BÀI 4
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI (03 - 2 - 1930)
1. Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam
1.1. Đông Dương Cộng Sản Đảng và An Nam Cộng Sản Đảng
Sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc dân chủ và đặc biệt là phong
trào công nhân trong những năm 1928 – 1929 cho thấy đã đến lúc cần phải lãnh
đạo giai cấp công – nông cùng các lực lượng yêu nước khác đấu tranh chống đế
quốc, phong kiến tay sai giành độc lập, tự do.
Những yêu cầu mới đó đã vượt quá khả năng lãnh đạo của Hội Việt Nam
Cách Mạng Thanh Niên.
Cuối tháng 3/1929, một số hội viên tiên tiến của Hội Việt Nam Cách Mạng
Thanh Niên ở Bắc kỳ đã họp ở số nhà 5D Hàm Long (Hà Nội) và lập ra chi bộ
Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam gồm 7 người, mở đầu cho quá trình thành lập Đảng
cộng sản thay thế cho Hội Việt Nam cách mạng Thanh Niên.
Tháng 5/1929, tại Đại hội toàn quốc lần thứ nhất của Hội Việt Nam Cách
Mạng Thanh Niên (ở Hương Cảng – Trung Quốc), đoàn đại biểu Bắc kỳ đã đưa ra
đề nghị thành lập Đảng cộng sản, nhưng không được chấp nhận nên họ đã rút khỏi
Hội nghị về nước và tiến hành vận động thành lập Đảng cộng sản.
Ngày 17/6/1929, đại biểu các tổ chức cơ sở của Hội VNCMTN ở miền Bắc
đã họp và quyết định thành lập Đông Dương Cộng Sản Đảng, thông qua tuyên
ngôn, điều lệ Đảng và ra báo Búa liềm làm cơ quan ngôn luận.
Đông Dương Cộng Sản Đảng ra đời đã nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ
của quần chúng, uy tín và tổ chức Đảng phát triển rất nhanh, nhất là ở Bắc và
Trung kỳ.
Trước ảnh hưởng sâu rộng của Đông Dương Cộng Sản Đảng, tháng 7/1929,
các hội viên tiên tiến của Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên ở Trung Quốc và
Nam kỳ cũng đã quyêt định thành lập An Nam Cộng Sản Đảng.
1.2. Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn
Sự ra đời và ảnh hưởng sâu rộng của Đông Dương Cộng Sản Đảng và An
Nam Cộng Sản Đảng đã tác động mạnh mẽ đối với những đảng viên theo chủ
trương cách mạng vô sản trong Tân Việt Cách Mạng Đảng.
2.3. Nội dung của cương lĩnh chính trị đầu tiên (03/02/1930)
Mục tiêu của cách mạng Việt Nam là tiến hành cuộc cách mạng tư sản dân
quyền và cách mạng ruộng đất để đi tới xã hội cộng sản.
Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là đánh đổ đế quốc Pháp cùng
bọn phong kiến, tư sản phản cách mạng để làm cho nước Việt Nam độc lập, thành
lập chính phủ công – nông – binh, tiến tới làm cách mạng ruộng đất. Trong đó,
quan trọng nhất là nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai, giành độc lập dân tộc và tự
do cho nhân dân.
Lực lượng cách mạng bao gồm chủ yếu là công – nông. Ngoài ra còn phải
liên kết với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, tranh thủ hay ít ra cũng trung lập phú
nông, trung tiểu địa chủ, và tư sản An Nam chưa lộ rõ bản chất phản cách mạng.
Lãnh đạo cách mạng là Đảng cộng sản Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin
làm nền tảng tư tưởng và là kim chỉ nam cho mọi hành động.
Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, đứng
cùng mặt trận với các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân thế giới.
Cương lĩnh đầu tiên này tuy vắn tắt, nhưng thể hiện rõ tư tưởng cách mạng
đúng đắn, sáng tạo, thấm đượm tính dân tộc và tính nhân văn.
2.4. Cương lĩnh chính trị 10/1930
Tháng 10/1930, Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng đã họp Hội
nghị lần thứ nhất tại Hương Cảng (Trung Quốc).
Hội nghị đã bầu Ban chấp hành chính thức do đồng chí Trần Phú làm Tổng
Bí thư, đổi tên Đảng thành Đảng Cộng Sản Đông Dương và thông qua luận cương
chính trị do Trần Phú soạn thảo.
* Nội dung của luận cương chính trị 10/1930:
Tính chất của cách mạng Đông Dương lúc đầu là cách mạng tư sản dân
quyền. Sau khi thắng lợi sẽ bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên xã hội
chủ nghĩa.
Nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng là đánh đổ các thế lực phong kiến, các hình
thức bóc lột theo lối tiền tư bản, thực hiện triệt để cách mạng thổ địa, đánh đổ đế
quốc Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Hai nhiệm vụ này có mối
đối của giai cấp công nhân mà đội tiên phong là Đảng Cộng Sản Việt Nam. Và
cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới.
Sự ra đời của Đảng là nhân tố quyết định sự phát triển nhảy vọt về sau của
dân tộc Việt Nam. Nó đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam.
Câu hỏi và bài tập:
1. Trình bày những hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc trong những
năm từ 1919 đến 1930. (Đề thi tuyển sinh Đại học Đà Lạt năm 1999).
2. Từ năm 1919 đến năm 1930, phong trào công nhân Việt Nam đã phát triển
như thế nào? (Đề thi tuyển sinh Đại học Công đoàn năm 1999)
3. Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt
Nam (03/02/1930) (Đề thi tuyển sinh Đại học Mở Hà Nội năm 1999)
4. Anh (Chị) hãy trình bày những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trong thập
niên 20 của thế kỉ XX nhằm chuẩn bị về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự
ra đời của chính đảng vô sản ở Việt Nam. (Đề thi tuyển sinh Đại học Quốc gia
Tp. Hồ Chí Minh năm 2000)
5. Bằng những sự kiện chọn lọc, anh (chị) hãy trình bày những hoạt động của
Nguyễn Ái Quốc trong quá trình vận động thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam.
(Đề thi tuyển sinh Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2001).
5. Hoàn cảnh lịch sử và nội dung của Hội nghị thành lập Đảng Cộng Sản
Việt Nam (03/02/1930). (Đề thi tuyển sinh Cao đẳng Sư phạm Tp. Hồ Chí
Minh năm 1999).
7. Ý nghĩa của việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam (03/02/1930). (Đề
thi tuyển sinh Đại học Luật Hà Nội năm 1999).
8. Tại sao nói: sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam là một bước ngoặt vĩ
đại của cách mạng Việt Nam? (Đề thi tuyển sinh Đại học mở Hà Nội năm 1999)
9. Nội dung cơ bản của cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng Sản
Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được thông qua tại Hội nghị thành lập
Đảng 03/02/1930. (Đề thi tuyển sinh Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2000).
10. Hãy phân tích tính cách mạng đúng đắn và sáng tạo của Cương lĩnh chính trị
đầu tiên của Đảng Cộng Sản Việt Nam. (Đề thi tuyển sinh Đại học Quốc gia Tp.