Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " DỊCH TẢ HEO PHÁT TRIỂN VẮC XIN DỊCH TẢ HEO MỚI " MS6 potx - Pdf 15

Bộ Nông nghiệp và PTNT Chính phủ Úc

AusAID 014/07VIE

DỊCH TẢ HEO
PHÁT TRIỂN VẮC XIN DỊCH TẢ HEO MỚI

MS6: BÁO CÁO ĐỊNH KỲ 6 THÁNG LẦN THỨ 3
Chris Morrissy


5.5 Quản lý dự án _____________________________________________________9
6. Báo cáo một số vấn đề quan tâm __________________________________________9
6.1 Môi trường________________________________________________________9
6.2 Giới tính và xã hội__________________________________________________9
7. Việc thực hiện và tính khả thi ____________________________________________9
7.1 Vấn đề và hạn chế __________________________________________________9
7.2 Chọn lựa__________________________________________________________10
7.3 Tính khả thi _______________________________________________________10
8. Những bước quan trọng tiếp theo _________________________________________11
9. Kết luận ______________________________________________________________11
2
1. THÔNG TIN VỀ CƠ QUAN NGHIÊN CỨU

Chris Morrissy
Điện thoại: + 61 3 5227 5000
Vị trí
Chuyên viên siêu vi trùng,
Tại AAHL
Fax: + 61 3 5227 5555
Cơ quan
AAHL, PMB 24, Geelong, VIC 3220,
Úc
Email:

Tại Úc: Cơ quan điều hành

Tên
Chris Morrissy
Điện thoại: + 61 3 5227 5000
Vị trí
Cán bộ quản lý
Fax: + 61 3 5227 5555
Cơ quan
AAHL, PMB 24, Geelong, VIC 3220,
Úc
Email: Tại Việt Nam:Tên
TS. Trần Xuân Hạnh

khả năng chẩn đóan DTH với chất lượng và khả năng hình thành hệ thống phòng thí nghiệm về
chẩn đoán bệnhDTH và nghiên cứu vắc xin tại Việt Nam.

3. Tóm tắt kết quả thực hiện

NAVETCO đã thành công thích ứng vi rút vắc xin DTH chủng C lên tế bào PK-15A và đã sản
xuất được những lô giống đạt tiêu chuẩn để sản xuất vắc xin với số lượng lớn. Vác xin DTH cải
tiến với Vi rút DTH chủng C nuôi cấy trên tế bào PK-15A có những đặc tính tốt và ổn định về
mặt di truyền qua các lần cấy chuyển trên tế bào.

Các thử nghiệm tiến hành tại NAVETCO chứng minh vắc xin trên đạt an toàn và hiệu lực, cũng
như tạo được miễn dịch chắc chắn cho heo được tiêm vác xin. Không có chứng cớ về sự nhân lên
của vi rút và bài xuất vi rút cường độc sau khi heo miễn dịch với vác xin trên tế bào được thử
thách bằng vi rút DTH cường độc. Việc có vác xin thương mại DTH sản xuất trên môi trường tế
bào, kết hợp với một chương trình tiêm chủng thích hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam sẽ làm
tăng lợi ích cho nghề chăn nuôi heo nói chung và đặc biệt cho người nông dân nói riêng

Việc thực hiện thành công của dự án tạ
i NAVETCO và RAHO -6đã giúp thiết lập được phương
pháp nuôi cấy vi rút DTH trên môi trường tế bào và kỹ thuật chẩn đóan bệnh DTH được chuẩn
hóa cho mỗi phòng thí nghiệm Thành công trên đã được xác nhận dựa trên điểm của những test
chuẩn dùng chẩn đóan DTH với các nguyên vật liệu chuẩn do AAHL cung cấp và sự đánh giá tại
chỗ (phòng thí nghiệm) do cán bộ của AAHL thực hiện theo các tiêu chuẩn chuẩn (QA) tại việt
nam.

Đây là vấn
đề có ý nghĩa cho những mục đích lâu dài như chỉ ra trong mục tiêu thứ 2, đó là đạt
được những khả năng chẩn đoán bệnh DTH đảm bảo chất lượng và khả năng duy trì họat động
này theo hướng thiết lập một hệ thống thống nhất các phòng thí nghiệm về chẩn đóan, nghiên
cứu và sản xuất vác xin DTH tại Việt Nam. Việc hình thành và duy trì hệ thống phòng thí

Mục tiêu của dự án:

1. Phát triển vác xin sản xuất trên môi trường nuôi cấy tế bào để cho phép sản xuất được
vác xin DTH với giá thành rẻ, có hiệu lực và đảm bảo chất lượng.
2. Nâng cao khả năng chẩn đoán bệnh DTH tại Việt Nam.
3. Đóng góp vào chương trình giáo dục và đào tạo bác sỹ thú y và người nông dân nhằm
giúp cho việc sử dụng vắc xin DTH đạt hiệu quả cao.

Dự án tập trung vào phát triển một vác xin mới dựa trên phương pháp nuôi cấy tế bào với mục
đích nâng cao khả năng cung cấp cũng như chất lượng của vác xin DTH sản xuất trong nước
(Mục tiêu 1) để dùng phòng chống bệnh DTH tại Việt Nam.

Để thực hiện thành công mục tiêu trên đòi hỏi phải đồng thời nâng cao khả năng chẩn đóan bệnh
DTH của các phòng thí nghiệm để tạo điều kiện chẩn đoán và phòng chống bệnh DTH (mục tiêu
2), cũng như đóng góp vào chương trình đào tạo thú y viên và nông dân để sử dụng vác xin có
hiệu quả trong đ
iều kiện sản xuất tại Việt Nam.[Mục tiêu 3].

Thực hiện thành công tất cả các mục tiêu trên sẽ nâng cao khả năng kiểm soát dịch bệnh DTH tại
Việt Nam, góp phần mang lại lợi ích cho quốc gia và đặc biệt cho người chăn nuôi heo.

Dự kiến kết quả đạt được

• Sản xuất được vắc xin DTH trên môi trường nuôi cấy tế bào

5
• Xây dựng qui trình và nâng cao khả năng để sản xuất và kiểm nghiệm vác xin sản xuất
trên tế bào theo hệ thống đảm bảo chất lượng (QA).
• Duy trì chuyển giao công nghệ nuôi cấy tế bào đạt tiêu chuẩn trong tương lai; các kiến
thức và kỹ năng có thể áp dụng cho việc nghiên cứu các bệnh khác như lở mồm long


Tuy nhiên, những kết quả thu được trước đây của CARD NAVETCO/ AAHL cho thấy có s

biến động hàm lượng kháng thể của mẹ truyền cho heo con giữa các trại chăn nuôi và đòi hỏi
phải có một qui trình tiêm phòng vác xin ở thời điểm 21 ngày. Một qui trình được thiết kế như
vậy, kết hợp với việc đào tạo nâng cao hiểu biết và kỹ năng cho thú y viên và người nông dân về
chiến lược tiêm phòng sẽ làm tăng có ý nghĩa hiệu quả phòng bệnh DTH bằng vác xin tại Việt
Nam.

Sự thành công trong phương thức chuyển giao kỹ thuật và khả năng phát triển các kỹ thuật chẩn
đóan đã được chứng minh trong các dự án trước đây của AAHL tại Việt Nam, Thái Lan,
Indonesia. Những kỹ thuật chẩn đoán được chuyển giao là kỹ thuật đã được sử dụng trên thế giới
và được tổ chức dịch tể thế giới (OIE) khuyến cáo sử dụng để chẩn
đoán bệnh DTH. Năng lực

6
họat động sẽ được xác nhận dựa trên chuẩn của những test dùng chẩn đóan DTH với các nguyên
vật liệu chuẩn do AAHL cung cấp và sự đánh giá tại chỗ (phòng thí nghiệm) do cán bộ của
AAHL thực hiện theo các tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng (QA) tại việt nam.

5. Tiến độ thực hiện

5.1 Những điểm nổi bật đã thực hiện [từ báo cáo định kỳ 6 tháng lần thứ 2]
[Chi tiết được đề cập trong màu xanh và kèm theo báo cáo Logframe]
Báo cáo về chương trình đào tạo đã được gởi ở báo cáo Giai đoạn 4 về “Khả năng phát triển”
• Các thuốc thử và nguyên vật liệu được cung cấp cho NAVETCO để thực hiện sản xuất
vắc xin DTH trên môi trường nuôi cấy tế bào ở qui mô lớn và thực hiện công tác đảm bảo
chất lượng.
o Cung cấp huyết thanh bê cho NAVETCO để sản xuất vắc xin ở qui mô lớn.
o Xác nhận chất lượng được thực hiện bởi AAHL và không có nhiễm các tác nhân

đạt tiêu chuẩn Việt Nam và OIE
Nhựng đòi hỏi số liệu về an toàn, hiệu lực, công độc và phân tích các số liệu đó
vẫn tiếp tục tiến hành để đảm bảo tuân thủ theo qui định hiện hành.
• Sự thành công trong việc nâng cao năng lực chẩn đóan và điều này đã được cán bộ của
AAHL đánh giá tại chỗ cho phép thiết lập những kỹ thuật chẩn đoán bệnh DTH đảm bảo

7
chất lượng tại RAHO-6. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện mục tiêu 2 và 3
thông qua:
o Thiết lập mạng lưới phòng thí nghiệm phối hợp cho công tác chẩn đoán, nghiên
cứu và sản xuất vắc xin. Điều này sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc giám sát,
kiểm soát và tiêm phòng bệnh vác xin phòng bệnh DTH tại Việt Nam.
o Hệ thống trên không những là trung tâm trong việc phối hợp chẩn đoán và kiểm
soát bệnh DTH, mà còn tiếp tục giúp đào tạo tập huấn cho các thú y viên và
người chăn nuôi ở Việt Nam.
o Cho thấy tính bền vững về khả năng chẩn đoán, giám sát và nghiên cứu bệnh
DTH của Việt Nam trong tương lai.
o Kết quả thành công về năng lực chẩn đóan bệnh DTH tại RAHO-6 sẽ giúp cho
trung tâm này trở thành một phòng thí nghiệm tham chiếu về chẩn đoán bệnh
DTH ở Việt Nam.
• Với vị trí như là những nhà cung ứng quan trọng vác xin DTH cho thị trường Việt Nam,
Công ty NAVETCO đóng vai trò trung tâm trong việc đào tạo và tập huấn về sử dụng vác
xin DTH trong sản xuất.
o Như một phần hoạt động giúp nhận thức về bệnh DTH và đào tạo, NAVETCO đã
thực hiện những lớp đào tạo tại tổ chức của mình, cũng như thực hiện các chương
trình tập huấn để đào tạo và huấn luyện thú y viên, nông dân sử dụng vác xin
đúng cách phù hợp với điều kiện Việt Nam.
o Xây dựng các chương trình tiêm chủng vắc xin để đảm bảo dùng vác xin đạt hiệu
quả trên các điều kiện thực tế khác nhau tại Việt Nam.
o Sẽ thực hiện tập huấn ở một thời điểm thích hợp liên quan đến khống chế bệnh


5.2 Lợi ích của nhà chăn nuôi

Tất cả nhà chăn nuôi heo sẽ được hưởng lợi tốt nhất. Có thể dự đoán rằng việc sẵn có vắc xin
DTH trên tế
bào trong tương lai, kết hợp với chương trình tiêm phòng phù hợp với điều kiện
chăn nuôi tại Việt Nam sẽ mang lại lợi ích thực tế cho tất cả người sử dụng. Đặc biệt, vắc xin
mới sẽ có ảnh hưởng tích cực tới người chăn nuôi nhỏ lẻ do việc nâng cao sức khỏe động vật
nuôi, cung cấp thực phẩm an toàn và đảm bảo thu nhập. Thông qua việc phát triể
n phương pháp
chẩn đoán bệnh DTH có chất lượng và thống nhất hoạt động trong mạng lưới các phòng thí
nghiệm thú y tại Việt Nam sẽ giúp cho nông dân và các thú y viện tại địa phương thu được
những kiến thức mới về kiểm soát bệnh DTH và việc sử dụng hiệu quả vắc xin mới trong điều
kiện sản xuất.

5.3 Nâng cao năng lực họat động

Dự án này đã thực hiện thành công việc đào tạo, chuyển giao công nghệ, và khả năng phát triển
cả kỹ thuật nuôi cấy tế bào và khả năng chẩn đoán bệnh DTH tại Việt Nam. Tất cả các khóa đào
tạo được thực hiện tuân theo hệ thống đảm bảo chất lượng của AAHL và được xác nhận đánh
giá dựa theo thang chuẩn khi dùng các thuốc thử, vật liệu chuẩn cung cấp bởi AAHL. Theo sau
việc thực hiện các test thử trong hệ thống chất lượng thích hợp của NAVETCO và RAHO 6, tiếp
theo cán bộ của AAHL đã đánh giá xác nhận điểm chuẩn và vấn đề đảm bảo chất lượng sau khi
có tập huấn và đánh giá tại Việt Nam.

NAVETCO đã đạt được sự thành thạo về kỹ thuật ở mức độ cao và chứng tỏ được khả năng của
mình về sản xuất vác xin DTH trên tế bào với sự kiểm soát chất lượng tốt, không chứa các tác
nhân ngọai lai như BVDV. Ngoài ra, với kiến thức và kinh nghiệm thu được trong suốt giai
đọan của dự án đầu tiên về nâng cao năng lực đã được củng cố thêm trong suốt thời gian thực
hiện dự án này và trên hệ thống đảm bảo chất lượng của họ sẽ tạo nên tính bền vững, và có thể

Sự có mặt của AAHL tại Việt Nam đã giúp đỡ và hỗ trợ cho phía Việt Nam thực hiện dự án
được thuận lợi và thành công. Khả năng chẩn đoán bệnh DTH và kỹ thuật nuối cấy tế bào có
chất lượng đã được thiết lập ở NAVETCO. Bộ phận nghiên cứu của NAVETCO và quản lý khoa
học có tính chuyên nghiệp cao để tập trung thực hiện dự án để đạt được các mục tiêu đề ra.

6. BÁO CÁO MỘT SỐ VẤN LIÊN QUAN

6.1 Vấn đề môi trường

Không có bất kỳ tác động môi trường xấu nào từ các hoạt động của dự án được ghi nhận. Những
vấn đề phát sinh trong tương lai có thể có là việc giảm dịch bệnh trên động vật, và kèm theo đó
là những tác động có lợi cho môi trường do việc sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn.

6.2 Vấn đề giới tính và xã hội

Lợi ích của dự án là tốt cho cả nhà chăn nuôi nhỏ và lớn. Đặc biệt đàn gia súc và thu nhập của
nhà chăn nuôi nhỏ sẽ được bảo vệ tốt nhờ vào sự sẵn có của vắc xin với giá thành phù hợp, kèm
theo sự hỗ trợ về chẩn đoán bệnh DTH và kiểm soát bệnh tại địa phương. Về giới tính, đặc biệt
tại các làng xã, thì phụ nữ sẽ là người hưởng lợi chính do họ thường là người trực tiếp chăn nuôi
và chăm sóc gia súc.

Xa hơn nữa, thì với sự sẵn có của vắc xin DTH mới và nâng cao được khả năng chẩn đoán ở các
địa phương tại Việt nam như là một phần của mạng lưới thú y sẽ góp phần giám sát và khống chế
bệnh DTH được tố hơn. Đặc biệt khả năng chẩn đóan được nâng cao và khả năng điều phối của
các phòng thí nghiệm tỉnh, vùng để chẩn đoán những
ổ dịch ghi ngờ bệnh DTH sẽ cho phép chẩn
đóan nhanh hơn và thực hiện các biện pháp phòng chống cả ở mức độ địa phương và quốc gia.

7. THỰC HIỆN VÀ TÍNH KHẢ THI



NAVETCO, RAHO 6 và các phòng thí nghiệm khác của Cục thú y đã nhận được sự hỗ trợ từ
chính phủ. NAVETCO ý thức được tầm quan trọng có ý nghĩa chiến lược từ dự án này, không
chỉ để phát triển vắc xin DTH trên môi trường tế bào, mà còn cần phải đạt được cơ sở để nuôi
cấy tế bào có chất lượng và ổn định để có thể áp dụng sản xuất các vác xin khác dùng tế bào
trong tương lai. Thêm vào nữa, tầm quan trọng chiến lược là vấn đề đảm bảo phát triển năng lực
và ổn định trong chẩn đóan bệnh DTH ở NAVETCO và RAHO 6 và các phòng thí nghiệm khác
của Cục thú y phải được nhận thức đầy đủ
bởi tất cả các nhân viên ở đó, nhằm để có được trung
tâm kiểm soát bệnh DTH tốt ở Việt Nam.

Như đã đề cập ở bản báo cáo 6 tháng trước, Kỹ thuật “Thử và kiểm tra” của AAHL cho việc
chuyển giao công nghệ và phát triển đã được chứng minh mang lại hiệu quả cao. Đặc biệt, từ sự
cộng tác đầu tiên giữa AAHL, NAVETCO và RAHO 6 đã cho thấy họ không chỉ có duy trì khả
năng chẩn đóan bệnh DTH và LMLM, mà họ còn thực hiện công việc tập huấn và chuyển giao
kỹ thuật cho các phòng chẩn đoán khác tại Việt Nam.

Việc thực hiện thành công phương pháp chẩn đoán bệnh DTH có chất lượng ở NAVETCO và
RAHO-6 từ dự án này đã cho thấy tính khả thi của nó. Đặc biệt, trong tương lai, việc công nhận
RAHO 6 như một phòng thí nghiệm tham chiếu về bệnh DTH tại Việt Nam sẽ có thuận lợi l
ớn
để ổn định việc chẩn đóan bệnh DTH và thực hiện công tác giám sát và chương trình phòng

11
chống bệnh DTH ở cấp độ quốc gia trong tương lai. Hơn nữa với khả năng chẩn đóan bệnh DTH
đã được công nhận trong mạng lưới thú y rộng lớn sẽ thuận lợi cho họat động tập huấn và đào
tạo cho thú y viên và nông dân sử dụng vác xin đạt hiệu quả cao trong sản xuất.

8. NHỮNG BƯỚC QUAN TRỌNG TIẾP THEO


c nên được thực hiện để so sánh trực tiếp giữa vác xin hiệu tại và vác xin
sản xuất trên tế bào.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status