SỰ CHỦ ĐỘNG, NHẠY BÉN, SÁNG TẠO CỦA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG QUÁ
TRÌNH LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH GIÀNH
CHÍNH QUYỀN (1930 – 1945) (phần I)
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là một minh
chứng tuyệt vời cho bản lĩnh và trí tuệ của Đảng
Cộng sản Việt Nam
Phần 1
Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời,
đánh dấu bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam,
chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước, về
giai cấp lãnh đạo cách mạng, về phương pháp và tổ
chức lực lượng đấu tranh cách mạng.
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã xác
định: đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là
làm “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách
mạng để đi tới xã hội cộng sản”; giai cấp lãnh đạo
cách mạng Việt Nam là giai cấp vô sản; về lực lượng
cách mạng, Đảng chủ trương tập hợp đại bộ phận công
nhân, nông dân và phải dựa vào hạng dân cày nghèo,
lôi kéo các tầng lớp tư sản, tiểu tư sản dân tộc, trí thức,
trung, tiểu địa chủ…vào phe của giai cấp vô sản; cách
mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế
giới, phải gắn bó với các dân tộc bị áp bức và giai cấp
vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với
đường lối đúng đắn, phù hợp đã thúc đẩy phong trào
cách mạng phát triển mạnh mẽ chưa từng có. Sự phát
triển của cao trào cách mạng 1930 -1931 mà đỉnh cao
là XôViêt – Nghệ Tĩnh đã chứng tỏ năng lực cách
mạng của quần chúng và vai trò lãnh đạo của giai cấp
Đông Dương nêu rõ những yêu cầu chung trước mắt
của đông đảo quần chúng lúc này là:Đòi các quyền tự
do tổ chức, xuất bản, ngôn luận, đi lại trong nước và
ra nước ngoài;Bỏ những luật hình đặc biệt đối với
người bản xứ, trả tự do cho tù chính trị, bỏ ngay chính
sách đàn áp, giải tán Hội đồng đề hình;Bỏ thuế thân,
thuế ngụ cư và các thứ thuế vô lý khác;Bỏ các độc
quyền về rượu, thuốc phiện và muối.Chương trình
hành động của Đảng còn đề ra những yêu cầu cụ thể
riêng cho từng giai cấp và các tầng lớp nhân dân, vạch
rõ phải ra sức tuyên truyền và mở rộng ảnh hưởng của
Đảng trong quần chúng, củng cố và phát triển các đoàn
thể cách mạng, nhất là công hội, nông hội; dẫn dắt
quần chúng đấu tranh cho những quyền lợi hàng ngày,
tiến lên đấu tranh chính trị, chuẩn bị cho Tổng khởi
nghĩa giành chính quyền khi có điều kiện.
Như vậy, chủ trương nói trên của Đảng là hoàn
toàn phù hợp với tình hình cách mạng lúc bấy giờ.
Trong điều kiện bị thực dân Pháp đàn áp, khủng bố, thì
việc lãnh đạo quần chúng đấu tranh đòi các quyền lợi
hàng ngày là cần thiết để tạo điều kiện khôi phục tổ
chức Đảng, gây dựng lại phong trào.
Bước sang giai đoạn 1936 – 1939, tình hình thế
giới và trong nước có nhiều biến động. Nguy cơ chiến
tranh phatxit tới gần, đe dọa nghiêm trọng hòa bình và
an ninh thế giới. Sau khủng hoảng kinh tế, thực dân
Pháp tăng cường chính sách đàn áp, bóc lột nhân dân,
nhằm tiêu diệt phong trào cách mạng Đông Dương.
Trước tình hình đó, Đảng ta đã nhanh chóng có những
chủ trương mới. Hội nghị BCHTW họp tháng 7/1936
chính trị, tư tưởng, thể hiện bản lĩnh và tinh thần độc
lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng, chuẩn bị điều kiện tiến
lên giành những thắng lợi lớn hơn về sau.
Còn tiếp
SỰ CHỦ ĐỘNG, NHẠY BÉN, SÁNG TẠO CỦA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG QUÁ
TRÌNH LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH GIÀNH
CHÍNH QUYỀN (1930 – 1945) (Phần 2)
Ngày 1/9/1939, phatxit Đức tấn công Ba-Lan, sau
đó tuyên chiến với Anh và Pháp, chiến tranh thế
giới thứ hai bùng nổ. Đế quốc Pháp lao vào cuộc
chiến. Chính phủ Pháp thi hành các biện pháp để
đàn áp lực lượng dân chủ trong nước và phong trào
cách mạng thuộc địa.
2. Giai đoạn 1939 – 1945
Ngày 1/9/1939, phatxit Đức tấn công Ba-Lan, sau
đó tuyên chiến với Anh và Pháp, chiến tranh thế giới
thứ hai bùng nổ. Đế quốc Pháp lao vào cuộc chiến.
Chính phủ Pháp thi hành các biện pháp để đàn áp lực
lượng dân chủ trong nước và phong trào cách mạng
thuộc địa.
Do sớm dự báo được tình hình, nên Đảng ta
không bị bất ngờ về cuộc chiến tranh này. Trong thông
báo khẩn cấp ngày 10/3/1938, Nghị quyết BCHTW
ngày 29/3/1938 và Tuyên ngôn Đảng Cộng sản Đông
Dương với thời cuộc ngày 29/3/1938 đã chỉ rõ, chiến
tranh sẽ nổ ra, cần tập trung mũi nhọn chống bọn
phatxit gây chiến.
Ngay sau khi chiến tranh nổ ra, TƯ Đảng gửi
thông cáo cho các cấp bộ Đảng, vạch rõ cách mạng
(Cao Bằng). Hội nghị sáng suốt nhận định: chiến tranh
thế giới đang lan rộng, phatxit Đức đang chuẩn bị tấn
công Liên Xô và chiến tranh ở khu vực Thái Bình
Dương sẽ bùng nổ. Chiến tranh sẽ làm cho các nước
đế quốc suy yếu; Liên Xô nhất định thắng và phong
trào cách mạng thế giới sẽ phát triển nhanh chóng,
cách mạng nhiều nước sẽ thành công và một loạt các
nước XHCN sẽ ra đời.
Trên cơ sở phân tích thái độ chính trị của các giai
cấp, tầng lớp, Hội nghị nêu rõ ở nước ta, mâu thuẫn
chủ yếu đòi hỏi phải được giải quyết cấp bách là mâu
thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc phatxit Pháp –
Nhật. Cần phải thay đổi chiến lược. Trước sự thay đổi
về kinh tế, chính trị Đông Dương, sự thay đổi thái độ,
lực lượng các giai cấp Đông Dương, Đảng ta đã thay
đổi chính sách cách mạng ở Đông Dương cho phù hợp
với nguyện vọng chung của toàn thể nhân dân Đông
Dương…” Cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại
không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc
cách mạng giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa
nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ giải quyết một vấn đề
cần kíp “dân tộc giải phóng”, vậy thì, cuộc cách mạng
Đông Dương trong giai đoạn hiện nay là một cuộc
cách mạng dân tộc giải phóng”. Hội nghị chỉ rõ, trong
lúc này, “nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc
giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn
thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc
còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ
phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.
Vì vậy, Hội nghị tiếp tục đặt nhiệm vụ giải phóng
Ngay đêm đó, Ban Thường vụ Trung ương họp
hội nghị mở rộng tại Đình Bảng (Từ Sơn - Bắc Ninh).
Ngày 12/9/1945, Đảng ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn
nhau và hành động của chúng ta”.
Chỉ thị nhận định cuộc đảo chính của Nhật lật đổ
Pháp để độc chiếm Đông Dương đã tạo ra một cuộc
khủng hoảng chính trị sâu sắc, nhưng điều kiện khởi
nghĩa chưa thực sự chín muồi. Tuy vậy, hiện đang có
những cơ hội tốt làm cho những điều kiện tổng khởi
nghĩa nhanh chóng chín muồi.
Chỉ thị xác định: Phát xít Nhật là kẻ thù chính, kẻ
thù cụ thể trước mắt duy nhất của nhân dân Đông
Dương. Vì vậy, phải thay khẩu hiệu "đánh đuổi phát
xít Nhật - Pháp" bằng khẩu hiệu "đánh đuổi phát xít
Nhật".
Chỉ thị chủ trương: phát động một cao trào kháng
Nhật, cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc Tổng
khởi nghĩa. Mọi hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ
chức và đấu tranh lúc này phải thay đổi cho thích hợp
với thời kỳ tiền khởi nghĩa như tuyên truyền xung
phong, biểu tình tuần hành, bãi công chính trị, biểu
tình phá kho thóc của Nhật để giải quyết nạn đói, đẩy
mạnh xây dựng các đội tự vệ cứu quốc,
Chỉ thị nêu rõ phương châm đấu tranh lúc này là
phát động chiến tranh du kích, giải phóng từng vùng,
mở rộng căn cứ địa.
Chỉ thị dự kiến những điều kiện thuận lợi để thực
hiện tổng khởi nghĩa như khi quân Đồng minh kéo vào
Đông Dương đánh Nhật, quân Nhật kéo ra mặt trận
ngăn cản quân Đồng minh để phía sau sơ hở. Cũng có
nhận định đây là cơ hội tốt cho nhân dân ta đứng lên
giành chính quyền và quyết định phát động Tổng khởi
nghĩa, giành chính quyền từ tay phatxit Nhật trước khi
quân Đồng minh tiến vào nước ta.
Ngày 16/8/1945, Quốc dân Đại hội khai mạc, tán
thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng và Mười
chính sách lớn của Việt Minh, quyết định thành lập Ủy
ban giải phóng dân tộc, thông qua Quốc kỳ, Quốc ca,
Quốc huy của đất nước, thảo luận, bổ sung và thông
qua một số chính sách cần phải thực hiện ngay sau khi
Tổng khởi nghĩa thắng lợi. Hội nghị thông qua mệnh
lệnh Tổng khởi nghĩa.
Ngay sau Hội nghị, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi:
“Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến, toàn
quốc đồng bào hãy đứng dậy, đem sức ta mà tự giải
phóng cho ta!”
Với chủ trương, đường lối và phương hướng chỉ
đạo của Đảng, Tổng khởi nghĩa thành công nhanh
chóng, thắng lợi hoàn toàn triệt để, ít tổn thất cho cách
mạng. Chỉ trong vòng 15 ngày, Tổng khởi nghĩa lần
lượt thành công trên khắp các địa phương trong cả
nước.
Chủ trương đẩy mạnh cao trào kháng Nhật cứu
nước và Tổng khởi nghĩa tháng Tám giành chính
quyền trên phạm vi cả nước là vô cùng kịp thời, chính
xác và nhanh chóng.
Sự kịp thời, nhanh chóng, chính xác của Đảng ta
thể hiện ở việc nhận định tình hình, đánh giá tình hình
khi Nhật đảo chính Pháp đề đưa ra hướng chỉ đạo đúng
đắn. Sự chỉ đạo của Đảng ta trong thời kỳ đấu tranh