Chứng minh: Định hình động lực là hình thức thích nghi cao nhất của não bộ. Ứng dụng vào trong quá trinh chăm sóc trẻ mầm non potx - Pdf 15

MỤC LỤC
Phần 1: Cở sở lý luận của hệ thầnkinh 3
1.1. Nơron – Cấu tạo và chức năng 3
1.1.1.Cấu tạo của Nơron 3
1.1.2 Chức năng cơ bản của Nơron 5
1.2 Cấu tạo và chức năng của hệ thần kinh 5
1.2.1. Tủy sống và chức năng của tủy sống 6
1.2.1.1. Cấu trúc của tủy sống 6
1.2.1.2. Chức năng của tủy sống 7
1.2.2. Cấu trúc và chức năng của não 9
1.2.2.1 Cấu trúc của não 9
1.2.2.2. Chức năng của các khu vực chính của não 10
1.3. Cấu tạo và chức phận hệ thần kinh trẻ em 14
1.3.1. Cấu tạo 14
1.3.2. chức phận 15
- Phản ứng vở não có xu hướng lan tỏa. Do các tế bào thần kinh chưa biệt hóa nên bất kỳ kích thích
nào cùng đề gây ra phản ứng 15
1.4. Hoạt động phản xạ của hệ thần kinh 15
1.4.1. Định nghĩa phản xạ 15
1.4.2. Phản xạ không điều kiện (PXKĐK) 15
1.4.3. Các phản xạ có điều kiện (PXCĐK) 16
1.4.3.1. Đặc điểm của phản xạ có điều kiện 16
1.4.3.2. Điều kiện thành lập phản xạ có điều kiện 17
1.4.3.4. Cơ chế thành lập phản xạ có điều kiện 17
1.4.3.5. Phân loại phản xạ có điều kiện 20
1.4.3.6. Ý nghĩa và vai trò của phản xạ có điều kiện 21
1.5. Các quy luật của hoạt động thần kinh cao cấp 23
1.5 1. Quy luật chuyển từ hưng phấn sang ức chế 23
1.5.3. Quy luật lan tỏa và tập trung 24
1.5.4. Qui luật cảm ứng qua lại 25
1.5.5. Quy luật hoạt động có tính hệ thống 25

Phần 2: Định hình động lực- hình thức thích nghi cao cấp của não bộ. Trong đó
chúng tôi đi sâu nghiên cứu về định hình động lực mọi phương diện.
Trong quá trình nghiên cứu có rất nhiều thiếu sót kính mong giáo viên hướng dẫn
đóng góp ý kiến để bài đạt kết quả tốt nhất.
Xin chân thành cảm ơn!
A. NỘI DUNG.
2
Phần 1: Cơ sở lý luận của hệ thần kinh.
1.1. Nơron – Cấu tạo và chức năng.
Như chúng ta biết rằng Nơron chính là đơn vị cấu trúc và chức năng của hệ thần
kinh. Đây là tế bào tương đối chuyên biệt của cơ thể. Sau thời kỳ phát triển sau phôi thai
kết thúc, các Nơron ngừng phân chia và tồn tại ở gia đoạn liên phân bào trong suốt cuộc
đời. Trong giai đoạn này , kích thước của các Nơron cũng như các rễ và các điểm tiếp
xúc của Nơron tăng lên, nhưng số lượng của chúng không tăng. Nơron làm nhiệm vụ
tiếp nhận, xử lý, tang trữ và chuyển giao thông tin. Trong suốt cuộc đời người, số lượng
các nơron không những không tăng mà còn giảm dần theo tuổi. Từ 70 tuổi trở đi, mỗi
năm não người mất đi khoảng 1,4% tổng số nơron Điều này nói lên một điều rằng, một
cấu tạo luôn thay đổi về mặt số lượng sẽ không đảm nhiệm được các chức năng chứa
đựng thông tin mang tính chất di truyền và tập nhiễm.
1.1.1. Cấu tạo của Nơron.
Hình 1: Sơ đồ cấu tạo của tế bào thần kinh
3
Có rất nhiều loại nơron với hình dạng, kích thước khác nhau, nhưng chúng đều
có cấu tạo gồm một thân bào và các rễ.
Thân bào có màng, chất tế bào, nhân, ti thể, bộ máy golgi và các thể niss. (Thể
niss là tổ hợp mạng lưới nội chất có hạt). Thân tế bào là tập hợp nguyên sinh chất bao
quanh nhân.
Trong đó màng của tế bào là một cấu trúc đặc biệt có tính thấm đặc biệt với các
loại ion khác nhau, do các tấm photpholipit tạo thành và độ dày trung bình 90-
10oAo. Màng Nơron thực hiện chức năng tiếp nhận các chất dinh dưỡng và đào thải

các sợi thần kinh có đường kính nhỏ.
- các sợi không có bao Miêlin dẫn truyền liên tục theo kiểu “cuốn chiếu”,
còn các sợi có bao Mieelin thì dẫn truyền nhảy cóc từ eo này sang eo khác vì vậy tốc độ
dẫn truyền lớn hơn sợi không có Mieelin. Trong mọt có sợi thần kinh, xung động được
dẫn truyền riêng lẻ trong từng sợi. Sự dẫn truyền xung động qua xinap được thực hiện
bởi các chất môi giới hóa học.
1.2 Cấu tạo và chức năng của hệ thần kinh.
Hệ thần kinh của người bao gồm phần ngoại biên và phần trung ương.
Phần ngoại biên do các sợi thần kinh và các hạch thần kinh tạo thành. Các sợi
thần kinh tập hợp với nhau để tạo thành các dây thần kinh. Các dây thần kinh thường
được phân ra nhiều loại khác nhau:
Dựa vào chức năng ta chia thành ba loại:
+ Dây thần kinh hướng tâm ( dây thần kinh cảm giác): chuyên dẫn truyền xung
động thần kinh từ cơ quan cảm thụ về trung ương thần kinh
+ Dây thần kinh ly tâm ( dây thần kinh vận động) chuyên dẫn truyền các xung
động thần kinh từ trung khu thần kinh đến cơ quan thực hành. Cụ thể là tới các cơ.
5
+ Dây thần kinh pha làm nhiệm vụ liên hệ giữa các phần khác nhau của hệ thần
kinh và giữa hệ thần kinh với các cơ quan cảm thụ.
Dựa vào Bộ phận tạo ra chi thành hai loại: dây thần kinh sợ não và các dây thần
kinh tủy sống.
Phần trung ương của hệ thần kinh bao gồm não bộ và tủy sống.
1.2.1. Tủy sống và chức năng của tủy sống.
1.2.1.1. Cấu trúc của tủy sống
Ở người lớn tủy sống là một ống chất trắng, bóng và dài 45cm và có đường kính
là 2cm. Nó nằm trong ống tủy sống, đi qua từng lỗ tủy của mỗi đốt sống và được bao
bọc gần như hết chiều dài của nó .Các dây thần kinh tủy sống mang xung động đến tủy
sống và ra khỏi nó qua các lỗ nhỏ tạo nên bởi đốt sống xếp cạnh nhau. Kiểu cấu trúc
này vẫn mang dấu tích của hệ thần kinh phân đốt. Điều này thể hiện rất rõ trong quá
trình phát triển phôi, nhưng ngày càng mờ nhạt khi hệ thần kinh càng phát triển. Toàn

giản được thực hiện ở mức độ tủy sống, trong khi đó “ các quyết định” phức tạp hơn
được đưa đến não. Các phản ứng đơn giản nhất mang tính chất nhanh và tự động được
gọi là các phản xạ. Tủy sống là trung tâm của phản xạ không tự ý, phụ trách phối hợp co
cơ giữa tất cả các cơ của thân, cổ và chi. Ngoài ra tủy sống còn là trung tâm thần kinh
thực vật, chi phối hoạt động của một số cơ quan bên trong như tuần hoàn, tiêu hóa…
Các phản xạ chính của tủy sống:
- Phản xạ gân:
Ví dụ: quen thuộc của hoạt động phản xạ là phản xạ đầu gối hay phản xạ duỗi
xuất hiện khi gõ nhẹ vào gân đầu gối phía dưới xương bánh chè. Các cơ quan cảm giác
cho phản xạ này là các thoi cơ nằm trong cơ tứ đầu đùi. Các thoi cơ này có chứa những
thần kinh cảm giác nối với các bó nhỏ của các sợi cơ tứ đầu đùi và kích thích các thoi cơ
tạo ra một luồng xung động cảm giác chạy về tủy sống. Ở đây các nơron cảm giác tiếp
xúc xynap trực tiếp với các nơron vận động tương ứng, do đó sau một khoảng thời gian
ngắn, cơ tứ đầu đùi co lại tạo phản xạ đầu gối đặc trưng. Do cung phản xạ này chỉ liên
7
quan tới một vài xynap của tủy sống nên các phản xạ duỗi được coi là phản xạ đơn
xynap.
Tầm quan trọng của các phản xạ duỗi là các cơ của cơ thể điều chỉnh một cách tự động
theo sức nặng đặt lên chúng.
Ví dụ: Một người nhảy từ trên cao xuống mặt đất không bị ngã dúi dụi là nhờ
phản xạ duỗi tạo ra một sức căng cần thiết cho các cơ vùng chân. Các phản xạ duỗi
cũng giữa một vai trò quan trọng trong điều hòa hoạt động của cơ thể duy trì trương lực
cơ.
- Dạng thứ hai của phản xạ tủy sống là phản xạ gấp.
Ví dụ: Như khi người ta dẫm phải một cái đinh. Cung phản xạ này thường có liên
quan với một hay nhiều nơron trung gian, do đó có thể có một số xynap ở tủy sống tham
gia. Các phản xạ gấp được gọi là các phản xạ đa xynap. Nhìn chung, khi bất cứ khu vực
nào của chân hay tay bị kích thích đau thì toàn bộ chân tay đều co lại một cách nhanh
chóng. Các phản xạ loại này rõ ràng là có chức năng bảo vệ.
Mặc dù cung phản xạ có thể là một chuỗi các tế bào riêng lẻ, nhưng không nên cho

hơn.
Ở não động vật có vú không thấy kiểu cấu trúc đơn giản như trên bởi vì não trước
lớn hơn rất nhiều để hình thành hai bán cầu đại não. Các cấu trúc này có lớp chất xám
bề mặt phát triển mạnh gọi là vỏ não. Lớp vỏ này chứa hàng triệu tế bào thần kinh, kết
quả của sự di cư ra ngoài từ phần trung tâm của ống thần kinh. Thân các tế bào còn lại
nằm sâu trong não, tại đó chúng tập trung lại thành nhóm gọi là nhân hay hạch. Mỗi
nhân lại hoạt động như như một trạm chuyển tiếp, tập trung từ các nguồn khác nhau và
gửi xung động tới một số khu vực mới. Giữa vỏ não và các nhân ở sâu có các bó chất
trắng mang xung động từ điểm này tới điểm khác.
1.2.2.2. Chức năng của các khu vực chính của não
• Vỏ não
Đây là vùng rộng lớn nhất của động vật có vú, nó chứa 90 % nơron có mặt trong
toàn bộ hệ thần kinh. Não lại được phân chia ra để tạo thành hai bán cầu đại não nối với
nhau bởi thể chai – một bó chất trắng lớn. Bề mặt của bán cầu đại não được gấp rất
nhiều lần, điều đó cho phép thân của các tế bào thần kinh nằm gần mặt não có thể trao
đổi chất với dịch não tủy. Nếp gấp lên của vỏ đại não được gọi là hồi não (gyri), nếp gấp
xuống rộng hơn được gọi là khe não (sulci). Ở một vài chỗ sâu chia các bán cầu đại não
thành của tiểu thùy riêng biệt.
Một vài khu vực của não có chức năng nhất định. Vùng vỏ não vận động sơ cấp nằm
ngay trước rãnh trung tâm, nó chứa những tế bào có chức năng điều khiển mọi hoạt
động vận động. Những tế bào này được sắp xếp theo một trật tự nhất định, do đó chúng
tạo nên “bản đồ” các cơ của cơ thể trên bề mặt não. Kích thích điện ở bất kỳ điểm nào
cùng gây nên vận động của phần cơ thể tương ứng. Vì lý do nào đó cho đến nay người
ta chưa biết các bó thần kinh vận động từ vỏ não thường đi đến phía bên kia của cơ thể
qua tủy sống. Có nghĩa là phía bên trái của não điều khiển của vận động tùy ý phía bên
phải cơ thể và ngược lại.
10
Ngay phía sau rãnh trung tâm là vỏ não cảm giác sơ cấp nơi các xung động cảm
giác hướng tâm từ phía đối bên truyền đến và nó cũng tạo thành “bản đồ” tương tự như
trên. Kích thích điện các vùng này sẽ tạo cảm giác đau ở các vùng cơ thể tương ứng. Các

hoocmon và nhiều chất khác nữa gọi là yếu tố giải phóng. Các chất này tác động lên
tuyến yên làm cho tuyến này tiết nhiều hoocmon tương ứng.
- Vùng dưới đồi là trung khu điều hòa chính của nội môi. Nó tham gia vào điều
hòa cân bằng áp lực thẩm thấu của các dịch lỏng trong cơ thể , điều hòa thân nhiệt. Nó
chứa các trung khu điều hòa cảm giác đói và khát.
- Do liên quan đến các vùng khác của bộ não mà vùng dưới đồi giúp cho việc
điều hòa hệ thần kinh thực vật. Nó điều khiển rất nhiều hoạt động tùy ý như tiết mồ hôi,
co mạch, nhịp tim, giãn đồng tử và run.
● Não giữa
Ở các động vật có xương sống bậc thấp, não giữa thường có chứa thùy thị giác, đó
là trung tâm xử lý của tín hiệu thị giác. Ở động vật có vú chức năng này được chuyển
cho bán cầu đại não, do đó não giữa hoạt động chủ yếu như trạm trung chuyển thồng tin
thị giác.
● Tiểu não
Tiểu não bao gồm hai bán cầu nằm ở phía lưng của não sau. Nó có chức năng điều
hòa thăng bằng và điều hòa trương lực cơ trong những hoạt động chủ động và động tác
đứng. Ở động vật có vú, chúng có lớp vỏ rất phát triển chứa nhều tế bào Purkinje, mỗi
tế bào tạo thành khoảng 100.000 xynap với các nơron khác. Các đường đến tiểu não
xuất phát từ các bộ phận của tai trong có lên quan đến thăng bằng, từ các thoi cơ trong
các cơ của cơ thể , và từ các phần khác của não. Những cử động tùy ý xuất phát từ bán
cầu đại não, nhưng tiểu não tham gia tạo ra một chương trình hoạt động chi tiết cho việc
thực hiện của cử động này. Nó đồng thời cũng điều hòa hoạt động của các nhóm cơ
khác, do đó cơ thể luôn giữa trạng thái thăng bằng. Các đường dẫn truyền từ tiểu não đi
đến các nơron vận động qua các bó đi xuống tủy sống .
12
● Hành não
Hành não tạo thành khu vực chuyển tiếp giữa não và tủy sống. Nó chứa những
trung khu thần kinh chính điều hòa hoạt động thở và huyết áp.
Ngoài hệ thần kinh động vật còn có hệ thần kinh thực vật. Hệ thần kinh thực vật
điều hòa rất nhều hoạt động không ý thức của cơ thể.

Trong chín năm đầu trọng lượng của não tăng lên đáng kể.
Ví dụ như: Trẻ 6 tháng tuổi trọng lượng não tăng gấp đôi lúc mới sinh, 3 tuổi tăng
gấp 3 và khi trẻ lên 9 tuổi thì trọng lượng của năng trung bình là 1300g.
Đến tuổi dậy thì thì trọng lượng của não hầu như không thay đổi.
Lớp trong của não bộ phát triển chậm hơn so với lớp vỏ ngoài. Não của trẻ em có
100 tỉ tế bào và vở não cũng có 6 lớp nhưng các tế bào thần kinh chưa được biệt hóa
hoàn toàn. Các sợi thần kinh chưa myelin hóa đầy đủ, hệ thống mao mạch của não phát
triển mạnh và trong não có chứ nhiều nước.
● Tiểu não.
Tiểu não tuy phát triển muộn nhưng phát triển rất nhanh. Khi trẻ mới sinh ra tiểu
não chưa phát triển: các rãnh chưa sau, khối lượng còn nhỏ nhưng khi trẻ lên hai tuổi thì
tiểu não đã phát triển gần giống người lớn.
● Hành tủy và não giữa.
Ở trẻ , khối lượng và kích thước của tủy sống biến đổi theo chiều cao của trẻ. Trẻ
sơ sinh tủy sống năng 2-6 g, sau một tuổi năng gấp đôi, 5 tuổi năng gấp 3…. Đồng thời
chiều dài của tủy sống cũng thay đổi theo chiều dài của thân thể.
Ở trẻ em nước não tủy có khoảng 60ml ( ở người lớn là 100ml).
● Thần kinh thực vật.
Trong những năm đầu đời , hai phần giao cảm và phó giao cẩm của trẻ phát triển
không đồng đều. Hệ thần kinh giao cảm có tác dụng ưu thế trong những năm đầu đời
cho đến 7 tuổi còn phó giao cảm có tác dụng khi trẻ lên 3 tháng.
14
1.3.2. chức phận.
- Phản ứng vở não có xu hướng lan tỏa. Do các tế bào thần kinh chưa biệt hóa nên
bất kỳ kích thích nào cùng đề gây ra phản ứng.
Ví dụ: Kích thích vào da của đứa trẻ thì nó co cả tay cả chân.
- Khả năng hưng phấn của vở não còn yếu, chóng mệt mỏi. Đặc biệt ở trẻ so sinh
khi có kích thích ngoại cảnh quá mức dẫn đến tình trạng ức chế bảo vệ của vỡ não. Vì
thế mà trẻ ngủ suốt ngày.
- Lúc đầu võ não chưa phát triển nên hoạt động của trẻ do cac trung tâm dưới vỏ

ánh sáng chỉ có tác dụng khi chiếu vào mắt….
- Không cần phải có sự tham gia của vỏ bán cầu đại não. Phản xạ không điều
kiện có trung tâm là phần dưới của vỏ bán cầu đại não.
Ví dụ: phản xạ điều hòa hoạt động tim, mạc có trung tâm ở hành tủy, phản xạ đầu
gối có trung tâm ở tủy sống…
- Hạn chế về mặt số lượng. Mỗi loài động vật và người có số lượng phản xạ
không điều kiện đặc trưng tương ứng với hoạt động của một nhóm cơ quan thụ cảm
nhất định, đồng thời các phản xạ đó không thay đổi theo điều kiện sống. Do đó cơ thể
không có khả năng thích nghi với môi trường luôn thay đổi. Vì vậy để phản ứng phù
hợp với sự thay đổi của môi trường, giúp cơ thể thích nghi và tồn tại cơ thể cần phải
có nhiều phản xạ có điều kiện mới được thành lập, số lượng phản xạ này nhiều hơn
phản xạ không điều kiện rất nhiều.
1.4.3. Các phản xạ có điều kiện (PXCĐK)
1.4.3.1. Đặc điểm của phản xạ có điều kiện
- Mang tính tập nhiễm, cá thể và không di truyền. Mỗi cá thể có các phản xạ có
điều kiện khác nhau.
16
Ví dụ: phản xạ tập thể dục vào buổi sáng hay trước khi đi ngủ.
- Không ổn định. PXCĐK thường không bền vững rất dễ mất đi nếu không được
thường xuyên củng cố
- Không có vùng cảm thụ riêng biệt. Bất kỳ kích thích nào có cường độ và thời
gian kéo dài tối ưu tác động lên một vùng thụ cảm nào đó đều có thể tạo ra được phản
xạ có điều kiện.
- Không hạn chế về mặt số lượng. Mỗi cá thể thành lập phản xạ có điều kiện cho
bản thân khác nhau, nên số lượng phản xạ thay đổi ở mỗi cá thể.
- Bộ phận trung ương là vỏ bán cầu đại não.
1.4.3.2. Điều kiện thành lập phản xạ có điều kiện
Để thành lập được PXCĐK cần đảm bảo các điều kiện sau:
- Phải dựa trên cơ sở một PXKĐK hoặc một PXCĐK khác đã được củng cố vững
chắc

Hưng phấn từ hai điểm sẽ lan toả ra xung quanh theo quy luật lan toả hưng phấn và
quy luật cảm ứng. Sau khi sóng hưng phấn của hai điểm giao nhau thì điểm ưu thế có
khả năng thu hút sóng hưng phấn yếu hơn về phía mình, dần dần tạo thành một “đường
18
mòn” làm cho hưng phấn có thể từ điểm hưng phấn này lan sang điểm kia, và khi đó chỉ
cần bật đèn gây hưng phấn ở trung khu thị giác, hưng phấn lập tức theo đường mòn chạy
sang điểm đại diện của phản xạ ăn uống, gây phản ứng tiết nước bọt.
Như vậy, sự hình thành PXCĐK là kết quả hình thành đường liên lạc tạm thời
giữa đường liên lạc chức năng, không phải là đường liên lạc qua một dây thần kinh cụ
thể, cho nên không ổn định, dễ dàng mất đi hoặc được thay bằng một đường mới khi
điều kiện sống thay đổi. Nhờ tính chất đặc biệt này mà các phản ứng của cơ thể đối
với môi trường trở nên mềm dẻo và linh hoạt hơn.
+ Thuyết nhớ (cơ chế phân tử của sự thành lập PXCĐK). Trong PXCĐK,
đường liên hệ thần kinh tạm thời không phải là một dây thần kinh cụ thể mà chỉ là
một đường liên hệ thần kinh tạm thời, nên khi phối hợp nhiều lần 2 loại kích thích,
dẫn tới sự tổng hợp một chất môi giới thần kinh mới và chất tiếp nhận mới, đó là một
loại protein mới. Việc tổng hợp protein mới này thông qua các hoạt động của gen và
mARN. Đó chính là cơ sở phân tử của sự thành lập PXCĐK và cơ chế nhớ. Dấu ấn
của trí nhớ (hay còn gọi là Engram) đã được ghi trong các phân tử mARN.
Người ta đã kiểm chứng quá trình trên bằng nhiều thí nghiệm khác nhau. Chẳng
hạn, người ta cho đỉa phiến A vào chậu nước, sau đó ta bật ánh sáng đèn rồi cho điện
giật, đỉa phiến co rúm lại. Ta lặp lại như trên với 150 lần, kết quả sau 150 lần ta bật
đèn không cho điện giật đỉa phiến vẫn co, PXCĐK đã được thành lập. Sau đó, ta
nghiền đỉa A đó, đem cho đỉa phiến B ăn. Kết quả, chỉ sau 40 lần bật đèn và điện giật,
đỉa phiến B đã co rúm lại. Các tác giả đã cho rằng, đỉa phiến B ăn thịt đỉa phiến A đã
tiếp nhận được các phân tử mARN của đỉa A có khả năng tổng hợp prootein tiếp nhận
hình thành nhanh mối liên hệ “proteein tiếp nhận - chất môi giới”. Do đó PXCĐK
được thành lập nhanh gấp 4 lần. Nói cách khác engram hay dấu ấn của trí nhớ đã
được ghi trong các phân tử mARN.
Hiện nay các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục nghiên cứu để hiểu đầy đủ hơn về cơ

quan bên ngoài có thể (gây những cảm giác: nghe, nhìn, ngửi, nóng lạnh…)
+ PXCĐK cảm thụ trong: do các kích thích tác động lên các nội quan như:
huyết áp, áp lực trong bàng quang…
Ngoài ra, người ta còn dựa vào khoảng cách về mặt thời gian, phân biệt các loại
PXCĐK như: Phản xạ có điều kiện trùng hợp là phản ứng xuất hiện khi tác nhân củng
cố có sau tín hiệu 0,5 - 1 giây; Phản xạ có điều kiện bình thường nếu khoảng cách về
mặt thời gian giữa 2 kích thích từ 10 - 30 giây; Phản xạ có điều kiện muộn được hình
thành khi khoảng cách về mặt thời gian giữa các tín hiệu và tác nhân cũng cố không
điều kiện bằng 1-5 phút ; Phản xạ lưu dấu vết, là phản ứng xuất hiện sau khi dừng
kích thích có điều kiện khoảng 10 -20 giây. Nếu khoảng cách giữa thời điểm dừng
kích thích có điều kiện với thời điểm xuất hiện tác nhân củng cố không điều kiện
bằng 1-2 phút thì ta có phản xạ có điều kiện lưu dấu vết dài.
Các phản xạ có điều kiện cấp cao được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa các
kích thích dửng dưng với 1 phản xạ không điều kiện hay 1 phản xạ có điều kiện có
sẵn. Phản xạ có điều kiện cấp cao ở người xảy ra dễ dàng, xây dựng trên cơ sở hình
thành các đường liên hệ thần kinh tạm thời thông qua ngôn ngữ. Đó là cách giảng bài,
nghe giảng, thi cử cũng như thực hiện các công việc khác theo mệnh lệnh qua lời nói
hay chữ viết.
Các phản xạ có điều kiện cấp cao đảm bảo khả năng thông tin sớm cho cơ thể về
các hoạt động sắp xảy ra. Nhờ vậy mà các phản ứng thích nghi được hình thành, triển
khai nhanh chóng và đầy đủ với các kích thích tổng hợp có thể tác động lên nhiều cơ
quan phân tích khác nhau cùng một lúc.
1.4.3.6. Ý nghĩa và vai trò của phản xạ có điều kiện.
Nhờ có PXCĐK mới được thành lập, giúp cơ thể thích ứng được với hoàn cảnh
luôn thay đổi, giúp con người hình thành được kỹ năng, kỹ xảo.
Đặc biệt PXCĐK có vai trò to lớn trong đời sống, xản xuất:
21
- Thích nghi với môi trường:
Cơ thể động vật, đặc biệt là các loài động vật cao cấp chỉ có thể tồn tại phát triển
và hoạt động khi nào giữ được thăng bằng với môi trường sống.

Quá trình chuyển từ hưng phấn sang ức chế phát triển dần dần qua các pha khác
nhau. Đặc điểm cơ bản để đánh giá các pha chuyển tiếp là mối tương quan giữa cường
độ của phản ứng trả lời và cường độ kích thích có điều kiện. Trong trạng thái bình
thường kích thích càng mạnh thì phản ứng xuất hiện trong các tế bào thần kinh càng lớn.
Đối với các tế bào đang trong trạng thái chuyển sang ức chế môi tương quan này thay
đổi. Quá trình chuyển từ hưng phấn sang ức chế có 5 pha :
-Pha san bằng : Các kích thích có cường độ khác nhau (mạnh, yếu) đều gây ra
phản ứng giống nhau.
-Pha trái ngược: là giai đoạn tiếp theo của quá trình chuyển từ hưng phấn sang úc
chế. Pha trái ngược là mối tương quan về mặt cường độ của kích thích với cường độ của
phản ứng không còn như bình thường nữa.
-Pha ức chế
-Pha cực kỳ trái ngược: có đặc điểm là phản ứng đối với các kích thích dương tinh
và âm tính đổi chỗ cho nhau
-Pha ức chế hoàn toàn: có đặc điểm là não hoàn toàn không có phản ứng đối với
bất kỳ một loại kích thích nào.
Ví dụ : Tiếng ru nhè nhẹ, kéo dài của bà, của mẹ làm cho cháu bé ngủ dần.
Thầy giáo giảng bài đều đều làm cho học sinh dễ buồn ngủ.
Quy luật này có ý nghĩa bảo vệ rất lớn đối với các tổ chức thần kinh ở vỏ não.
23
1.5 2.Quy luật tương quan giữa cường độ kích thích và cường độ
phản xạ
Trong một phản xạ có điều kiện, kích thích có cường độ càng mạnh thì cường độ
phản xạ càng lớn.
Nếu kích thích quá yếu (dưới ngưỡng) hoặc quá mạnh (trên ngưỡng) thì khi kích
thích càng tăng phản xạ sẽ càng giảm vì xuất hiện ức chế vượt giới hạn. Phản xạ có điều
kiện chỉ hình hành đưuọc khi kích thích cso điều kiện yêu hơn ( tạo ra ổ hưng phấn trên
vở não nhỏ hơn) so với tác nhan cũng cố khong điều kiện.
Bản thân cường độ khác nhau của các kích thích có điều kiện cũng ảnh hưởng tới
quá trình hình thành phận có điều kiện. Nhưng quy luật này chỉ mang tính tương đối vì

- Khi trạng thái hoạt động của trung tâm bị kích thích yếu thì kích thích vào sẽ
gây lan tỏa.
- Nếu trạng thái hoạt động của trung tâm ấy mạnh thì kích thích vào sẽ gây nên
hiện tượng cảm ứng.
1.5.5. Quy luật hoạt động có tính hệ thống
Trong những điều kiện tự nhiên của đời sống, các kích thích không tồn tại một
cách riêng rẽ. Chúng tạo thành một tổ hợp kích thích đồng thời hoặc nối tiếp.
Hoạt động tổng hợp của vỏ não cho phép hợp nhất những kích thích riêng lẽ hay
những phản ứng riêng lẽ thành một tổ hợp hoàn chỉnh, hay thành những hệ thống gọi là
tính hệ thống trong hoạt động của vỏ não.
Để làm được điều đó đòi hỏi não bộ thực hiện chức năng phân tích và tổng hợp
các kích thích lên cơ thể. Các quá trình đối lập nhau như hưng phấn và ức chế, phân tích
và tổng hợp trên thực tế liên quan mật thiết với nhau. Chúng không thể hoạt động riêng
lẻ. Chúng kết hợp với nhau thành một hệ thống chức năng nhất định tác động lên cơ thể.
Việc tổ chức các hệ thống chức năng về mặt tế bào trên vỏ não là một số hình thức thích
nghi cao cấp.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status