, so với mức 52%
của cả nƣớc. Tuy nhiên, kinh tế Hà Tĩnh đang dần đa dạng hóa và lao động đang
dần chuyển dịch từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp hoặc dịch vụ.
Từ năm 2000, lực lượng lao động tham gia trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ
sản giảm, với mức thay đổi bình quân năm là -1,1%, trong khi đó, số lao động
tham gia vào lĩnh vực công nghiệp- xây dựng
2.
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA
TỈNH HÀ TĨNH
2.1.
Thực trạng phát triển kinh tế
2.1.1. Các chỉ số phát triển kinh tế vĩ mô cơ bản:
Hà Tĩnh đã đạt được hầu hết các mục tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 20012010. Tốc độ tăng trưởng đạt cao hơn bình quân cả nước, đồng thời tỉnh cũng
thành công trong việc bắt đầu đa dạng hóa nền kinh tế, giảm dần tỷ trọng nông
7
nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp. Tỉnh đã đạt nhiều chỉ tiêu đề ra. Tuy nhiên, nền
kinh tế vẫn còn tụt hậu so với cả nước nói chung. Cụ thể là:
- Tỉnh có tốc độ tăng trưởng GDP 9,4%2, cao hơn nhiều trung bình cả nước là
7,07% và mục tiêu đặt ra trong Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 là
8%.
để đạt được kết quả kinh tế cao hơn nữa trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế xã hội 2011–2020.
2.1.2. Trồng trọt, chăn nuôi,lâm nghiệp, ngư nghiệp, nuôi trồng thủy
sản và kinh tế nông thôn
Hà Tĩnh đã có những tiến bước tiến đáng kể trong khu vực nông, lâm, ngư
nghiệp. Theo giá cố định, GDP khu vực này tăng 4,2% trong giai đoạn 2001–2005,
từ 1.746 tỷ đồng năm 2000 lên 4.035 tỷ đồng năm 2005 và 0,2% giai đoạn 2006–
2010, đạt giá trị 5.356 tỷ đồng. Điều này cho thấy năng suất của khu vực đã tăng
trong thập niên qua.
Giá trị sản lượng trồng trọt tăng lên 4.690 tỷ đồng vào năm 2010, tốc độ tăng
trưởng trung bình hàng năm đạt 1,8% trong giai đoạn này. Diện tích trồng trọt của
Hà Tĩnh có nhiều thay đổi trong giai đoạn này, tăng từ 185.924 ha năm 2000 lên
190.234 ha năm 2005 và lại giảm xuống 184.318 ha năm 2010. Tuy nhiên, giá trị
năng suất trung bình đã tăng lên, từ 5,85 triệu đồng/ha năm 2000 lên 7,03 triệu
đồng/ha năm 2010.
2.1.3. Công nghiệp và Xây dựng
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2005-2010
và các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, các Chương trình hành động của
UBND tỉnh, 5 năm qua nhiều chính sách phát triển ngành được ban hành, các quy
hoạch phát triển công nghiệp, thương mại - dịch vụ được triển khai thực hiện một
cách quyết tâm, vì vậy hoạt động công nghiệp và xây dựng đã có những bước phát
triển đáng kể. Công nghiệp và xây dựng tăng nhanh trong giai đoạn 2001–2010.
Tốc độ tăng trưởng GDP công nghiệp bình quân hàng năm đạt trên 14%, giá trị
sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 18,7%. Theo giá cố định, tỉ trọng
công nghiệp và xây dựng trong GDP của Hà Tĩnh đã tăng từ 457,720 tỷ đồng năm
2000 lên 1.569,188 tỷ đồng năm 2005 tức 28%/năm, và tiếp tục tăng lên 5.333 tỷ
9
10
Cùng những thành tựu kinh tế trong giai đoạn 2001–2010, Hà Tĩnh đã đạt
được hầu hết các mục tiêu xã hội đề ra. Nhìn chung, tỉnh đã có bước tiến đáng kể
trong giảm nghèo, giáo dục, chăm sóc sức khỏe. Những thành tích trên có được là
nhờ đã bảo vệ và duy trì được 1 môi trường trong lành và hạn chế ô nhiễm từ phát
triển công nghiệp. Từ năm 2000 đến 2010, dân số Hà Tĩnh giảm từ 1,27 triệu
xuống còn 1,23 triệu người. Cũng trong thời gian này, tỉnh có tốc độ đô thị hóa
hàng năm là 4,3%. Năm 2001, 10% diện tích tỉnh là thành thị, 90% là nông thôn.
Đến năm 2010, diện tích thành thị chiếm 15% và nông thôn chiếm 85%. Hà Tĩnh
đạt và vượt rất nhiều chỉ tiêu xã hội đề ra trong giai đoạn này, cụ thể là:
-
Tạo 61.275 việc làm mới (so với mục tiêu 20.000-25.000).
Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề đạt 32% (so với mục tiêu 25%).
Giảm đáng kể tỷ lệ hộ nghèo: từ 38,6 năm 2006 xuống 12,7% năm 2010
(26,1% theo chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2011-2015). Đây là tỷ lệ cao nhất cả
khu vực Bắc Trung Bộ, 1 phần do thiệt hại từ lũ lụt cuối năm 2010. Mục tiêu đặt ra
ban đầu là xóa được nghèo.
Tỷ lệ nhập học bậc tiểu học (100% so với mục tiêu), trung học cơ sở
(100%), trung học phổ thông (73,1% so với mục tiêu 90%) đều tăng trong giai
đoạn này, với 100% phường xã có trường tiểu học
Tỷ lệ xã, phường có bác sỹ đạt 65,3% (so với mục tiêu 100%), trong khi tỷ
lệ bác sĩ đạt 5,4 / nghìn người năm 2010 so với mức 3,4 người năm 2000
Tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong giảm còn 5,8/100.000 trẻ đẻ sống, tỷ lệ trẻ dƣới 5
tuổi tử vong giảm từ 42/1000 xuống còn 9/1000 (mục tiêu là 15/1000); tỷ lệ trẻ
suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi giảm xuống còn 19,1%; 96,1% trẻ em dưới 1 tuổi
lượng hành khách ít. Chỉ có một số tàu chạy nối các tỉnh trong khu vực dừng tại ga
Yên Trung của huyện Đức Thọ, đặc biệt trong các kỳ nghỉ lễ.
2.3.2. Thuỷ lợi và cấp nước
Thuỷ lợi
Hệ thống thuỷ lợi của Hà Tĩnh bao gồm một loạt các hồ chứa, đập, trạm
bơm, kênh rạch rất quan trọng cho việc cung cấp nguồn nước ổn định và dễ tiếp
cận với các cộng đồng nông nghiệp. Hệ thống thủy lợi hiện nay chủ yếu được sử
dụng để cung cấp nước cho mục đích nông nghiệp và chống lũ lụt. Về sức chứa
nước, tỉnh đã xây dựng 345 hồ chứa thủy lợi với sức chứa trên 762,6 triệu m3
nước. Tỉnh đang xây dựng và nâng cấp thêm 49 hồ chứa, đưa công suất nước của
Hà Tĩnh tiếp tục tăng. 57 đập của Hà Tĩnh điều tiết lưu lượng nước với tốc độ 17
m3/giây. Hệ thống 32 đê với tổng chiều dài 318,7 km giúp ngăn chặn lũ lụt trong
tỉnh. Thêm vào đó, 381 trạm bơm điện với tổng lưu lượng 117 m3/giây được thiết
kế để hỗ trợ tưới tiêu 50.000 ha lúa đông xuân và 39.500 ha lúa hè thu. Hà Tĩnh dự
kiến xây dựng 19 trạm bơm bổ sung để hỗ trợ thêm 17.800 ha đất tưới tiêu. Mạng
lưới kênh rạch của tỉnh có chiều dài 8.284 km và đưa nước cho các khu vực nông
12
nghiệp, công nghiệp, khu dân cư và hỗ trợ các hoạt động khác của thành phố. Tuy
nhiên, chỉ có 32,5% kênh rạch được kiên cố hóa dẫn đến làm giảm hiệu quả thủy
lợi trong tỉnh. Ngoài ra tỉnh có 12 kênh dẫn nước lớn giúp ngăn ngừa nước mặn ở
các vùng ven biển.
2.3.3. Điện và năng lượng
Năm 2010, 99,53% hộ gia đình của Hà Tĩnh được sử dụng điện lưới quốc
gia, so với 99,3% năm 2009. Chỉ số này cũng cao hơn các tỉnh láng giềng (Hình
17). Chỉ số này của cả nước là 97,6% năm 2010. Tất cả các xã, khu, thị trấn của
Hà Tĩnh đều được hòa lưới điện quốc gia. 250 tổ chức quản lý điện nông thôn trên
Nẵng. Tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi để phục vụ Lào và Đông Bắc Thái Lan, với
cửa khẩu Cầu Treo giúp Hà Tĩnh tiếp cận trực tiếp Trung Lào. Hà Tĩnh nằm ở vị
trí có khoảng cách tốt giữa các trung tâm kinh tế lớn của Việt Nam– Hà Nội và Đà
Nẵng, chỉ cách chưa đầy 400km và có thể tiếp cận bằng các chuyến bay từ sân bay
tại khu vực, bằng đường bộ hoặc bằng đƣờng sắt.
Trữ lượng khoáng sản lớn, đặc biệt là quặng sắt:
Nguồn tài nguyên khoáng sản giàu có là một tiềm năng thế mạnh quan trọng
của tỉnh: Mỏ sắt Thạch Khê với trữ lượng 544 triệu tấn, ngoài ra tỉnh còn có nhiều
khoáng sản khác như vàng, thiếc và than đá. Hà Tĩnh có cơ hội khai thác lợi thế
này và phát triển hoạt động chế biến dựa trên nguồn tài nguyên
Quỹ đất còn tương đối lớn cho phát triển: Giá đất ở Hà Tĩnh tương đương
giá đất ở khu vực và cạnh tranh so với các trung tâm công nghiệp và đô thị trọng
điểm tại Việt Nam. Tỉnh còn đủ đất phi nông nghiệp và đất có liên quan cho phát
triển.
-
Tỉ lệ che phủ rừng lớn, thuận lợi cho phát triển đa dạng sinh thái và chế
biến gỗ: Diện tích che phủ rừng của Hà Tĩnh tăng từ 34% năm 1998 lên 52,8% vào
năm 2010 và trữ lượng rừng tự nhiên lớn, có nhiều loại cây có thể khai thác gỗ
hoặc góp phần vào sự đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường của tỉnh.
Tài nguyên biển và nước dồi dào: Đường bờ biển dài 137km cùng các diện
tích nước ngọt trong nội địa và nước lợ ven biển của Hà Tĩnh đang được khai thác
để nuôi trồng và đánh bắt cá. Hà Tĩnh cũng là một tỉnh có cảng biển nước sâu gần
với các tuyến đường vận tải tàu thủy lớn có thể cập cảng dễ dàng hơn so với cảng
Hải Phòng. Điều kiện địa lý của tỉnh cho phép Hà Tĩnh có khả năng trung chuyển
các tàu lớn lên tới 300.000 DWT.
Hạ tầng viễn thông tốt: cơ sở hạ tầng viễn thông Hà Tĩnh, đặc biệt là kết
nối điện thoại di động có chất lượng tốt. Nếu phát huy được thế mạnh này, Hà
14
Nguồn lực ngân sách còn hạn chế: Với tình trạng phát triển hiện tại, kinh tế
Hà Tĩnh hiện không thể có nguồn thu ngân sách đủ để đáp ứng nhu cầu đầu tư của
tỉnh. Tỉnh phụ thuộc nhiều vào Chính phủ Trung ương và các nguồn kinh phí khác
(doanh nghiệp, ODA). Đây là nguy cơ và thách thức phải được quản lý trong
tương lai.
15
-
Thiếu lao động có tay nghề cao, tình trạng người có năng lực đi làm việc ở
nơi khác: Mặc dù giáo dục phổ thông có chất lượng tốt, tỉnh lại thiếu nhân viên kỹ
thuật lành nghề, cũng như sinh viên tốt nghiệp đại học. Nếu không có đầu tư vào
đào tạo, đây sẽ là một hạn chế trong tương lai của tỉnh. Thực trạng này càng khó
giải quyết hơn do sự di cư thường xuyên diễn ra của người có tài ra khỏi Hà Tĩnh.
Hệ thống y tế chuyên khoa chất lượng kém: Mặc dù Hà Tĩnh có thành tựu
tốt trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ ban đầu, nhưng tỉnh vẫn chưa có cơ sở vật
chất và năng lực tối ưu để cung cấp dịch vụ y tế chuyên khoa
Khó khăn với quặng sắt Thạch Khê: Quặng sắt Thạch Khê chứa 7% kẽm
không thể chế biến thành công với công nghệ lò đốt tiêu chuẩn. Quặng sắt này cần
có công nghệ đặc biệt để chế biến thành thép. Ngoài ra, 1 khối lượng lớn quặng
nằm sâu dưới đất và 1 phần trong đó không thể tiếp cận với công nghệ hiện tại.
Ngay cả với lượng quặng tiếp cận được thì tỉnh cũng gặp những thách thức về kỹ
thuật trong khai thác.
3.3.
Cơ hội
Biến vị trí chiến lược thành lợi thế: Hà Tĩnh có thể biến vị trí địa lý chiến
lược thành lợi thế bằng cách tăng thêm thị phần của mình trong quan hệ xuyên
biên giới với Lào và đông Thái Lan nhờ xúc tiến thương mại, đẩy mạnh giao thông
Thách thức
Khả năng chống chịu còn hạn chế với thời tiết, khí hậu và bảo vệ môi
trường: Hà Tĩnh thường bị tác động nghiêm trọng do các điều kiện khí hậu cực
đoan, trong đó có bão lũ, và trong trung hạn đến dài hạn dễ bị tổn thương do biến
đổi khí hậu.
Thách thức lớn về kỹ thuật làm ảnh hưởng việc khai thác mỏ sắt Thạch
Khê
-
Cạnh tranh thu hút vốn ngày càng gay gắt với các tỉnh xung quanh
Rào cản pháp lý và các vấn đề khác còn tồn tại làm giảm đầu tư nước
ngoài
4.
XÂY DỰNG CÂY VẤN ĐỀ
Lao động có tay nghề thấp
Chất lượng nguồn
nhân lực còn hạn
chế
17
Tỉnh chưa có chiến lược cụ thể trong
việc xây dựng, phát triển và sử dụng
nguồn nhân lực
chất lượng quản lý của cán bộ còn
Khai thác chưa hiệu
quả nguồn tài
nguyên thiên nhiên
Tài nguyên biển và nước dồi dào
nhưng chưa khai thác hiệu quả
Công nghệ khai thác còn lạc hậu
Nâng cao tay nghề
5. XÂY DỰNG CÂY MỤC TIÊU
Nâng cao chất
lượng nguồn nhân
lực
18
Tỉnh cần có chiến lược cụ thể
trong việc xây dựng, phát triển
và sử dụng nguồn nhân lực
Nâng cao chất lượng cán bộ quản
lí
Phát triển cơ sở hạ tầng
Phát
triển
công
Tăng cường khai thác và sử dụng
có hiệu quả nguồn tài nguyên biển
và nước
Nâng cao chất lượng công nghệp
trong việc khai thác nguồn tài
nguyên
6.1.
MỤC TIÊU
CHỈ TIÊU
CHỈ SỐ
Phát triển công nghiệ Năm 2020 tỉ trọng ngành Giá trị sản xuất ngành
phát triển
công nghiệp chiếm 50% công nghiệp
trong cơ cấu nghành
19
Giai đoạn 2014-2020 tăng Tốc độ tăng trưởng
trưởng bình quân ngành bình quân của ngành
công nghiệp đạt 30%/năm.
công nghiệp
Nâng cao chất lượng Năm 2020 100% người lao Số lao động đã qua đào
nguồn nhân lực
động đã qua đào tạo
tạo
Năm 2020 tăng số dự án đầu Số dự án đầu tư
tư kên 200 dự án
MỤC TIÊU
Nâng cao tay nghề
Nâng cao chất lượng
cán bộ quản lí
CHỈ TIÊU
CHỈ SỐ
Năm 2020 , mở thêm 5
Số trường dạy nghề
trường dạy nghề cho người
của tỉnh
lao động
Giai đoạn 2015-2020, 100% Số cán bộ quản lý có
cán bộ quản lý phải có bằng bằng đại học hoặc trên
đại học hoặc trên đại học
đại học
20
Tỉnh cần có chiến
lược cụ thể trong việc
xây dựng, phát triển
và sử dụng nguồn
nhân lực
Năm 2020, tỉnh xây dựng
Số chiến lược về việc
được 3 chiến lược về việc
khai thác và sử dụng
Giai đoạn 2015 -2020, vốn
ngân sách nhà nước đầu tư
vào tỉnh tăng 50% so với
giai đoạn 2010-2014
Đến năm 2020, 100% các
huyện phải có cơ sở hạ tầng
tốt
Giai đoạn 2015-2020, giảm
thiểu tác động từ thiên tai
xuống 50% so với giai đoạn
2010-2014
Số vốn ngân sách Nhà
nước cấp cho tỉnh
Số huyện có cơ sở hạ
tầng đạt chất lượng tốt
Số tài sản bị tàn phá do
thiên tai
Đến năm 2020, áp dụng
100% các máy móc công Số máy móc công nghệ
nghệ hiện đại vào khai thác hiện đại được áp dụng
tài nguyên
Năm 2020, hiệu quả khai
thác nguồn tài nguyên biển
và nước đạt 85% so với năm
trước
Sản lượng tài nguyên
biển và nước đã khai
chuyển biến tích cực: cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Văn hóa xã hội đạt được nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân khong
ngừng được nâng cao, an ninh – quốc phòng và trật tự an toàn xã hội được giữ
vững.
Tuy nhiên so với nhiều địa phương thì kinh tế hà tĩnh còn nhiều yếu kém,
đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn.Moi trường đầu tư còn nhiều hạn chế.
Trên địa bàn Hà Tĩnh chưa có một cơ sở cong nghiệp nào của trung ương để
làm đòn bẩy cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. vì vậy việc “tập trung mọi
22
nguồn lực để tạo đột phá về phát triển công nghiệp” là rất cần thiết hiện nay đối
với Hà Tĩnh.
Là một tỉnh có nền kinh tế kém phát triển, sự đầu tư của trung ương còn hạn
hẹp, Hà Tĩnh không thể cùng một lúc đầu tư phát triển công nghiệp trên địa bàn.
Do đó, Hà Tĩnh phải tạo đột phá trong phát triển ở những khâu, những nghành
có tính quyết định, trước hết là phải đột phá trong tư duy phát triển kinh tế,
trong đóa có tư duy về phát triển công nghiệp. phải coi công nghiệp và làm cho
công nghiệp đóng vai trò quyết định trong việc đưa Hà Tĩnh thoát nghèo, vươn
lên giàu mạnh. Đồng thời phải lựa chọn những dự án mang tính đột phá, những
nghành phát huy được thế mạnh của địa phương về các nguồn lực tài nguyên
thiên nhiên, lao động, khoa học và công nghệ, nguồn vốn cho phát triển công
nghiệp. đó là những nghành góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đó là
những nghành tạo khả năng liên kết kinh tế trong phạm vi vùng, quốc gia và
quốc tế.
Cùng với việc lựa chọn nghành công nghiệp có tính đột phá, cần quan tâm
khai thác , mở rộng các cơ sở công nghiệp hiện có nhất là những nghành công
nghiệp chế biến nông-lâm-thủy sản, sản xuất vật lệu xây dựng.
Tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng Hà Tĩnh đang hé mở nhiều tiềm năng to