TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
**********
ĐỖ THỊ THANH TUYẾN
TƯ TƯỞNG ĐỘC LẬP TỰ CHỦ
SÁNG TẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM TRONG ĐƯỜNG LỐI
CÁCH MẠNG MIỀN NAM
(1954 - 1964) KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng
Người hướng dẫn khoa học
TS. Khuất Thị Hoa
được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của Cô Khuất Thị Hoa.
Tôi xin cam đoan đề tài này là kết quả nghiên cứu của riêng Tôi, không
trùng với bất kỳ kết quả nào của các tác giả khác.
Hà Nội ngày 04 tháng 05 năm 2015
Tác giả khóa luận Đỗ Thị Thanh Tuyến
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đỗ Thị Thanh Tuyến K37 – CN Lịch sử
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3. Đối tượng, mục đích nhiệm vụ nghiên cứu 4
2.3.1. Nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế
thừa truyền thống quý báu của dân tộc 57
2.3.2. Kết hợp sáng kiến của quần chúng với trí tuệ của toàn Đảng
và bộ tham mưu của Đảng 61
2.3.3. Ở vào thời điểm bước ngoặt của cách mạng, Đảng càng phải
phát huy tư tưởng độc lập tự chủ sáng tạo 63
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đỗ Thị Thanh Tuyến 1 K37 – CN Lịch sử
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tư tưởng độc lập, tự chủ, sáng tạo trong quá trình lãnh đạo cách mạng
là vấn đề vô cùng quan trọng của Đảng cầm quyền. Nó có ý nghĩa quyết định
đến thành bại của cách mạng.
Trong lịch sử tiến hóa của xã hội loài người, sự đa dạng về truyền
thống, phong tục tập quán, bản sắc văn hóa, đạo lý của các dân tộc là một sự
thật và quy luật phổ biến. Theo đó, để dân tộc mình phát triển đúng với sự
tiến hóa của loài người, các tổ chức chính trị cầm quyền ở đó không thể xây
dựng Cương lĩnh hoạt động của mình một cách giáo điều, rập khuôn theo kinh
nghiệm của các đảng khác, hay một tổ chức quốc tế nào khác.
Các nhà sáng lập ra học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học đã từng chỉ
rõ: Các Đảng Cộng sản lãnh đạo cách mạng ở từng nước, phải chịu trách
nhiệm trước giai cấp, trước dân tộc mình, xác định cho được phương hướng
và biện pháp cách mạng đúng đắn, sao cho phù hợp với nguyên lý phổ biến
ngành khoa học lịch sử của mình góp phần khẳng định mạnh mẽ hơn nữa vai
trò của phương pháp luận khoa học đối với sự lãnh đạo của của Đảng trong sự
nghiệp cách mạng miền Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đã kết thúc
thắng lợi gần 40 năm nay. Thắng lợi đó không những có ý nghĩa to lớn đối
với dân tộc ta mà còn có ý nghĩa đối với quốc tế và thời đại. Do vậy đã có
nhiều công trình khoa học, bài viết về tư tưởng độc lập tự chủ sáng tạo của
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước. Có thể kể các loại sau:
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đỗ Thị Thanh Tuyến 3 K37 – CN Lịch sử
+ Các văn kiện của Đảng:
- Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ VI (mở rộng)
khóa II, 7-1954. Trường Nguyễn Ái Quốc văn kiện lịch sử Đảng tập VIII.
- Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ XV (mở rộng)
khóa II, 1-1959. Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ cứu nước tập I 1954-
1965, NXB Sự Thật, Hà Nội 1985.
- Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thử III của Đảng, 9-1960.
Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ cứu nước tập I, 1954-1965, NXB Sự
Thật, Hà Nội 1985.
- Nghị quyết Ban chấp hành trung ương lần IX khóa III, 12-1963. Một
số văn kiện của Đảng về chông Mỹ cứu nước tập I, 1954-1965, NXB Sự Thật,
Hà Nội 1985.
- Hồ Chí Minh: Báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị Ban
chấp hành Trung ương lần thứ VI (mở rộng) khóa II, ngày 15-7-1954. Trường
Nguyễn Ái Quốc, văn kiện lịch sử Đảng tập III.
+ Các công trình nghiên cứu rất quan trọng của các nhà lãnh đạo Đảng;
các nhà khoa học:
- Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập tự do vì chủ nghĩa
- Đối tượng: Trình bày một số quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin,
của Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số nội dung cơ bản của tư tưởng độc lập tự
chủ sáng tạo của Đảng trong đường lối cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ta ra
đời cho đến năm 1954.
Tập chung trình bày quá trình hình thành phát triển và làm rõ tư tưởng
độc lập tự chủ sáng tạo của Đảng trong đường lối cách mạng ở miền Nam thời
kỳ 1954 - 1964.
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đỗ Thị Thanh Tuyến 5 K37 – CN Lịch sử
- Mục đích:
Khóa luận làm rõ tư tưởng độc lập tự chủ sáng tạo của Đảng ta trong
quá trình hoạch định, phát triển và hoàn chỉnh đường lối cách mạng ở miền
Nam thời kỳ 1954 - 1964, góp phần làm sâu sắc thêm giá trị lý luận và ý
nghĩa thực tiễn về tư tưởng độc lập tự chủ sáng tạo của Đảng ta.
- Nhiệm vụ:
+Trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn lịch sử Việt Nam làm cơ sở cho
tư tưởng độc lập tự chủ sáng tạo của Đảng ta trong thời kỳ 1954-1964.
+ Phân tích so sánh đối chiếu làm sáng tỏ tư tưởng độc lập tự chủ sáng
tạo của Đảng ta trong đường lối cách mạng miền Nam thời kỳ 1954-1964.
Rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu có giá trị lý luận và thực tiễn nhất
định trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
4. Đóng góp của khóa luận
Làm rõ thêm giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng độc lập tự chủ
sáng tạo trong việc vạch đường lối cách mạng của Đảng.
Rút ra một số kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn nhất định
trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch
sử, sử dụng phương pháp logic lịch sử, phân tích tổng hợp, phân kỳ lịch sử, triệt
để vận dụng phương pháp so sánh đối chiếu để nghiên cứu vấn đề này.
trình đấu tranh cách mạng. Theo đó, bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào việc áp
dụng những nguyên lý đó cũng phải tùy theo hoàn cảnh lịch sử đương thời. Vì
vậy, đến năm 1872, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, các ông cũng thấy cần phải
điều chỉnh lại và bổ sung những biện pháp cách mạng nêu ở chương II của
Tuyên ngôn Đảng Cộng sản để phát triển lý luận cho phù hợp. Đồng thời với
việc đòi hỏi sự sáng tạo của các Đảng Cộng sản, các ông còn chỉ ra tính tự lực
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đỗ Thị Thanh Tuyến 7 K37 – CN Lịch sử
tự cường của quần chúng cách mạng: “Việc giải phóng những người lao động
phải là sự nghiệp của bản thân những người lao động” [1, tr.19].
Sau khi Ph.Ăngghen mất, cơ quan lãnh đạo của quốc tế II đã rơi vào tay
các phần tử phi vô sản. Họ cho rằng chủ nghĩa Mác đã lạc hậu cần phải điều
chỉnh cho phù hợp với lịch sử. Quan điểm này không hoàn toàn sai. Tuy vậy,
họ muốn phủ nhận sạch trơn cả những luận điểm cách mạng của học thuyết
Mác. Vì vậy, họ đã trở thành những kẻ phản bội lại sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân.
Kế thừa quan điểm của C.Mác - Ph. Ăngghen, V.I. Lênin nêu tấm
gương về tính sáng tạo. Nhiều luận điểm của C.Mác về triết học, kinh tế chính
trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học được Lênin mở rộng, nâng lên ở tầm cao
mới trong thời đại đế quốc chủ nghĩa. Sự phát triển đó đã được các nhà lý
luận gọi là chủ nghĩa Mác- Lênin.
V.I.Lênin đặc biệt yêu cầu các Đảng Cộng sản phải đi sâu tìm tòi
nghiên cứu, phát hiện nắm vững hơn nữa những đặc điểm của dân tộc mình,
của đất nước mình để “Áp dụng những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa cộng
sản (chính quyền Xô Viết và chuyên chính vô sản) sao cho những nguyên tắc
được cải biến đúng đắn trong những vấn đề chi tiết cho thích hợp với những
đặc điểm dân tộc và đặc điểm nhà nước dân tộc” [27, tr.96].
Cách mạng tháng Mười Nga thành công đã mở ra kỷ nguyên mới cho
lịch sử loài người - đưa lịch sử loài người bước sang thời hiện đại. Điều đáng
chú ý là cách mạng vô sản đã thắng lợi ở một nước riêng lẻ, nơi ấy là khâu
trước mới đáp ứng yêu cầu của lịch sử dân tộc. Theo đó, Người quyết chí ra
đi tìm đường cứu nước cứu dân bằng một hướng đi mới- sang phương Tây,
nơi đã sản sinh ra những gì của nền văn minh hiện đại để tìm hiểu xem “Họ
làm như thế nào”, sau đó trở về giúp đồng bào mình tự giải phóng.
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đỗ Thị Thanh Tuyến 9 K37 – CN Lịch sử
Việc chọn cho mình một hướng đi đúng, một cách đi đúng đã nói lên ý
chí kiên cường, lòng tự tin, một ý chí tự lực mạnh mẽ, và đặc biệt là sáng tạo
của Nguyễn Ái Quốc.
Trải qua hành trình vạn dặm khảo sát thế giới, Nguyễn Ái Quốc đã nắm
bắt được chiều hướng phát triển của lịch sử. Nghiên cứu ba cuộc cách mạng
điển hình của lịch sử nhân loại: cách mạng tư sản Mỹ 1776; đại cách mạng tư
sản Pháp 1789 và đại cách mạng Xã hội Chủ nghĩa tháng 10 Nga 1917. Bằng
tư duy độc lập, Người nhận xét: Cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp đều
“Không đến nơi”. Chỉ có “Cách mạng Nga là thành công và thành công đến
nơi”. Đó là mốc đánh dấu bước phát triển tư tưởng độc lập của Người.
Khi tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy giá trị
phổ biến bởi bản chất cách mạng và khoa học, sáng tạo và phát triển của học
thuyết đó. Tuy vậy, Người cũng sớm nhận thấy trong những điều kiện mới
của lịch sử, chủ nghĩa Mác vẫn cần được bổ sung và phát triển. Người viết:
“Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử,
nhưng lịch sử nào? Lịch sử Châu Âu, mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn
thể nhân loại. Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó
bằng dân tộc học phương Đông, đó chính là nhiệm vụ mà các Xô Viết đảm
nhiệm” [13, tr.465]. Cũng với tư duy đó, Ngưới rất lo lắng cho nhân dân ở các
nước lạc hậu không hiểu đấu tranh giai cấp là gì? Lực lượng giai cấp vô sản là
gì? Điều ấy dễ dẫn quần chúng tới chỗ hoặc xa lánh cách mạng, hoặc là phong
trào yêu nước ở đó rơi vào chủ nghĩa quốc gia.
Vận dụng lý thuyết macxit vào Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc lại cho
rằng, cuộc đấu tranh giai cấp ở các nước phương Đông không diễn ra sâu sắc
dân, tiếp đó là màu sắc dân chủ tư sản, nhưng đều bị thực dân Pháp đàn áp và
thất bại. Cách mạng nước ta đang đứng trước cuộc khủng hoảng sâu sắc về
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đỗ Thị Thanh Tuyến 11 K37 – CN Lịch sử
đường lối và giai cấp lãnh đạo cách mạng. Tìm ra đường lối cứu nước đúng
đắn, để đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách nô lệ lầm than là yêu cầu cấp
bách của lịch sử.
Hoàn cảnh lịch sử đã xuất hiện con người lịch sử. Đó là Nguyễn Ái
Quốc mà sau này là Hồ Chí Minh.
Nguyễn Ái Quốc lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, sau đổi tên là
nguyễn Tất Thành, sinh ngày 19-5-1892 tại Nam Đàn - Nghệ An. Nhờ tiếp
thu được truyền thống yêu nước của gia đình, quê hương, của đất nước,
Nguyễn Ái Quốc đã sớm có ý thức về thời cuộc và ý chí đánh đuổi thực dân
Pháp giải phóng cho đồng bào. Năm 1911, Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường
cứu nước. Qua mười năm bôn ba hải ngoại từ 1911 đến 1920, Người đã tiếp
thu được chủ nghĩa Mác- Lênin và truyền bá về Việt Nam, làm chuyển biến tư
tưởng của nhiều nhà cách mạng Việt Nam, từ lập trường yêu nước theo quan
điểm tiểu tư sản và tư sản sang lập trường yêu nước theo quan điểm chủ nghĩa
Mác- Lênin và từng bước vạch ra đường lối cứu nước giải phóng dân tộc.
Ảnh hưởng những quan điểm cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, phong
trào công nhân và phong trào yêu nước Việt nam đã phát triển mạnh mẽ, tạo
nên những nhân tố cho ra đời ĐCSVN tháng 2-1930 (Từ tháng 10-1930 đến
tháng 2 -1952 là Đảng Cộng sản Đông Dương). Đó là sự kết hợp chủ nghĩa
Mác- Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam
cuối những năm hai mươi của thế kỷ XX.
ĐCSVN ra đời đã mở ra một bước ngoặt căn bản của cách mạng Việt
Nam, độc lập dân tộc không còn gắn với chủ nghĩa tư bản mà đã gắn với chủ
nghĩa xã hội, cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng
thế giới.
Trong mười năm từ năm 1920 đến 1930, Nguyễn Ái Quốc đã viết nhiều
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đỗ Thị Thanh Tuyến 13 K37 – CN Lịch sử
triển tư tưởng tự lực tự cường đó, năm 1924, Người đã nói rõ tính chủ động
của cách mạng thuộc địa “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân Châu Á bị tàn
sát và bị áp bức, thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân
lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành những lực lượng khổng lồ và trong khi
thủ tiêu một trong những điều kiện sống còn của chủ nghĩa tư bản và chủ
nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây
trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn” [13, tr.36].
Mặc dù không được sự nhất trí từ Quốc tế cộng sản, nhưng Người vẫn
nhất quán với quan điểm của mình. Luận điểm này đã được chứng minh là
đúng sau 20 năm tại đất nước của Người và trong phạm vi toàn thế giới suốt
thế kỷ XX. Theo đó, luận điểm của Nguyễn Ái Quốc về tính chủ động của
cách mạng thuộc địa là một đóng góp lớn vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin.
Hai là: tiến hành khăng khít nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong
kiến nhưng phải đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.
Bước lên vũ đài chính trị khi vấn đề dân tộc ở phương Tây đã được giải
quyết bằng các cuộc cách mạng tư sản, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-
Lênin chỉ bàn về vấn đề giai cấp và học thuyết đấu tranh giai cấp. Học thuyết
này chỉ rõ nhiệm vụ cách mạng vô sản nhằm giải phóng giai cấp vô sản và
giai cấp nông dân. Nhưng ở Việt Nam, trước những yêu cầu cấp bách của một
nước thuộc địa nửa phong kiến, Nguyễn Ái Quốc và Đảng ta khẳng định giải
quyết vấn đề giai cấp phải xuất phát và phục vụ nhiệm vụ chống đế quốc, giải
phóng dân tộc. Khi giải quyết vấn đề dân tộc, không tách rời dân tộc và giai
cấp, mà phải nhận thấy tính gay gắt của đấu tranh dân tộc, thấy sức mạnh của
yếu tố dân tộc; đánh giá đúng thái độ chính trị của tầng lớp trung gian và lớp
trên, không cường điệu tính giao động và tính không triệt để của họ. Cương
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đỗ Thị Thanh Tuyến 14 K37 – CN Lịch sử
tộc hợp lại.
Nhận được thông tin về cách mạng ở Đông Dương, QTCS đã chỉ thị
cho các nhóm cộng sản ở Đông Dương một nhiệm vụ quan trọng và cần kíp là
sáng lập một Đảng cách mạng của giai cấp vô sản… “Và Đông Dương chỉ có
Đảng ấy là tổ chức cộng sản mà thôi” [4, tr.10-11]. Chỉ thị đó có nghĩa là tạo
điều kiện để tiến tới thành lập Liên bang Đông Dương.
Cách mạng mỗi nước đều là bộ phận của cách mạng thế giới, các nước
đoàn kết nhau lại để chống kẻ thù chung là một tất yếu khách quan. Để tiến
hành đoàn kết có rất nhiếu cách, nhiều hình thức. Có thể cần một Đảng, một
Nhà Nước chung để lãnh đạo cách mạng của các dân tộc ở các nước có vị trí
địa lý hoặc đặc điểm dân tộc gần nhau, nhưng cũng có thể không cần như vậy,
một khi các dân tộc chưa đạt tới trình độ tự nguyện liên hiệp với nhau.
Phân tích đặc điển các dân tộc sống trên bán đảo Đông Dương, những
người cộng sản và Nguyễn Ái Quốc đã quyết định thành lập “Đảng Cộng sản
Việt Nam”, tiến tới thành lập một mặt trận thống nhất toàn Đông Dương là
một quyết định chính xác vừa thể hiện sự sáng suốt, vừa thể hiện tư tưởng độc
lập tự chủ sáng tạo của Người và của ĐCSVN. Mặc dù quan điểm đúng đó bị
QTCS và một số đồng chí chủ chốt trong Đảng phê phán kịch liệt nhưng 10
năm sau đã được khẳng định là đúng.
Nguyễn Ái Quốc còn nêu ra nhiều luận điểm thể hiện tính độc lập tự
chủ sáng tạo, nhưng những luận điểm trên là sự thể hiện nổi bật nhất.
1.2.2. Đảng tiếp tục hoàn chỉnh đường lối cứu nước và đấu tranh giành
chính quyền (1930 -1945)
Đây là giai đoạn cách mạng sôi động nhất của ĐCSVN. Giai đoạn
chuẩn bị mọi mặt cho công cuộc giành chính quyền cách mạng với 3 cao trào
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đỗ Thị Thanh Tuyến 16 K37 – CN Lịch sử
cách mạng lớn phù hợp với bối cảnh chính trị quốc tế và yêu cầu của thực tiễn
cách mạng Việt Nam.
- Thời kì 1930 - 1931
địa và nửa thuộc địa việc thành lập các mặt trận thống nhất chống đế quốc có
tầm quan trọng đặc biệt.
Tháng 5 năm 1936, Mặt trận nhân dân Pháp với Đảng Cộng sản Pháp
làm nòng cốt đã giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử. Chính phủ Bình
Dân Pháp lên cầm quyền chủ chương thực hiện một số cải cách đối với các
nước thuộc địa. Ở Trung Quốc, Quốc – Cộng hợp tác đã được nối lại để
chống lại sự xâm lược của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản.
Trước những chuyển biến của tình hình trong nước và quốc tế, dưới
ánh sáng của Nghị quyết Đại hội VII QTCS, trong những năm 1936-1939,
Ban chấp hành Trung ương Đảng đã họp các kỳ Hội nghị Trung ương
(HNTW) như HNTW2 (7-1936); HNTW3 (3-1937); HNTW4 (9-1937);
HNTW5 (3-1938) đề ra chủ trương mới nhiệm vụ cách mạng, về tổ chức và
đấu tranh cho phù hợp với tình hình.
Chủ trương mới đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa mục tiêu
chiến lược và mục tiêu cụ thể trước mắt của cách mạng; thành lập Mặt trận
nhân dân phản đế Đông Dương, về sau đổi thành mặt trận dân chủ Đông
Dương nhằm thống nhất lực lượng đấu tranh chống phản động thuộc địa và
tay sai chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình, đòi quyền dân chủ, dân sinh. Giải
quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp; giữa phong trào cách
mạng Việt Nam với cách mạng Đông Dương và cách mạng thế giới; đề ra các
các hình thức tổ chức và đấu tranh linh hoạt, thích hợp nhằm hướng dẫn quần
chúng đấu tranh giành quyền lợi hàng ngày, chuẩn bị cho những cuộc đấu
tranh cao hơn vì độc lập và tự do. Các Nghị quyết trên đánh dấu bước trưởng
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đỗ Thị Thanh Tuyến 18 K37 – CN Lịch sử
thành về chính trị và tư tưởng, thể hiện bản lĩnh và tinh thần độc lập tự chủ,
sáng tạo của ĐCSVN. Thực hiện Nghi quyết, Đảng ta đã phát động một
phong trào đấu tranh kéo dài 3 năm đòi quyền dân sinh dân chủ. Phong trào
đã thu hút được hàng triệu quần chúng tham gia, hình thành được đội quân
chính trị rộng lớn cho cách mạng, tạo thêm những tiền đề về tinh thần và vật
ta thể hiện nổi bật trên một số điểm sau đây:
Một là: tiếp tục hoàn chỉnh quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân
chủ, gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc.
Vấn đề nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu đề ra từ năm
1930, phải trải qua thực tiễn 10 năm mới đạt được sự nhất trí, đồng thời Đảng
ta còn phát triển thêm lý luận về vấn đề dân tộc thuộc địa lên một bước mới
đó là:
+ Từ đoàn kết công nhân, nông dân, trí thức, tư sản dân tộc, cá nhân
yêu nước Đảng đã khái quát cao đưa ra tư tưởng “ Toàn dân đoàn kết”. Như
vây phạm vi đoàn kết dân tộc rất rộng rãi, bao gồm tất cả các tầng lớp các giai
cấp, các dân tộc, các Đảng phái, các tôn giáo gồm tất cả những người Việt
Nam yêu nước chỉ trừ bọn tay sai phản động.
+Từ chủ trương thành lập chính phủ công – nông – binh, chính quyền
Xô Viết (1930-1931) đến việc thành lập chính quyền không của riêng một
giai cấp nào mà là chính quyền của toàn thể dân tộc với hình thức chính thể
dân chủ cộng hòa. Với chủ trương thành lập chính quyền của nhân dân, yếu
tố dân tộc mới được phát huy mạnh mẽ hơn, lực lượng tham gia vào “Mặt trận
Việt Minh” ngày càng đông đảo hơn.
+ Từ chủ trương chống đế quốc đánh trúc bọn địa chủ, Đảng đi đến tạm
gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc và tay
sai, giảm tô, giảm tức. Đảng ta vẫn tiến hành khăng khít nhiệm vụ phản đế và
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đỗ Thị Thanh Tuyến 20 K37 – CN Lịch sử
phản phong, nhưng nhiệm vụ phản phong phải làm từng bước để tập trung
vào nhiệm vụ chính cốt của cách mạng là chống đế quốc, tay sai giành độc lập
dân tộc.
+ Từ chủ trương thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất của cả Đông
Dương đến Mặt trận Dân tộc Thống nhất của từng nước; từ chủ trương thành
lập Chính phủ dân chủ cộng hòa liên bang Đông Dương, đến quyền dân tộc tự
quyết, thành lập Chính phủ riêng cho từng nước