ĐỀ CƯƠNG ÔN THI ĐẠI HỌC MÔN LỊCH SỬ NĂM 2012 - 1 pot - Pdf 15



ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN
LỊCH SỬ NĂM 2012

Tài liệu tham khảo chuẩn bị cho kỳ thi tuyển sinh cao đẳng, đại học năm 2012
dành cho các bạn học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông và luyện thi khối C
BÀI 1
NHỮNG CHUYỂN BIẾN MỚI VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TỪ
SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT
1. Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp
1.1. Bối cảnh
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, nước Pháp bị tổn thất nặng nề: hàng loạt
nhà máy, đường sá, cầu cống và làng mạc bị tàn phá, sản xuất công nghiệp bị đình
trệ, lạm phát tràn lan, giá cả gia tăng.
Để nhanh chóng khắc phục những thiệt hại, ổn định tình hình kinh tế - xã hội,
chính quyền Pháp đã ra sức khôi phục và thúc đẩy sản xuất trong nước, đồng thời
tăng cường đầu tư khai thác các nước thuộc địa của Pháp ở Đông Dương và Châu
Phi.
1.2. Chính sách khai thác của Pháp ở Đông Dương
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, thực dân Pháp đã chính thức triển khai
chương trình khai thác lần thứ hai ở Đông Dương, trong đó có Việt Nam;
Tư bản Pháp đã tăng cường đầu tư vào Việt Nam với quy mô lớn, trung chủ
yếu vào lĩnh vực nông nghiệp và khai thác khoáng sản: trong 6 năm (1924 - 1929),
tổng số vốn đầu tư vào Đông Dương, trong đó chủ yếu là Việt Nam lên đến 4 tỉ
Phờ - răng (tăng 6 lần so với 20 năm trước chiến tranh).
Chương trình khai thác lần thứ hai đã làm biến đổi mạnh mẽ nền kinh tế Việt
Nam.
1.3. Hoạt động đầu tư khai thác lần thứ hai ở Việt Nam
* Trong nông nghiệp
Năm 1927, số vốn đầu tư vào nông nghiệp mà chủ yếu là lập các đồn điền


i:
Công ty than H

Long
-

Đ

ng
Đăng; Công ty than và kim khí Đông Dương; Công ty than Tuyên
Quang; Công ty than Đông Triều.
* Giao thông vận tải tiếp tục được đầu tư phát triển, đặc biệt là hệ thống
đường sắt và đường thủy nhằm phục vụ cho công cuộc khai thác, vận chuyển vật
liệu và hàng hoá. Các đô thị được mở rộng và cư dân thành thị cũng tăng nhanh.
* Tài chính ngân hàng
Ngân hàng Đông Dương nắm quyền chỉ huy nền kinh tế Đông Dương: nắm
quyền phát hành giấy bạc và có nhiều cổ phần trong hầu hết các công ty tư bản
Pháp
* Ngoài ra, thực dân Pháp còn bóc lột nhân dân ta bằng các loại thuế khóa
nặng nề. Nhờ vậy, ngân sách Đông Dương thu được năm 1930 tăng gấp 3 lần so
với năm 1912.
2. Chính sách chính trị - xã hội và văn hoá – giáo dục của thực dân Pháp
2.1. Chính trị - xã hội
Một mặt, thực dân Pháp thi hành chính sách chuyên chế triệt để, tăng cường
hệ thống cảnh sát, mật thám, nhà tù để trấn áp các hoạt động cách mạng.
Mặt khác, tiến hành một số cải cách chính trị - hành chính, lôi kéo một bộ
phận địa chủ và tư sản Việt Nam tham gia vào Hội đồng quản hạt ở Nam kỳ, Viện
dân biểu Bắc kỳ và Trung kỳ, khai thác vai trò của bộ máy chính quyền phong
kiến tay sai.

Mấy năm sau khi chiến tranh kết thúc, giai cấp tư sản Việt Nam được hình
thành; họ phần lớn là những tiểu chủ trung gian làm thầu khoán, đại lí cho tư bản
Pháp,… đã tích luỹ vốn và đứng ra kinh doanh riêng trở thành tư sản như: Bạch
Thái Bưởi, Nguyễn Hữu Thu, Trương Văn Bền
Giai cấp tư sản Việt Nam tham gia nhiều lĩnh vực kinh doanh như Công
thương (Tiên Long Thương đoàn (Huế), Hưng Hiệp hội xã (Hà Nội), xưởng chế
xà phòng của Trương Văn Bền (Sài Gòn)), kinh doanh tiền tệ (Ngân hàng Việt
Nam ở Nam Kì), Nông nghiệp và khai mỏ (công ty của Bạch Thái Bưởi, đồn điền
cao su của Lê Phát Vĩnh và Trần Văn Chương).
Ngay khi vừa mới ra đời giai cấp tư sản Việt Nam đã bị tư bản Pháp chèn ép,
kìm hãm nên số lượng ít, thực lực kinh tế yếu, nặng về thương nghiệp và sau một
thời gian phát triển thì bị phân hoá thành hai bộ phận:
Tư sản mại bản: Có quyền lợi gắn liền với đế quốc nên họ câu kết chặt chẽ
với thực dân Pháp.
Tư sản dân tộc: Kinh doanh độc lập, bị chèn ép. Họ có khuynh hướng dân
tộc và dân chủ và giữ một vai trò đáng kể trong phong trào dân tộc.
3.3.3. Giai cấp tiểu tư sản thành thị (Những người buôn bán nhỏ, viên
chức, tri thức, học sinh, sinh viên )
Sau chiến tranh, giai cấp tiểu tư sản phát triển nhảy vọt về số lượng; họ bị tư
bản Pháp ráo riết chèn ép, khinh rẽ, bạc đãi, đời sống bấp bênh, dễ bị phá sản và
thất nghiệp.
Họ có tinh thần dân tộc, chống thực dân và tay sai. Đặc biệt bộ phận học sinh,
sinh viên, tri thức có điều kiện, khả năng tiếp xúc với các tư tưởng tiến bộ nên có
tinh thần hăng hái tham gia cách mạng.
3.3.4. Giai cấp nông dân (90% dân số)
Bị đế quốc và phong kiến áp bức bóc lột nặng nề dẫn đến bần cùng hoá và
phá sản trên quy mô lớn. Một bộ phận trở thành tá điền cho địa chủ - phong kiến,
một bộ phận nhỏ rời bỏ làng quê vào làm việc trong các nhà máy, đồn điền, hầm
mỏ của tư sản => Trở thành công nhân.
Họ có mâu thuẫn sâu sắc với đế quốc, phong kiến và sẵn sàng nỗi lên đấu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status