LUẬN văn thạc sĩ - TƯ TƯỞNG của lê NIN về QUẢN lý xã hội xã hội CHỦ NGHĨA và sự vận DỤNG của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM - Pdf 38

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1

3
TƯ TƯỞNG V.I.LÊNIN VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1.1. Tiền đề lý luận và cơ sở thực tiễn hình thành, phát triển

12

tư tưởng V.I.Lênin về quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa
1.2. Nội dung tư tưởng cơ bản của V.I.Lênin về quản lý xã

12

hội xã hội chủ nghĩa
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VẬN DỤNG TƯ

21

Chương 2

TƯỞNG V.I.LÊNIN VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA HIỆN NAY
2.1. Quá trình nhận thức, vận dụng tư tưởng V.I.Lênin về

50


hợp, điều hành một cách nhịp nhàng. Để đất nước ổn định, phát triển người
ta đã phải tính đến sự lựa chọn mô hình và phương thức vận hành sao cho
hợp lý, muốn thế cần có những cảnh báo và cần có những điều tiết xã hội,
điều chỉnh luật pháp, thể chế, chú trọng sự ổn định, sự cân bằng, sự giao
thoa giữa những lĩnh vực, những lực lượng trong xã hội. Chức năng của
quản lý xã hội là thực hiện các nhiệm vụ đó.
Mỗi chế độ chính trị - xã hội khác nhau, quản lý xã hội có trình độ,
phương thức, hình thức, mục đích quản lý khác nhau. Sự khác nhau về
phương thức, trình độ quản lý xã hội do trình độ phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội và mục đích quản lý mà giai cấp cầm quyền quyết định. Chủ nghĩa xã
hội ngay từ khi ra đời, với bản chất ưu việt của nó đã xác định quản lý là
một nhiệm vụ quan trọng, chủ yếu và thường xuyên. Theo quan điểm chủ
nghĩa Mác – Lênin, cơ sở vật chất – kỹ thuật của xã hội xã hội chủ nghĩa là
nền sản xuất công nghiệp hiện đại, chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa bị xóa bỏ,
3


chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu được thiết lập, tạo ra cách tổ
chức lao động và kỷ luật lao động mới, thực hiện nguyên tắc phân phối theo
lao động - nguyên tắc phân phối cơ bản nhất, thực hiện công bằng, bình
đẳng, tiến bộ xã hội, tạo những điều kiện cơ bản để con người phát triển
toàn... Để xây dựng một xã hội tốt đẹp, tiến bộ, văn minh nói trên đòi hỏi
càng phải quản lý tốt mọi mặt, mọi khâu của quá trình phát triển, để phát
triển xã hội, giải phóng sức lao động, giải phóng con người, làm cho con
người có cuộc sống tốt hơn.
V.I.Lênin - lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản, trực tiếp lãnh đạo
cách mạng Nga, đã có những cống hiến to lớn cả ở phương diện lý luận và
thực tiễn về quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa. Ngay trước và trong những
năm đầu tiên sau thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga
vĩ đại, V.I.Lênin đã nhận rõ vai trò quản lý xã hội, những khó khăn, thách

– Lênin về quản lý xã hội, tác giả đã tập trung phân tích cơ cấu, những nhân tố
tác động, đặc điểm tính hệ thống, chủ thể của quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa.
Viện sỹ A.M.Ru-Mi-an-txép (chủ biên), Chủ nghĩa cộng sản khoa học –
Từ điển [59], trong đó, tác giả đã đề cập đến khái niệm quản lý xã hội một cách
khoa học, bản chất, nhiệm vụ, chủ thể quản lý xã hội trong xã hội chủ nghĩa.
Cuốn sách Quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa một cách khoa học, do Viện
Thông tin khoa học xã hội dịch và xuất bản [68], đã nêu lên những luận điểm
của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về quản lý xã hội; trình bày hệ thống,
nguyên tắc và phương pháp quản lý xã hội chủ nghĩa trong điều kiện cách
mạng khoa học hiện đại.
Baravia A, trong cuốn sách Các quan hệ trong quản lý xã hội xã hội chủ
nghĩa [3], tác giả đã nêu lên những đặc trưng bản chất của các quan hệ quản lý
với tính cách là một bộ phận cấu thành của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa;
Vạch ra những quan điểm phương pháp luận trong quan hệ quản lý.
Moiseev N.N, Chủ nghĩa xã hội và tin học [52], trong ấn phẩm này, tác
giả đã bàn đến cơ chế quản lý và tổ chức của chủ nghĩa xã hội; những nguy cơ
5


nảy sinh cùng với sự phát triển và tiến bộ của khoa học kỹ thuật; nguyên nhân
và giải pháp trong quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa.
Tư Mã An, 72 phép quản lý kiểu Trung Quốc [1], tác giả đã tiếp cận
quản lý trên cơ sở lấy con người làm gốc, bàn đến văn hóa quản lý, đưa ra yêu
cầu quản lý xã hội một cách linh hoạt, mềm dẻo; các khâu quản lý cần tuân
thủ: từ lãnh đạo, sách lược, giao quyền, thực thi, kiểm soát, quan sát.
* Nhóm các công trình, bài viết trong nước:
Ở nước ta, đã có nhiều công trình, ấn phẩm, bài viết nghiên cứu tư
tưởng của V.I.Lênin về các vấn đề chính trị - xã hội, quản lý xã hội xã hội chủ
nghĩa và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam dưới các góc độ khác
nhau, tiêu biểu như:

tích những phạm trù cơ bản trong hệ thống lý luận chính trị của V.I.Lênin, từ
đó khẳng định những giá trị trường tồn trong tư tưởng của Người và ý nghĩa
của vấn đề này đối với cách mạng Việt Nam, nhất là trong thời kỳ đổi mới.
Giáo sư Tương Lai, trong bài Đôi điều suy nghĩ về vấn đề nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực trong quản lý sự phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ
và công bằng [21], tác giả đã đề cập đến vấn đề quản lý sự phát triển xã hội trên
nguyên tắc tiến bộ và công bằng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đinh Xuân Lý (2010), Đề tài khoa học cấp nhà nước
KX02.21/06-10, Đảng lãnh đạo phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
thời kỳ đổi mới: một số vấn đề lý luận và thực tiễn [22], đã nghiên cứu đưa ra
luận cứ, các yếu tố tác động, thực trạng năng lực lãnh đạo của Đảng đối với phát
triển xã hội và quản lý phát triển xã hội và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với
phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trên một số lĩnh vực.
Kỷ yếu hội thảo khoa học kỷ niệm 145 năm ngày sinh V.I.Lênin (2015),
Phát triển và vận dụng sáng tạo di sản tư tưởng V.I.Lênin vào thực tiễn cách
mạng Việt Nam [20], trong ấn phẩm này, các bài tham luận hội thảo của các
nhà khoa học đã nghiên cứu tư tưởng V.I.Lênin về quản lý nhà nước và quản lý

7


xã hội trên một số lĩnh vực, công tác kiểm kê, kiểm soát trong quản lý xã hội,
chống quan liêu, tham nhũng, xây dựng phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ.
Nguyễn Anh Tuấn (2010), Luận văn thạc sỹ triết học, chuyên ngành
Chủ nghĩa xã hội khoa học, Quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ xã hội chủ
nghĩa và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới [66],
trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng của V.I.Lênin về dân chủ xã hội chủ nghĩa, tác
giả đã chỉ ra phương hướng vận dụng của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới.
Tóm lại, trong các công trình nêu trên, tư tưởng V.I.Lênin về quản lý xã
hội xã hội chủ nghĩa và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được

đoạn hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng của V.I.Lênin về quản lý xã hội
xã hội chủ nghĩa và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu tư tưởng của
V.I.Lênin về quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa dưới góc độ chính trị - xã hội
thông qua một số tác phẩm của Người (chủ yếu giai đoạn từ năm 1917 đến
1924); và sự vận dụng tư tưởng V.I.Lênin về quản lý xã hội xã hội xã hội chủ
nghĩa của Đảng ta từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến nay .
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận: Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở hệ thống
phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
* Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu
lịch sử tư tưởng và phương pháp liên ngành của các môn khoa học, trong đó
tập trung sử dụng các phương pháp: Phương pháp kết hợp lôgic và lịch sử;
phương pháp nghiên cứu tác phẩm kinh điển chủ nghĩa xã hội khoa học;
phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết; phương pháp phân loại, hệ thống
hoá; phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài

9


- Góp phần khẳng định tính khoa học, cách mạng, những đóng góp quý
báu của tư tưởng V.I.Lênin về quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa; sự vận dụng
đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay;
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp luận cứ khoa học để
Đảng, Nhà nước tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng V.I.Lênin vào hoạch
định, thực thi quản lý đất nước đúng đắn, hiệu quả;
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng

về mục tiêu, chức năng, nội dung và phương pháp quản lý, vai trò của tổ chức
trong quản lý.
Trước Mác, một số đại biểu thời kỳ phương Tây cổ đại, điển hình như
Đêmôcrit, Platon, Aristốt, Rútxô đã đề cập đến quản lý xã hội. Thời kỳ
phương Tây cận đại, các học thuyết quản lý xã hội ra đời với các trường phái
khác nhau, nổi bật là các học thuyết quản lý cổ điển. Kế thừa các hạt nhân
11


hợp lý, tinh hoa tư tưởng của các nhà tư tưởng trước đó, C.Mác, Ph.Ăngghen
đã có những lý giải khá toàn diện và sâu sắc các quá trình xã hội nói chung và
nhiều hiện tượng xã hội cụ thể khác của một giai đoạn quan trọng trong lịch
sử phát triển của xã hội loài người - giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản và
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong những bài viết, tác phẩm khác nhau,
C.Mác, Ph.Ăngghen đã đề cập đến quản lý với tính cách là một hoạt động lao
động đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của xã hội.
C.Mác, Ph.Ăngghen khẳng định tính chất phổ biến của hoạt động
quản lý đối với quá trình phát triển xã hội; chức năng điều hoà hoạt động
của các tổ chức và các cá nhân của quản lý xã hội. Theo các ông, mọi hoạt
động xã hội dù ở quy mô lớn hay nhỏ đều phải có sự quản lý: “Tất cả mọi lao
động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn
thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa các hoạt động cá
nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn
bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của khí quan độc lập của nó. Một
người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần
phải có nhạc trưởng. Các chức năng chỉ đạo, giám sát và điều hòa ấy trở thành
những chức năng của tư bản, khi lao động phụ thuộc vào tư bản đó trở thành
lao động hiệp tác” [43, tr.480].
Hoạt động của cá nhân luôn nằm trong một hệ thống, một tổ chức, có
quan hệ với tổ chức và chịu sự chỉ đạo, giám sát, quản lý chung; do vậy để

Hoạt động quản lý nhằm định hướng hoạt động của các cá nhân, các bộ
phận của tổ chức phù hợp với mục đích chung của tổ chức, làm thế nào để
mục đích chung này trở thành động cơ bên trong của mỗi cá nhân để thúc đẩy
sản xuất: “Mục đích chung phải là động cơ trên ý niệm, thúc đẩy bên trong
của sản xuất” [46, tr. 49] nó “quyết định phương thức hành động của họ giống
như một quy luật và bắt ý chí của họ phải phục tùng nó” [43, tr. 267].
Trong tư tưởng của C.Mác, chúng ta thấy rõ mối quan hệ biện chứng
giữa chức năng và mục đích của quản lý thông qua sự hợp tác. Quản lý thực
13


hiện các chức năng kế hoạch, chỉ đạo, giám sát và điều hoà tốt thì sẽ tạo ra sự
hợp tác tốt và hợp tác tốt sẽ tạo ra năng suất lao động vượt trội. Đến lượt
mình, năng suất vượt trội sẽ thúc đẩy tinh thần hợp tác của các cá nhân và do
đó, các chức năng quản lý được thực hiện dễ dàng. Mối quan hệ biện chứng
này được đặt trên nền tảng con người là một động vật xã hội.
C.Mác dẫn chứng thêm: “Khi có nhiều cánh tay tham gia cùng một lúc
vào cùng một công việc không thể phân chia được… lao động của từng người
riêng rẽ không thể nào đạt tới kết quả của lao động chung, hoặc chỉ đạt tới sau
một thời gian rất lâu, hoặc với quy mô rất nhỏ. Ở đây, vấn đề không phải là
chỉ nâng cao sức sản xuất cá nhân bằng sự hiệp tác, mà còn tạo ra một sức sản
xuất tự nó đã là một sức sản xuất tập thể rồi…Chưa nói đến một sức mới, xuất
hiện khi nhiều sức hợp nhất lại thành một sức chung, trong phần lớn các công
việc sản xuất, ngay sự tiếp xúc xã hội cũng đã đẻ ra thi đua, cũng kích thích
nguyên khí (antimal spirit) làm tăng năng suất cá nhân của từng người riêng
rẽ, khiến cho 12 người trong một ngày lao động chung 144 giờ cung cấp được
một tổng sản phẩm lớn hơn rất nhiều so với 12 công nhân riêng rẽ mỗi người
làm việc 12 giờ, hoặc so với một công nhân làm trong 12 ngày liên tiếp. Đó là
vì con người ta, do bản tính, nếu không phải là một động vật chính trị như
Aristôt nói, thì dẫu sao cũng là một động vật xã hội” [43, tr.473].

nhau. Trong đó, C.Mác quan tâm nghiên cứu sự phân chia xã hội thành hai
giai cấp đối kháng, thống trị và bị trị. C.Mác đã đánh giá sự phân chia giai cấp
trong chủ nghĩa tư bản như sau: “… đặc điểm của thời đại chúng ta, của thời
đại giai cấp tư sản, là đã đơn giản hóa những đối kháng giai cấp. Xã hội ngày
càng phân chia thành hai phe lớn thù địch với nhau, hai giai cấp lớn hoàn toàn
đối lập nhau: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản” [44, tr. 44].
Về nguyên tắc và biện pháp quản lý xã hội, C.Mác đã đề cập đến quản
lý theo cơ cấu lãnh thổ của các loại hình nhà nước đơn nhất, nhà nước liên
bang. Khi nghiên cứu quan điểm của Pru- đông và Ba-cu-nin về chế độ liên
bang, C.Mác cho rằng để xây dựng một xã hội mới, chúng ta cần có sự chỉ
15


đạo, lãnh đạo tập trung; chế độ liên bang là cần thiết nhưng về nguyên tắc
phải vượt ra khỏi quan điểm tiểu tư sản của chủ nghĩa vô chính phủ.
Trong Chương II, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác,
Ph.Ăngghen đã đưa ra 10 biện pháp nhằm xóa bỏ chủ nghĩa tư bản và xây
dựng chủ nghĩa cộng sản. Đây được xem như là những phác thảo về biện
pháp quản lý, xây dựng chế độ xã hội mới:
“Tước đoạt sở hữu ruộng đất và trao nộp tô vào quỹ chi tiêu của nhà nước;
Áp dụng thuế luỹ tiến cao; Xoá bỏ quyền thừa kế; Tịch thu tài sản của tất cả
những kẻ lưu vong và của tất cả những kẻ phiến loạn; Tập trung tín dụng vào
tay nhà nước thông qua một ngân hàng quốc gia với tư bản của nhà nước và
ngân hàng này sẽ nắm độc quyền hoàn toàn; Tập trung tất cả các phương tiện
vận tải vào trong tay nhà nước; Tăng thêm số công xưởng nhà nước và công
cụ sản xuất; khai khẩn đất đai để cấy cầy và cải tạo ruộng đất trong một kế
hoạch chung; Thực hành nghĩa vụ lao động đối với tất cả mọi người, tổ chức
các đạo quân công nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp; Kết hợp nông nghiệp, thi
hành những biện pháp nhằm làm mất dần sự khác biệt thành thị và nông thôn;
Giáo dục công cộng và không mất tiền cho tất cả các trẻ em. Xoá bỏ việc sử

phát triển đã làm gia tăng tính cạnh tranh giữa các quốc gia. Trong nội bộ các
nước phát triển, các tổ chức, các liên đoàn xuất hiện và lên tiếng bảo vệ quyền
lợi người lao động và tạo ra nhiều áp lực đối với chủ doanh nghiệp và nhà nước.
Trong thời gian trước cách mạng Tháng Mười năm 1917, V.I.Lênin đã
hoạt động cách mạng ở nhiều nước, khi đi sang các nước Đức, Anh, Thụy
Điển, Phần Lan, Người có điều kiện tiếp cận với với các tư tưởng quản lý xã
hội của C.Mác, Ph.Ăngghen, F.W.Taylor, H.L.Gantt, Henri Fayol, Max
Weber. Quan sát thực tiễn quản lý xã hội ở các nước này V.I.Lênin đã rút ra
nhiều kinh nghiệm quý báu. Tác phẩm Nhà nước và cách mạng bắt đầu viết
trong điều kiện phong trào cách mạng Nga chưa giành được chính quyền,
song trong tác phẩm V.I.Lênin đã phác thảo, dự báo những vấn đề cơ bản về
17


quản lý xã hội sau khi giành được chính quyền về tay giai cấp công nhân và
nhân dân lao động.
* Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi, nước Nga bắt tay
vào cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới trong điều kiện nền kinh tế yếu kém,
lạc hậu, khó khăn về nhiều mặt. Thực tiễn đó cho phép và đòi hỏi V.I.Lênin
cùng Đảng Bôn sê vích Nga phải đặc biệt quan tâm vấn đề quản lý xã hội mới
- xã hội xã hội chủ nghĩa.
Về kinh tế, sản xuất công nghiệp thì đình trệ, diện tích đất nông nghiệp
giảm xuống còn khoảng 1/2 so với năm 1913, mùa màng thất bát, nạn đói,
bệnh dịch hoành hành. Chiến tranh đế quốc (1914 – 1918) rồi đến nội chiến
và can thiệp vũ trang của nước ngoài (1918 – 1920) đã tàn phá toàn bộ nền kinh
tế quốc dân, đã đẩy lùi nền kinh tế quốc dân trở lại trình độ kinh tế của nước Nga
sa hoàng giữa thế kỷ XIX. Năm 1920, sản lượng công nghiệp chỉ bằng 1/7 mức sản xuất
năm 1913, sản lượng nông nghiệp chỉ bằng hơn1/2. Trong hai năm (1920 – 1921), hạn
hán liên tiếp và nạn dịch súc vật làm cho nền nông nghiệp càng thêm tiêu điều;
bọn tư bản ra sức phá hoại sản xuất, tổ chức phá hoại ngầm, đóng cửa xí nghiệp.

cấp lãnh đạo cách mạng cũng bị suy yếu. Một bộ phận công nhân đã rời bỏ
hàng ngũ giai cấp công nhân do nhiều nhà máy và công xưởng đã bị chiến
tranh tàn phá hoặc không có lương thực, nguyên liệu, nhiên liệu. Họ chạy
về nông thôn để tránh nạn đói hoặc chuyển sang sản xuất thủ công. Vì vậy,
cơ sở xã hội của chính quyền vô sản bị suy yếu; trong khi đó, thế lực tự
phát tiểu tư sản lại tăng lên, điển hình như bọn Đê-ni-kin, Côn-tsắc và I-uđê-nich câu kết lại với nhau.
Cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội của nước lúc bấy giờ đã
phản ánh cả vào trong Đảng Bôn sê vích Nga. Một bộ phận cán bộ, đảng viên
sinh ra dao động. Sự bất đồng trong Đảng về công đoàn, cuộc tranh luận rồi đi
đến cuộc đấu tranh bè phái, đòi tự do bè phái trong Đảng. Các nhóm đối lập
đã tỏ rõ lập trường chính trị của chúng là chống Đảng, chống ban lãnh đạo
mác xít của Đảng mà đứng đầu là V.I.Lênin.
19


* Những hoạt động chủ yếu của V.I.Lênin sau Cách mạng Tháng Mười
năm 1917 đến năm 1924
Thắng lợi của cách mạng Tháng Mười cùng với sự ra đời của nhà nước
Xô viết đã làm cho Đảng Bônsêvích đã trở thành đảng cầm quyền trong một
nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới. Trong hoàn cảnh lịch sử mới, từ
năm 1917 đến năm 1924, V.I.Lênin có những hoạt động chính sau:
Từ năm 1917 đến cuối năm 1920, V.I.Lênin cùng với Đảng Bônsêvích
Nga tập trung lãnh đạo xây dựng Đảng, bộ máy nhà nước Xô viết, đánh tan sự bao
vây của 14 nước đế quốc và bọn Bạch vệ. Do kết quả của cách mạng Tháng
Mười, thế giới hình thành hai hệ thống đối lập nhau, chiến tranh giữa các nước đế
quốc vẫn diễn ra, V.I.Lênin đã khởi Sắc lệnh về Hòa bình và Sắc lệnh Ruộng đất
nhằm nêu cao nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độ xã hội
khác nhau và nhằm thủ tiêu chế độ địa chủ; chủ trương ký Hoà ước Brétlitốp với
Đức tháng 3 năm 1918, rút nước Nga ra khỏi chiến tranh đế quốc.
V.I.Lênin vạch rõ thực chất và những ưu thế hết sức lớn của Chính

của Đảng Cộng sản (B) Nga thông qua, từ tháng Ba đến tháng Sáu năm 1921
là thời gian nước Nga Xô viết chuyển chính thức sang thực hiện Chính sách
kinh tế mới với những phương pháp mới trong kinh doanh, tổ chức sản xuất
và lao động, đưa kinh tế hàng hóa vào nước Nga, thúc đẩy sự phát triển công
nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp. Trong việc thành lập Liên bang Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết năm 1922, V.I.Lênin đã làm rõ nguyên tắc bình
đẳng, tự nguyện, đoàn kết, hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc.
Những năm cuối đời, V.I.Lênin dành thời gian cho việc tổng kết kinh
nghiệm hoạt động chính trị, quan tâm việc chấn chỉnh lại sự lãnh đạo của
Đảng, cải tiến hình thức, phương pháp quản lý của Nhà nước đối với xã hội.
Trong giai đoạn từ năm 1917 đến năm 1924, V.I.Lênin đã viết nhiều tác
phẩm liên quan quản lý xã hội, tiêu biểu là những tác phẩm sau: Nhà nước và
cách mạng (viết từ tháng 8, 9-1917 đến tháng 12-1918), Những nhiệm vụ
trước mắt của chính quyền xô viết (4-1918), Bệnh ấu trĩ tả khuynh và tính tiểu
tư sản (1918), Cách mạng vô sản và tên phản bội Cauxky (10-1918), Bàn về
21


“dân chủ” và chuyên chính (12-1918), Bàn về nhiệm vụ của công đoàn
(1918), Sáng kiến vĩ đại (7-1919), Kinh tế chính trị trong thời đại chuyên
chính vô sản (10-1919), Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản
(1920), Nhiệm vụ của Đoàn thanh niên (1920), Bàn về thuế lương thực
(1921), Chính sách kinh tế mới và những nhiệm vụ của các Ban giáo dục
chính trị (1921), Thà ít mà tốt (1923)....
1.2. Nội dung tư tưởng cơ bản của V.I.Lênin về quản lý xã hội xã
hội chủ nghĩa
Với tư cách là người đứng đầu Đảng Cộng sản (b) Nga, trực tiếp là Chủ
tịch Hội đồng Bộ trưởng dân ủy, cơ quan quản lý Nhà nước cao nhất; kế thừa
và phát triển tư tưởng C.Mác, Ph.Ăngghen về quản lý xã hội trong điều kiện
tiến hành xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước Nga xô viết; xuất phát t ừ

nhiệm vụ quản lý đã trở thành nhiệm vụ chủ yếu và trung tâm. Chúng ta,
Đảng Bôn-sơ-vích, chúng ta đã thuyết phục được nước Nga. Chúng ta đã
giành được nước Nga từ trong tay bọn nhà giàu... Bây giờ, chúng ta phải
quản lý nước Nga” [32, tr. 209].
Theo V.I.Lênin, mục đích quan trọng nhất của quản lý xã hội mới là để
tạo ra những tiền đề vật chất - kỹ thuật cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Bởi “xét đến cùng thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu
nhất cho thắng lợi của chế độ xã hội mới” [34, tr.25]. V.I.Lênin nhấn mạnh
mục đích của việc tổ chức quản lý xã hội mới: “Trong bất cứ cuộc cách mạng
xã hội chủ nghĩa nào khi giai cấp vô sản đã làm xong nhiệm vụ giành được
chính quyền rồi, và trong chừng mực mà nhiệm vụ tước đoạt những kẻ đi tước
đoạt và nhiệm vụ đập tan sự phản kháng của chúng đã hoàn thành trên những
nét chủ yếu và cơ bản, - thì tất nhiên có một nhiệm vụ căn bản khác được đề
lên hàng đầu, đó là thiết lập một chế độ xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản,
nghĩa là nâng cao năng suất lao động, và do đó (và nhằm mục đích đó) phải tổ
chức lao động theo một trình độ cao hơn” [32, tr.228, 229].
V.I.Lênin cho rằng sau khi giành được chính quyền, để hàn gắn vết
thương chiến tranh, khôi phục sản xuất, nâng cao năng suất lao động nhất
thiết phải tiến hành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ hàng đầu
23


đang đặt ra với Chính quyền xô viết theo V.I.Lênin là quản lý nhà nước, mà
trước hết là quản lý kinh tế; đây là động lực quan trọng, là điểm mấu chốt để
tạo ra năng suất lao động cao, khẳng định sự thắng thế so với chế độ tư bản chủ
nghĩa, để đánh đổ chủ nghĩa nghĩa tư bản trong lòng xã hội mới. Mục tiêu của
quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa là nhằm phát triển có kế hoạch nền sản xuất,
của tất cả các quan hệ xã hội và văn hóa để đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn các
nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân và phát triển toàn diện cá nhân.
V.I.Lênin bàn về quản lý trên phương diện quản lý nhà nước đối với

xây dựng một nhà nước, trong đó công nhân tiếp tục lãnh đạo nông dân, duy trì
được lòng tin của họ đối với mình…bằng cách thực hành sự tiết kiệm nghiêm
ngặt nhất trong việc quản lý nhà nước” [41, tr.456]. Mặt khác, thực hiện quản lý
xã hội để khắc phục những thói quen và những truyền thống của giai cấp tư
sản, giai cấp tiểu tư sản – luôn có tư tưởng chống lại chế độ kiểm soát của nhà
nước và đều bảo vệ tính bất khả xâm phạm của “quyền tư hữu thiêng liêng”…
là cuộc đấu tranh của ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa chống lại tính tự phát
tư sản – vô chính phủ” [32, tr.225].
Quản lý xã hội theo V.I.Lênin phải hướng đến xây dựng giai cấp công
nhân ngày càng tiên tiến, có tính tổ chức và kỷ luật cao. Giai cấp công nhân
là giai cấp lãnh đạo cách mạng, việc xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh,
tiên tiến, mẫu mực có ý nghĩa to lớn đối với công cuộc kiến thiết, xây dựng
đất nước sau khi giành được chính quyền. Từ thực tế sau nhiều năm chiến
tranh, thành phần giai cấp công nhân Nga có sự biến đổi theo chiều hướng
không tốt, cả về tư tưởng, tổ chức. V.I.Lênin chỉ ra: “Những nhiệm vụ trước
mắt của giai đoạn hiện nay nghĩa là kỷ luật vô sản, kiểm kê, tính tổ chức và
kiểm soát. Đấy là những nhiệm vụ đã trở thành tự nhiên đối với những người
xã hội chủ nghĩa sau khi đã giành được chính quyền…”[32, tr.298].
Để giữ vững bản chất cách mạng, tiên tiến, triệt để của giai cấp công
nhân cần thiết phải tăng cường quản lý quá trình tổ chức lao động, ý thức kỷ
luật, việc học tập chính trị của công nhân. V.I.Lênin viết: “chúng ta phải nâng
cao tinh thần kỷ luật của những người lao động, kỹ năng lao động của họ, tính
25


khéo léo của họ, phải tăng thêm cường độ lao động và tổ chức lao động tốt
hơn…việc quần chúng xây dựng những nguyên tắc mới của kỷ luật lao động
là một quá trình lâu dài, vì chủ nghĩa xã hội không thành công được nếu tính
kỷ luật tự giác của giai cấp vô sản không thắng được tình trạng vô chính phủ
tự phát của giai cấp tư sản” [32, tr.230,231].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status