Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong chuỗi giá trị nông nghiệp: trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi " - Pdf 15



CARD Project 030/06 VIE: Tăng cường khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong chuỗi giá trị nông nghiệp:
trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi

Tóm lược chính sách 5/ 2010

Sử dụng thức ăn công nghiệp và thức ăn trộn của các hộ chăn nuôi
ở Việt Nam

Thông tin từ tóm lược chính sách này
dành cho Bộ trưởng và các ban ngành có
liên quan của Bộ Nông nghiệp & PTNT;
các Sở Nông nghiệp & PTNT các tỉnh.

Mục đích
• Trình bày những kết quả nghiên cứu
liên quan đến việc sử dụng thức ăn
chăn nuôi của những hộ chăn nuôi gà
và lợn ở Việt Nam.
• Đưa ra những gợi ý từ nghiên cứu về
việc sử dụng thức ăn công nghiệp và
th
ức ăn trộn hiện nay và trong tương
lai của những hộ chăn nuôi ở Việt
nam

Thông tin nền
Một cuộc điều tra 300 hộ chăn nuôi gà
và lợn ở các quy mô khác nhau đã được

Tỷ lệ cao của chi phí thứ ăn trong tổng
cho phí chăn nuôi cho thấy việc sử dụng
thức ăn hiệu quả là rất quan trọng trong
chăn nuôi. Trong tóm lược chính sách
này, các kết quả nghiên cứu về việc sử
dụng thức ăn và hiệu quả sử dụng thức
ăn trong chăn nuôi sẽ
được đưa ra thảo
luận.

Sử dụng thức ăn chăn nuôi của hộ
Thức ăn công nghiệp được sử dụng
phổ biến hơn ở những hộ quy mô lớn
và trong các giai đoạn đầu của chu kỳ
chăn nuôi
Nhìn chung, có nhiều hộ hơn ở nhóm
quy mô lớn hơn, ở các giai đoạn đầu so
với các giai đoạn sau của chu kỳ chăn
nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp. Các 2
sự khác biệt theo quy mô cũng đúng khi
xét đến lượng thức ăn công nghiệp được
sử dụng: đó là những hộ quy mô lớn hơn
sử dụng nhiều thức ăn công nghiệp hơn
(cụ thể là lượng thức ăn cho ăn trên 1
con). Thức ăn công nghiệp được sản xuất
bởi các doan nghiệp nước ngoài được ưa
thích hơn so với thức ăn do các công ty

gà thả rông cũng có xu hướng sử dụng ít
th
ức ăn hỗn hợp hơn.
Đối với chăn nuôi lợn: tỷ lệ hộ sử dụng
thức ăn hỗn hợp để nuôi lợn thịt cao hơn
so với nuôi lợn nái. Đối với chăn nuôi
lợn nái, tỷ lệ hộ sử dụng thức ăn hỗn hợp
nhìn chung là cao nhất vào giai đoạn
đang cho con bú với tỷ lệ 65%. Đối với 1
Một lứa gà thường có 3 giai đoạn cho ăn. Đối
với gà thịt, giai đoạn 1 kéo dài khoảng 29 ngày,
giai đoạn là 48 ngày tiếp theo và giai đoạn 3 là
40 ngày còn lại. Đối với gà đẻ, độ dài của 3 giai
đoạn theo thứ tự là 94 ngày, 172 ngày và 250
ngày.
chăn nuôi lợn thịt, tỷ lệ hộ sử dụng thức
ăn hỗn hợp ở giai đoạn lợn con (85%)
cao hơn so với các giai đoạn sau
2
. Tương
tự như chăn nuôi gà, tỷ lệ hộ ở quy mô
lớn cho lợn ăn bằng thức ăn hỗn hợp cao
hơn so với tỷ lệ hộ ở quy mô nhỏ, và
điều này nhìn chung là đúng cho tất cả
các giai đoạn khác nhau trong chăn nuôi
lợn thịt và lợn nái.
Chỉ cho ăn thức ăn trộn không còn phổ

chăn nuôi gà thịt, tỷ lệ FCR - số kg thức
ăn cho ăn trên 1 kg gà sản phẩm giảm
dần khi quy mô tăng lên. FCR đối với
chăn nuôi gà thịt ở tất cả các h
ộ giảm
dần từ giống gà địa phương cho đến
giống lai và đến giống ngoại (3,94, 2,45
và 2,24 theo thứ tự). FCR cũng thấp hơn
rất nhiều ở những hộ chỉ cho ăn thức ăn 2
Một lứa lợn thịt gồm 2 giai đoạn cho ăn chính:
giai đoạn 1 (nuôi lợn con) kéo dài 60 ngày và
giai đoạn 2 (nuôi lợn bột cho đến khi giết mổ)
kéo dài 98 ngày. 3
hỗn hợp so với những hộ cho ăn thức ăn
kết hợp, và cũng thấp hơn về mặt thống
kê ở những hộ sử dụng thức ăn hỗn hợp
nhãn hiệu nước ngoài so với những hộ
sử dụng thức ăn nhãn hiệu nội địa trong
trường hợp của gà (2,94 so với 4,18).
Các tỷ lệ FCR đối với chă
n nuôi lợn sử
dụng thức ăn hỗn hợp thấp hơn về mặt
thống kê đối với các hộ chăn nuôi quy
mô nhỏ (2,08) so với các hộ quy mô lớn

chi chí thức ăn trên 1 kg thịt tăng trọng
giữa những hộ chỉ cho ăn thức ăn hỗn
hợp và cho ăn kết hợp cũ
ng thấp hơn về
mặt thống kê so những hộ chỉ cho ăn
thức ăn trộn (22.686 đồng so với 27.888
đồng) (Bảng 1). Kết quả này ủng hộ việc
sử dụng thức ăn công nghiệp đối với
chăn nuôi chi phí hiệu quả. Chú ý rằng
sản xuất có hiệu quả về mặt chi phí cũng
nên cân nhắc đến giá bán sản phẩm, điều
này có thể phả
n ánh sự khác biệt sản
phẩm về mùi vị và chất lượng thức ăn
trong khẩu phần ăn của vật nuôi. Tuy
nhiên, điều này không được đưa vào xem
xét trong các phân tích ở đây. Các sự
khác biệt về chi phí theo loại thức ăn
không có ý nghĩa thống kê đối với các hộ
quy mô nhỏ và trung bình, nhưng đối với
các hộ quy mô lớn, chi phí một ngày nếu
chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợ
p thấp hơn về
mặt thống kê so với cho ăn thức ăn kết
hợp.
Ảnh hưởng của nhãn hiệu thức ăn đối
với chi phí thức ăn trên 1 kg thịt tăng
trọng cũng được kiểm tra nhưng các sự
khác biệt về giá trị trung bình lại không
có ý nghĩa thống kê. Vì vậy, mặc dù

đối với trường hợp chăn nuôi lợn ủng hộ
việc sử dụng thức ăn kết hợp (thường sử
dụng những thức ăn tận dụng trong gia
đình) vì các hộ có thể giảm được khoảng
3.400 đồng chi phí thức ăn trên 1 kg thịt
tăng trọng. Cũng như trước đó, các sự
khác biệt có thể về giá bán của các loại 4
giống được nuôi theo các cách thức cho
ăn khác nhau không được đề cập.
Các gợi ý đối với việc sử dụng thức ăn
của các hộ chăn nuôi
• Nhìn chung, các hộ chăn nuôi gà và
lợn quy mô lớn hơn có xu hướng sử
dụng thức ăn công nghiệp nhiều hơn
trong khẩu phần ăn của vật nuôi. Khi
ngành chăn nuôi phát triển và có xu
hướng tập trung vào chăn nuôi quy
mô lớn hơn thì nhu c
ầu đối với thức
ăn công nghiệp cũng sẽ tăng lên.
• Thức ăn công nghiệp được trình bày
bằng các kết quả ở trên cho thấy hiệu
quả chi phí cao hơn ở những hộ chăn
nuôi gà. Tuy nhiên, có một vài bằng
chúng ủng hộ cho việc sử dụng chi
phí hiệu quả đối với thức ăn kết hợp
- đặc biệt là ở các hộ chăn nuôi lợn.

Tham khảo thêm
Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp,
2010. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong
ngành thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam: Phần
1. Sản xuất thức ăn chăn nuôi. Báo cáo cho
Dự án CARD 030/06.
Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp,
2010. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong
ngành thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam: Phần
II. Sử dụng thức ăn chăn nuôi của các hộ
chăn nuôi gà và lợn. Báo cáo cho Dự án
CARD 030/06. 5
Bảng 1 Chi phí thức ăn trên một ngày và trên 1 kg thịt tăng trọng đối với chăn nuôi
gà thịt: theo vùng, quy mô và khẩu phần ăn (Nguồn: Điều tra hộ chăn nuôi, CARD
2009)
Chi phí thức ăn trên 1 gà thịt
trên 1 ngày (nghìn đồng)
Chi phí thức ăn trên 1 kg thịt tăng trọng
(nghìn đồng)
Chỉ thức
ăn hỗn
hợp
Thức ăn trộn &
thức ăn hỗn hợp
Chỉ thức
ăn hỗn hợp
Thức ăn

t hợp nhưng không có khác biệt thống kê nếu chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp.
c. Chi phí một ngày không có khác biệt về mặt thống kê giữa các quy mô khi xét cho từng loại thức ăn, chi
phí trên 1 kg thịt tăng trọng không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các quy mô nếu chỉ cho ăn thức ăn
hỗn hợp, chi phí trung bình cho 1 kg thịt tăng trọng nếu cho ăn kết hợp cao hơn về mặt thống kê ở
các hộ
quy mô lớn.
* Chỉ có 2 hộ chăn nuôi ở quy mô lớn có sử dụng cách thức cho ăn kết hợp cả thức ăn trộn và thức ăn hỗn
hợp, do đó kết quả không được trình bày ở đây.
# ANOVA là phân tích phương sai, nsd có nghĩa là không có sự khác biệt về mặt thống kê.

Bảng 2 Chi phí thức ăn trên 1 ngày và trên 1 kg lợn thịt tăng trọng, theo vùng, quy
mô, và cách thức cho ăn (Nguồn: Điều tra hộ chăn nuôi, CARD, 2009)

Chi phí thức ăn trên 1 ngày
(Nghìn đồng)
Chi phí thức ăn trên 1 kg thịt tăng trọng
(nghìn đồng)

Chỉ thức ăn
hỗn hợp
Thức ăn
trộn &
thức ăn
hỗn hợp
Anova
#
(chi
phí/ ngày
theo cách
thức cho ăn)

Tóm lược chính sách 5/ 2010

Những khó khăn mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành sản xuất
thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam đang phải đối mặt

Thông tin từ tóm lược chính sách này
dành cho Bộ trưởng và ban ngành có liên
quan của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn, các sở Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn các tỉnh, Hiệp hội doanh
nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam.

Mục đích:
• Trình bày những khó khăn chủ yếu
mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ
(DNVVN) trong ngành sản xuất thức
ăn chăn nuôi ở Việt Nam đang gặp
phải.
• Đề xuất một số chính sách cần thi
ết
để giải quyết những khó khăn này.

Thông tin nền
Các doanh nghiệp lớn chiếm lĩnh thị
trường trong ngành sản xuất thức ăn
chăn nuôi, nhưng cũng còn rất nhiều
DNVVN hoạt động trong ngành này.
Các DNVVN phải chịu áp lực rất lớn để
duy trì được khả năng cạnh tranh.
Mới chỉ có rất ít các nghiên cứu về khả

chăn nuôi được phân loại như sau: Quy
mô nhỏ là các doanh nghiệp sản xuất
dưới 10,000 tấn một năm; quy mô vừa là
các doanh nghiệp sản xuất từ 10.000 tấn
đến dưới 60.000 tấn một năm; và quy mô
lớn là các doanh nghiệ
p sản xuất từ
60.000 tấn trở lên một năm. Trong Tóm
lược chính sách này, nói đến DNVVN là
nói đến những doanh nghiệp ở cả quy
mô nhỏ và vừa, mặc dù có một vài kết
quả được trình bày tách biệt cho các
doanh nghiệp nhỏ và các doanh nghiệp
vừa
2
Các khó khăn mà DNVVN hoạt động trong
ngành đang phải đối mặt
Giới hạn trong tiếp cận nguồn tín dụng đầy đủ
Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các
doanh nghiệp nhỏ gặp khó khăn trong
việc tiếp cận với các khoản vay từ các
nguồn tín dụng chính thức. Tỷ lệ các
DNVVN có thể vay được đủ vốn theo
nhu cầu thấp hơn so với tỷ lệ
của các
doanh nghiệp vừa và lớn.
Gần 70 % doanh nghiệp sản xuất thức ăn

phủ nên đư
a ra nhiều sự hỗ trợ hơn đối
với các doanh nghiệp trong việc tiếp cận
nguồn tín dụng. Đây là vai trò quan
trọng nhất của Chính phủ được đưa ra
bởi các doanh nghiệp trong điều tra. Phát
hiện này phản ánh những khó khăn mà
các doanh nghiệp, đặc biệt là các
DNVVN, phải đối mặt khi vay vốn (lãi
suất cao, thủ tục hành chính, thiếu tài sản
thế chấp và giới hạn về khoả
n vay…) và
ưu tiên hàng đầu của các doanh nghiệp là
cần những chính sách để giải quyết
những khó khăn về tín dụng.
Thu mua và lưu trữ các nguyên liệu thô
Không có bằng chứng thống kê nào cho
thấy các doanh nghiệp nhỏ trả nhiều hơn
cho việc mua các nguyên liệu đầu vào
sử dụng trong sản xuất thức ăn chăn
nuôi. Cần chú ý rằng, những số liệu này
không xét đến chất lượng của nguyên
liệu
được mua. Tuy nhiên, có một điều
rõ ràng từ các số liệu là các DNVVN
phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn nguyên
liệu trong nước, đặc biệt là bột cá so với
các doanh nghiệp lớn.
Các DNVVN thường có quy mô kho
chứa nhỏ hơn và khả năng dự trữ trong

hóa, và tỷ lệ này ở các doanh nghiệp lớn
(61%) cao hơn so với các DNVVN. Lệ 3
phí cầu đường, các rào cản về đường xá
liên huyện và liên tỉnh cùng với việc
kiểm soát của cảnh sát là những lý do
được cho là những rào cản quan trọng
nhất với việc vận chuyển hàng hóa của
67% doanh nghiệp nhỏ, 33% doanh
nghiệp vừa và 75% doanh nghiệp lớn.
Thiếu năng lực trong việc thực hiện
kiểm soát về chất lượng đầy đủ
Trong cuộc điều tra 62 doanh nghiệ
p sản
xuất thức ăn chăn nuôi được thực hiện
bởi Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông
nghiệp năm 2008, các quy trình kiểm
soát chất lượng của các doanh nghiệp
nước ngoài, liên doanh và doanh nghiệp
lớn đã được chứng minh là tốt hơn ở cả 2
khâu kiểm tra nguyên liệu đầu vào và
sản phẩm đầu ra. Rõ ràng là có những
vấn đề về kiểm soát chất lượng đối với
các doanh nghiệp nhỏ, doanh nghi
ệp
trong nước. Rất ít các doanh nghiệp
được khảo sát đề nghị hỗ trợ về kỹ thuật,
kiểm soát chất lượng, tập huấn hoặc yêu

cạnh tranh được với các doanh
nghiệp lớn (ví dụ như: mua nguyên
liệu, cải thiện công cụ quản lý chất
lượng…).
2. Cải tiến các tiêu chuẩn kiểm soát
chất lượng của các doanh nghiệp nhỏ
trong nước. Hiện tại có một sự khác
biệt lớn về các thủ tục kiểm soát chất
l
ượng đang được thực hiện trong các
doanh nghiệp trong nước và các
doanh nghiệp nước ngoài. Để cạnh
tranh trong lĩnh vực này một cách lâu
dài, hệ thống tiêu chuẩn kiểm soát
chất lượng của các DNVVN trong
nước cần phải được cải thiện. Một số
khuyến nghị cụ thể hơn về việc cải
thiện kiểm soát chất lượng sẽ được
trình bày trong bản Tóm lược chính
sách về
“ Kiểm soát chất lượng trong
ngành thức ăn chăn nuôi ở Việt
Nam.”
3. Xây dựng các liên kết thị trường tốt
hơn giữa các DNVVN và các nhà
cung cấp nguyên liệu. Chiến lược
này, cùng với cải tiến quản lý chuỗi
cung ứng, có thể làm tăng chất lượng
và giảm chi phí của các nguyên liệu
thô trong nước, mang lại lợi ích cho

mô nhỏ và quy mô sản xuất hàng
hóa. Tham nhũng liên quan đến các
hoạt động của cảnh sát cần phải được
ngăn ngừa và giải quyết.
6.
Hỗ trợ củng cố vai trò của Hiệp hội
thức ăn chăn nuôi Việt Nam
(VAFA). VAFA có thể đóng vai trò
quan trọng và hữu ích cho các
DNVVN trong ngành này. Hiệp hội
này đã giúp các DNVVN trong các
công thức chế biến thức ăn, và tư vấn
nhiều khía cạnh khác nhau cho sản
xuất, và vai trò này có thể được mở
rộng bao gồm cả việc hỗ trợ trong
việc cung cấp thông tin về thị trường
trong nước và qu
ốc tế, thu mua
nguyên liệu (ví dụ như nhập nguyên
liệu thô) và cải tiến các thủ tục kiểm
soát chất lượng. Cả các DNVVN và
các doanh nghiệp lớn nên thể hiện
vai trò trong việc thảo luận và phát
triển vai trò của VAFA trong tương
lai. Chính sách bảo hộ cho ngành
thức ăn chăn nuôi nói chung và
DNVVN nói riêng nên được xem
xét. Tư cách hội viên của Hiệp hội
thức ăn chăn nuôi nên bắt buộc cho
tất cả các doanh nghiệp sả

Tóm luợc chính sách 5/2010

Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành sản
xuất thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam

Thông tin từ tóm lược chính sách này
dành cho Bộ trưởng và các nhà chức
trách có liên quan của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn, các sở Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh,
Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi, Hiệp hội
Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam và
các nhà quản lý của các doanh nghiệp
đang hoạt động trong ngành thức ăn
chăn nuôi.

Mục đích
• Trình bày các kết quả nghiên cứu
liên quan đến khả năng cạ
nh tranh
của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
(DNVVN) đang hoạt động trong
ngành thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam,

• Đưa ra những gợi ý - từ những kết
quả nghiên cứu – liên quan đến sự
phát triển bền vững của các DNVVN
trong ngành.

Thông tin nền

xuất từ 60.000 tấn/năm trở lên. Trong
tóm lược chính sách này, nói đến
DNVVN là nói đến những doanh nghiệp
ở cả quy mô nhỏ và vừa, mặc dù có một
vài kết quả được trình bày tách biệt cho
các doanh nghiệp nhỏ và các doanh
nghiệp vừa.
Khả năng cạnh tranh trong ngành thức
ăn chăn nuôi chịu tác động bởi chi phí
sản xuất tương đối c
ủa các doanh nghiệp
ở các quy mô khác nhau. Nghiên cứu
này tập trung vào việc so sánh các
DNVVN với các doanh nghiệp lớn về 2
các khía cạnh liên quan đến các hoạt
động sản xuất và kinh doanh của hộ, bao
gồm: sử dụng nguyên liệu đầu vào, lưu
trữ, các loại sản phẩm, kiểm soát chất
lượng, các kênh cung cấp và phân phối,
thị phần, các dịch vụ cung cấp và đối
tượng khách hàng. Những hoạt động này
đưa ra những chỉ tiêu rõ ràng hơn về việc
làm sao các DNVVN có thể cạnh tranh
được với các doanh nghiệp lớn.

Các kết quả về khả năng cạnh tranh
của các DNVVN

cũng cao hơn đối với những doanh
nghiệp sản xuất nhiều thức ăn đậm đặc.
Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chi
phí nguyên liệu thô chiếm khoảng 80%
tổng chi phí sản xuất của các doanh
nghiệp. Một phần tích về các chi phí
khác ngoài chi phí nguyên liệu thô cho
thấy, các doanh nghiệp lớn có mức chi
phí đơn vị thấp hơn về mặt thố
ng kê so
với các doanh nghiệp nhỏ (970 đồng trên
1 kg so với 2.050 đồng trên 1 kg trong
năm 2007), điều này cho thấy hiệu quả
quy mô gắn với các doanh nghiệp lớn
hơn.
Các doanh nghiệp nhỏ sử dụng 19 lao
động để sản xuất ra một tấn sản phẩm, so
với khoảng 11 lao động được sử dụng ở
các doanh nghiệp vừa và lớn, và sự khác
biệt này là có ý nghĩa về mặt thống kê.
Đ
iều này có thể nói lên hiệu quả sử dụng
lao động thấp của các doanh nghiệp nhỏ,
hay việc sử dụng vốn thay thế của các
doanh nghiệp lớn hơn. Điều này cũng
nói lên rằng các doanh nghiệp nhỏ đóng
một vai trò quan trọng trong việc cung
cấp việc làm.
Lợi nhuận của các DNVVN
Chúng tôi không có đủ số liệu để so sánh

Các chiến lược sử dụng bởi các
DNVVN để cạnh tranh thị phần với
các doanh nghiệp lớn
Cung cấp tín dụng cho người mua
Các DNVVN có xu hướng cung cấp tín
dụng cho các khách hàng mua sản phẩm
của họ nhiều hơn so với các doanh
nghiệp lớn. Tín dụng hoặc các phương
thức trả chậm khi mua sản phẩm không
được xem là phương thức thanh toán
thông thường của các doanh nghiệp lớn,
ngược l
ại cả hai phương thức thanh toán
này đều là các phương thức thông
thường mà các DNVVN áp dụng. Phần
lớn các giao dịch bán sản phẩm thức ăn
hoàn chỉnh và 75% giao dịch bán thức
ăn đậm đặc cho các đại lý bán buôn bởi
các công ty lớn được thực hiện theo
phương thức trả trước. Chi phí tín dụng
là nguồn phí cộng thêm vào mà các
doanh nghiệp vừa và nhỏ phải chi trả so
với các doanh nghiệp quy mô lớn tuy
nhiên nó là chiến lược để
đảm bảo các
đầu mối bán hàng. Các doanh nghiệp
vừa là nhóm duy nhất tuyên bố mua các
nguyên liệu đầu vào qua hình thức
“thanh toán trả trước” với 15% số lượng
hàng thu mua sẽ được trả trước. Phương

cấp/ phân phối áp dụng bởi các DNVVN
và các doanh nghiệp lớn trong ngành
thức ăn chăn nuôi tương đối khác nhau,
điều này nói lên rằng họ thu mua nguyên
liệu và phân phối sản phẩm từ/cho các
phân đoạn thị trường khác nhau. Không
giống như các doanh nghiệp lớn, các
DNVVN thu mua đầu vào hay bán sản
phẩm đầu ra trực tiếp từ/cho các hộ gia
đình nhỏ. Các doanh nghiệp lớn phụ
thuộc hơn vào nguồn nhập khẩu (ví dụ
ngô) để đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu
của họ trong khi các DNVVN có thể
đảm bảo đủ nguồn cung nguyên liệu thô
từ thị trường trong nước.
Các DNVVN có xu hướng đa dạng hóa
nhiều hơn các hoạt động kinh doanh và
ngoài ra họ bán sản phẩm cho nhiều đối
tượng khách hàng bao gồm các doanh
nghiệp khác, các đại lý và các hộ chăn
nuôi. Đặc biệt các doanh nghiệp nhỏ

hướng việc bán sản phẩm trực tiếp cho
các hộ gia đình và doanh nghiệp vừa
mục tiêu chủ yếu hướng và các đại lý
bán lẻ. Ngược lại, các doanh nghiệp lớn
hầu hết phân phối sản phẩm của họ cho
các đại lý bán buôn và các thương lái và
chỉ thu mua nguyên liệu đầu vào từ các
cơ sở chế biến tư nhân và các doanh

vụ này đến các đại lý.

Các gợi ý cho sự phát triển bền vững
của các DNVVN trong ngành
Các kết quả nghiên cứu chỉ ra các cách
tiếp cận có thể cân nhắc để đảm bảo sự
phát triển bền bững của các DNVVN
trong ngành.
1. Các doanh nghiệp nhỏ cần tăng quy
mô sản xu
ất
Các kết quả ủng hộ ý kiến cho rằng các
doanh nghiệp vừa (sản xuất từ 10.000
đến 60.000 tấn/ năm) vẫn duy trì được
khả năng cạnh tranh, với các chi phí, kết
hợp sản phẩm và giá tương đương với
cách doanh nghiệp lớn. Họ có chiến lược
bán hàng tập trung vào một nhóm đối
tượng khách hàng khác với nhóm doanh
nghiệp lớn (tức là các đại lý bán lẻ hơn
là các đại lý bán buôn). Các doanh
nghiệ
p nhỏ (sản xuất dưới 10.000 tấn
một năm) xem ra phải chịu áp lực rất lớn
để có thể tồn tại, và rất nhiều doanh
nghiệp sẽ cần tăng quy mô sản xuất để
duy trì được hoạt động.
2. Cân nhắc các lợi thế đạt được từ 1
cấu trúc hợp tác.
Các DNVVN nên xem xét các lợi thế có

sản xuất chính, và làm sao để mở rộng
được thị trường này thành một thị trường
chuyên biệt một cho các DNVVN . Các
cơ hội cũng có thể đặ
t ra đối với việc sản
xuất ra những sản phẩm thức ăn chăn
nuôi chuyên biệt phục vụ cho ngành
chăn nuôi quy mô nhỏ hơn (chẳng hạn
như vịt, gà và lợn giống địa phương, và
bò) hơn là cạnh tranh lại với các công ty
nước ngoài để cung cấp thức ăn cho chăn
nuôi gà và lợn.
4. Nguồn cung cấp trong nước về các
nguyên liệu thô đầu vào là rất quan
trọng đối v
ới các DNVVN
Các DNVVN có xu hướng mua các
nguyên liệu đầu vào từ các nguồn địa
phương nhiều hơn, điều này chỉ ra rằng
thị trường nguyên liệu trong nước là rất
quan trọng đối với các DNVVN. Việc
quản lý tốt hơn chuỗi cung cấp có thể
tăng chất lượng và giảm chi phí của các
nguyên liệu thô trong nước từ đó mang
lại lợi ích cho các DNVVN hoạt động
trong ngành thức ăn chăn nuôi. Mộ
t
nghiên cứu sâu hơn về việc quản lý kênh
cung cấp nguyên liệu đầu vào của các
doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi quy mô

đầu vào, và thiếu khả năng để thực hiện
việc kiểm soát chất lượng. Các cách tiếp
cận chính sách cần có để giải quyết
những thách thức này được phân tích rõ
hơn trong một Tóm lược chính sách
riêng về “Các thách thức mà các
DNVVN trong ngành sả
n xuất thức ăn
chăn nuôi ở Việt Nam đang phải đối
mặt”

Tham khảo thêm
Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp,
2010. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong
ngành thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam: Phần
1. Sản xuất thức ăn chăn nuôi. Báo cáo cho
Dự án CARD 030/06.
Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp,
2010. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong
ngành thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam: Phần
II. Sử dụng thức ăn chăn nuôi của các hộ
chăn nuôi gà và lợn. Báo cáo cho Dự án
CARD 030/06.

CARD Project 030/06 VIE: Tăng cường khả năng cạnh tranh của
các doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong chuỗi giá trị nông
nghiệp: trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi

nuôi Việt Nam. Mặc dù những quy định
(xem dưới đây), có nhận thức về chất
lượng thấp của thức ăn chăn nuôi sản
xuất tại Việt Nam, đặc biệt là từ các
doanh nghiệp trong nước, và các tiêu
chuẩn kiểm soát chất lượng nhìn chung
còn nghèo nàn (đặc biệt là liên quan đến
các chất gây ô nhiễm và sử dụng các
chất phụ gia) của các doanh nghiệp
trong ngành này. Kiểm soát chất lượng
trong sản xuất thức ăn chăn nuôi thuộc
về trách nhiệm của các cơ quan nhà
nước (ví dụ như Cục chăn nuôi), và cũng
là trách nhiệm của bản thân các doanh
nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi. Có
một số quyết định của Chính phủ Việt
Nam có liên quan đến kiểm soát chất
lượng thức ăn chăn nuôi sản xuất tại
Việt Nam, bao gồm:
• Nghị định 15-CP (Tháng 3 năm
1996) quy định về việc thống nhất
trong quản lý thức ăn chăn nuôi của
nhà nước. Cùng với những văn bản
khác, Nghị định này quy định việc
dán nhãn cụ thể cho các sản phẩm
thức ăn chăn nuôi.
• Quyết định 104/2001/QD-BNN
(Tháng 10 năm 2001). Quyết định
này quy định về hàm lượng tối thiểu
và tối đa các chất (như aflotoxins,

1. Chỉ một số ít các doanh nghiệp ở Việt
Nam áp dụng tiêu chuẩn quốc tế tiên tiến
cho việc kiểm soát chất lượng. Trong
các doanh nghiệp điều tra, chỉ 7% các
doanh nghiệp nước ngoài/ liên doanh và
không có doanh nghiệ
p trong nước nào
có chứng chỉ HACCP. 50% doanh
nghiệp nước ngoài/ liên doanh có chứng
nhận tiêu chuẩn ISO so với 23% doanh
nghiệp trong nước.
2. Một quy trình kiểm soát chất lượng
tốt hơn cho cả nguồn nguyên liệu đầu
vào sản phẩm đầu ra của các doanh
nghiệp nước ngoài và liên doanh là hết
sức rõ ràng khi so sánh với các soanh
nghiệp trong nước. Một tỉ lệ cao hơn của
các doanh nghiệp nước ngoài có phòng
thí nghiệm kiểm soát chất lượng riêng
v
ới các bài kiểm tra đa dạng đối với các
nguyên liệu thô và sản phẩm thức ăn
chăn nuôi (94% so với 46%), có các dây
chuyền sản xuất riêng biệt cho các loại
sản phẩm thức ăn chăn nuôi khác nhau
(35% so với 23%), có hệ thống làm sạch
tự động (91% so với 20%) và phần mềm
chia tỷ lệ thức ăn với chi phí thấp nhất
(94% so với 80%).
Theo quy mô sản xuất, chỉ có 65%

nuôi, sau đó ủy thác trách nhiệm cho các
Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn
cấp tỉnh để thực hiện tất cả các hoạt
động và nhiệm vụ, cũng như trách nhiệm
giám sát và đảm b
ảo vệ sinh và an toàn
trong việc sản xuất và sử dụng thức ăn
chăn nuôi trên địa bàn tỉnh mình. Ở đây
có một sự tương phản với Thái Lan nơi
mà chất lượng thức ăn được kiểm soát
chặt chẽ bởi Cục phát triển chăn nuôi.
Tại Thái Lan, cơ quan này có trách
nhiệm trong việc kiểm tra toàn bộ thức
ăn chăn nuôi của các nhà máy một cách
thường xuyên và miễn phí. Cơ quan này
c
ũng tiến hành mở các khóa đào tạo về
hệ thống GMP (thực hành quản lý tốt)
và hệ thống HACCP.
5. Các phòng thí nghiệm ở Việt Nam
không có đủ công suất để kiểm tra
thường xuyên 15 thông số dinh dưỡng
đòi hỏi để đăng ký các sản phẩm thức ăn
chăn nuôi ở Việt Nam. Cục phát triển
Chăn nuôi Thái Lan (Vụ Tiêu chuẩn và
Chứng nhận chăn nuôi) chỉ xác định tối
thiể
u 4 thông số cho mỗi loại thức ăn: tỷ
lệ protein, độ ẩm, chất béo và chất xơ.
Đây là những yêu cầu tối thiểu đối với


Tại sao có sự khác biệt về hành vi
đối với kiểm soát chất lượng được
thực hiện bởi FDI và các doanh
nghiệp tư nhân nước ngoài.
• Các chính sách có đầy đủ và phù hợp
để đảm bảo kiểm soát chất lượng hay
không?
• Việc thực thi các quy định về kiểm
soát chất lượng có được thực hiện
một cách hiệu quả và phù hợp hay
không?
• Có các chế độ phù hợp cho các
doanh nghiệp và nhân viên Chính
phủ thực hiện các quy định về kiểm
soát chất lượng hay không?
Các kết quả thu được từ cuộc điều tra
cho thấy rằng tất cả các vấn đề đưa ra
trong các câu hỏi hạn chế các doanh
nghiệp nội địa trong việc áp dụng các
biện pháp kiểm soát chất lượng hiệu quả
trong một chừng mực nào đó. Để khắc
phục điề
u này, các chính sách chủ động
là cần thiết để hỗ trợ các doanh nghiệp
sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước
cải thiện các tiêu chuẩn kiểm soát chất
lượng của họ. Nếu các tiêu chuẩn về an
toàn thực phẩm dài hạn được đạt tới,
Chính phủ Việt Nam cần giải quyết các

Lựa chọn này phụ thuộc vào trách nhiệm
của cơ quan được giao nhiệm vụ kiểm
soát chất lượng thức ăn chăn nuôi với
các trang thiết bị đầy đủ, nguồn lực nhân
sự và kĩ năng để tực hiện các bài kiểm
tra. Các khía cạnh có th
ể cần xem xét
bao gồm:
• Cân nhắc lại xem các thí nghiệm
kiểm soát chất lượng có thể được
tiến hành khả thi là cần thiết. Hiện
tại 15 tiêu chuẩn đánh giá (theo
Quyết định 113/QĐ/BNN tháng 10
năm 2001 về danh mục các chỉ tiêu 4
kỹ thuật cho thức ăn chăn nuôi) đã
được đưa ra, nhưng khả năng thực
thi chúng lại bị hạn chế. Cục phát
triển chăn nuôi Thái Lan chỉ đưa ra
rất ít tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng
nhưng thực tế thực hiện tới 3 lần 1
năm. Số lượng các bài kiểm tra yêu
cầu và tần xuất các thử nghiệm nên
được định rõ ở mứ
c độ có thể thực
hiện được.
• Tham nhũng liên quan đến việc
không báo cáo về sai phạm liên quan

soát của Cục chăn nuôi (hoặc mộ
t cơ
quan nhà nước có thẩm quyền khác).
Khóa đào tạo này có thể được trợ cấp từ
Chính phủ.

Một số khuyến nghị
1. Chính phủ cần đầu tư trang thiết bị
tốt hơn cho các phòng thí nghiệm và
đào tạo đội ngũ cán bộ có thể đảm
đương tốt các thủ tục kiểm tra đó.
2. Trách nhiệm về kiểm tra sản phẩm
thứ
c ăn chăn nuôi nên được ghi rõ
cho một cơ quan cụ thể (ví dụ như
Cục Chăn nuôi) để thực hiện các
nhiệm vụ và hoạt động có liên quan,
và đầu tư cho khả năng thực hiện của
họ (kĩ năng và nguồn lực) nhằm thực
hiện các quy trình kiểm soát chất
lượng đầy đủ cho các sản phẩm thức
ăn chăn nuôi.
3. Cần học t
ập kinh nghiệm từ hoạt
động của hệ thống kiểm soát chất
lượng thức ăn chăn nuôi của Thái
Lan (và các quốc gia láng giềng khác
có liên quan đến lĩnh vực sản xuất
thức ăn chăn nuôi).
4. Các doanh nghiệp trong ngành nên

VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
TRUNG TÂM TƯ VẤN CHÍNH SÁCH
Dự án CARD 030/06 VIE: Xây dựng chiến lược tăng cường khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong chuỗi
ngành hàng nông sản: trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi

Báo cáo Thảo luận: Dự án CARD 030/06 VIE Đường lối chính sách trong ngành chăn nuôi:
vai trò của IPSARD/CAP


2.1 Các chính sách chăn nuôi (2000-2010)
Nhiều nghị định và quy định của chính phủ Việt Nam (GoV) có liên quan tới chính
sách cho ngành chăn nuôi và ngành thức ăn chăn nuôi. Các quy định này được phân
loại dưới đây theo các chính sách liên quan tới chiến lược phát triển, kiểm soát đầu
vào và kiểm soát chất lượng.

2.1.1 Chính sách về chiến lược phát triển ngành
Nghị định 15-CP (ngày 19/3/1996): Về quản lý thức ăn chăn nuôi.
Nghị định này quy định nhà nước sẽ áp dụng quản lý thống nhấ
t đối với hoạt động sản
xuất, kinh doanh, xuất khẩu và nhập khẩu thức ăn chăn nuôi để bảo vệ cho lợi ích của
người sản xuất, người kinh doanh và người sử dụng cuối cùng thức ăn chăn nuôi.
Nghị định cũng quy định nhà nước đầu tư vốn cho hệ thống sản xuất thức ăn chăn
nuôi và thông qua các chính sách tín dụng phù hợp cho ngành sản xuất th
ức ăn chăn
nuôi. Đồng thời nghị định này cũng đưa ra một danh sách yêu cầu các doanh nghiệp
phải đáp ứng để thực hiện hoạt động chế biến thức ăn. Nghị định quy định việc dán
nhãn cu thể các thành phần nguyên liệu sử dụng.
Quyết định 166/2001/QD-TTg (ngày 26/10/2001): Về các biện pháp và chính sách
phát triển chăn nuôi lợn xuất khẩu trong giai đoạn 2001-2010.
Quyết định này khuyến khích phát triể
n các khu vực chăn nuôi xuất khẩu lợn chất
lượng cao. Quyết định này cũng quy định Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ
phối hợp với các Bộ ngành liên quan trong việc đánh giá tình hình sản xuất thức ăn
chăn nuôi ở Việt Nam và xây dựng đề xuất để mở rộng và cải tiến sản xuất. Quyết
định cũng định hướng mở rộng diện tích trồng ngô lai nhằm giả
m chi phí sản xuất
thức ăn.

3

2.1.2 Chính sách về kiểm soát đầu vào
Ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi Việt Nam chủ yếu phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu
nguyên liệu thô để sản xuất thức ă
n công nghiệp. Để kiểm soát đầu vào, MARD đã
đưa ra 7 quyết định liên quan tới “Danh mục thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu thức ăn
chăn nuôi được phép nhập khẩu vào Việt Nam”, bao gồm:
- Quyết định 35/2000/QĐ-BNN-KNKL (ngày 05/04/2000)
- Quyết định 55/2001/QĐ-BNN/KNKL (ngày 11/05/2001)
- Quyết định 80/2002/QĐ-BNN (ngày 06/09/2002)
- Quyết định 41/2004/QĐ-BNN (ngày 30/08/2004)
- Quyết định 01/2006/QĐ-BNN (ngày 06/01/2006)
- Quyết định 65/2007/QĐ-BNN (ngày 03/07/2007)
-
Quyết định 88/2008/QĐ-BNN (ngày 22/08/2008)
Các quyết định này quy định tên cụ thể cũng như các yêu cầu kỹ thuật (độ ẩm, tỷ lệ
đạm, độc tố ) cho từng loại thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu thô nhập khẩu vào Việt
Nam hàng năm.
Quyết định số 83/2008/QĐ-BTC ngày 3/10/2008 xem xét mức thuế nhập khẩu thức
ăn chăn nuôi và một số nguyên liệu thô để sản xuất thứ
c ăn chăn nuôi.

4
Thông tư số 77/2009/TT-BTC ngày 14/4/2009 quy định điều chỉnh mức thuế nhập
khẩu ưu đãi đối với một số nguyên liệu thô và thức ăn chăn nuôi. Theo thông tư này,
mức thuế đối với các mặt hàng nguyên liệu sử dụng để sản xuất thức ăn hỗn hợp cho
chăn nuôi lợn và gia cầm được điều chỉnh giảm từ 5% xuống 4% và từ 5% xu
ống còn
0% đối với thức ăn hỗn hợp cho tôm và các loại khác. Ngoài ra, thuế nhập khẩu đối
với một số nguyên liệu thô để sản xuất thức ăn chăn nuôi như kiều mạch, đã được
giảm xuống mức 3% thay vì 5% trước đây, thuế nhập khẩu đối với hạt kê giảm từ 5%

các lĩnh vực khác nhau của chính sách chăn nuôi như sau:

Xây dựng chính sách
Chỉ có các Cục do MARD quản lý trực tiếp tham gia vào việc xây dựng chính sách.
Công việc xây dựng chính sách chăn nuôi là trách nhiệm của:
• Cục Chăn nuôi,
• Cục Thú y,
• Cục Hợp tác xã và Phát triển nông thôn, và
• Cục Quản lý chất lượng nông lâm thủy sản và nghề muối

Thông qua chính sách
Tạo điều kiện cho việc thông qua chính sách là trách nhiệm của:

Cục Chăn nuôi,
• Cục Thú y,

5
• Vụ Kế hoạch,
• Vụ Tài chính,
• Bộ Tài chính,
• Bộ Kế hoạch và đầu tư,
• Viện Chăn nuôi quốc gia (NIAH), và
• Viện Thú y quốc gia.

Thực hiện chính sách
Ngược lại với việc tham gia phối hợp của nhiều Bộ và Cục để thúc đẩy cho quá trình
thông qua chính sách chăn nuôi, trách nhiệm duy nhất trong việc giám sát thực hiện
chính sách chăn nuôi thuộc về S
ở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ở cấp tỉnh.


n đề kỹ thuật (thuộc về trách nhiệm của các Cục,
vụ chuyên ngành như Cục trồng trọt, Cục chăn nuôi…) nhiều hơn là vấn đề chiến
lược.
Một cán bộ lâu năm của IPSARD đã mô tả trình tự chính thức tạo lập bối cảnh về vai
trò của IPSARD trong tư vấn chính sách. Đối với các vấn đề liên quan đến nông

6
nghiệp nông thôn, MARD sẽ có các công văn chính thức nêu rõ mục đích, yêu cầu và
nội dung công việc rồi chuyển xuống văn phòng “phụ trách” việc phân loại. Theo đó,
IPSARD sẽ nhận công việc nếu có liên quan. Tuy nhiên, IPSARD có thể từ chối trong
trường hợp không có khả năng (về nguồn lực hoặc thông tin) để đảm nhận nhiệm vụ
được giao.
CAP/IPSARD chủ yếu làm tư vấn chính sách cho những câu hỏi của MARD trong khi
rất ít tư
vấn về những vấn đề họ cho là quan trọng. Do đó, đóng góp trong việc tư vấn
chính sách do IPSARD khởi xướng chỉ chiếm khoảng 2% trong tổng số chính sách tư
vấn cho Bộ. Tuy nhiên, nếu tính riêng trong lĩnh vực tư vấn về chiến lược thì Viện
đóng góp khoảng 40%. Đôi khi, nếu thấy có những vấn đề quan trọng cần đề xuất lên
các cơ quan cao hơn để có chính sách phản ứng kị
p thời, có thể thông qua lãnh đạo
Viện. Tuy nhiên trường hợp này rất ít xảy ra.

Các cán bộ khác của IPSARD đề cập về các cách thức họ tham gia và đưa ra tư vấn
chính sách trong bối cảnh môi trường công việc.
• IPSARD/CAP tham gia một số nguyên cứu, với các dự án khác nhau do
MARD, Ngân hàng Thế giới, ACIAR, FAO (PPLPI – Sáng kiến Chính sách
Chăn nuôi vì người nghèo), chương trình CARD thuộc AusAID và quỹ Ford
Foundation tài trợ. Nghiên cứu này cung cấp thông tin thường có ngụ ý chính
sách.
• Một số cán bộ lâu n

tham khảo ý kiến của khu vực tư nhân thường chỉ liên quan và phù hợp hơn với các
chính sách ngắn hạn và các chính sách này không thuộc phạm vi trách nhiệm của
IPSARD.

Một cán bộ khác nhận xét rằng mặc dù lý do nói trên là đúng, song đó mới chỉ là một
lý do. Có những nguyên nhân khác liên quan tới cách thực hiện xây dựng chính sách:
tức là sử dụng cách tiếp cận “từ trên xuống” hoặc “tại chỗ” mà thiếu sự tham gia của
khu vực tư
nhân.

Các cán bộ trong IPSARD đề cập một số cách thức mà IPSARD/CAP lấy ý kiến của
khu vực tư nhân để đưa vào trong các tư vấn chính sách của mình. Giới doanh nhân
đôi lúc được mời tham gia các cuộc nói chuyện chính thức và cả không chính thức về
các vấn đề chính sách. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp các doanh nghiệp lớn
thường chịu ảnh hưởng bởi chính sách nhiều hơn. Các đại biểu của khu vự
c tư nhân,
cả ở cấp quốc gia và cấp tỉnh, cũng được mời đến hội thảo để thảo luận các kết quả
nghiên cứu và vấn đề chính sách. Ví dụ, tại cuộc hội thảo các bên liên quan tổ chức tại
TP. Hồ Chí Minh vào tháng 1/2010 của dự án này, các đại biểu của khu vực tư nhân
đã thể hiện nhiều quan điểm mạnh liên quan tới chính sách cho ngành thức ăn chăn
nuôi. M
ột số quan điểm này đã được đưa vào các báo cáo cuối cùng.

Một ví dụ về sự tham gia của khu vực tư nhân trong chính sách chăn nuôi đã được đề
cập trong Sáng kiến chính sách chăn nuôi vì người nghèo (PPLPI) (xem Vũ 2003 để
tham khảo phần thảo luận về các vấn đề chính sách liên quan tới Sáng kiến này). Một
ví dụ khác nằm trong một nghiên cứu của IFPRI về lựa chọn chính sách cho ngành
chăn nuôi (IFPRI, 2000). Các đại biểu của khu vự
c tư nhân tham gia vào các cuộc hội
thảo và thảo luận. Một khía cạnh nữa là ảnh hưởng của công ty sản xuất thức ăn chăn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status