Các khái niệm căn bản trong ảnh Macro*
1. Độ phóng đại của hình ảnh (« Magnification Ratio » hay « Rapport
de Reproduction »)
Độ phóng đại này xác định tỉ lệ giữa kích thước thật của vật thể và hình ảnh
của nó ghi lại trên phim 24x36mm (hoặc sensor). Nó được tính bằng khoảng
cách giữa mặt phẳng phim và vật thể với tiêu cự của ống kính. Ví dụ như khi
hình ảnh của vật thể trên phim có kích thước bằng kích thước thật bên ngoài,
ta nói độ phóng đại là 1 :1 hay 1x. Nếu hình ảnh lớn gấp đôi vật thật thì độ
phóng đại là 2 :1 hay 2x.
Để có thể có được một độ phóng đại chính xác của vật thể thì đầu tiên ta
phải chọn chỉ số này và sau đó tiến hành canh nét bằng cách dịch chuyển
máy ảnh cho đến khi tìm được điểm nét ưng ý.
2. Hiệu chỉnh kết quả đo sáng (« Exposure Correction » hay «
Correction d’exposition »)
Khi khoảng cách chỉnh nét giảm đi thì nó cũng kéo theo sự suy giảm của ánh
sáng, đây là một định luật trong quang học. Khi bạn chụp ảnh bình thường
thì sự suy giảm ánh sáng này là không đáng kể nhưng trong chụp ảnh Macro
thì nó lại cần có thêm sự hiệu chỉnh về kết quả đo sáng để bù lại lượng sáng
bị thiếu này. Với hệ thống đo sáng TTL thì việc hiệu chỉnh được làm hoàn
toàn tự động.
3. Độ nét sâu của trường ảnh (« Depth of Field » hay « Profondeur de
champ »)
Khái niệm này ám chỉ vùng ảnh nét ở phía trước và phía sau của điểm mà
bạn canh nét. Trong chụp ảnh Macro thì độ nét sâu đóng một vai trò đặc biệt
quan trọng và nó thay đổi tùy theo độ phóng đại của hình ảnh và khẩu độ mở
sắc nét cao nhất. Nếu máy ảnh của bạn không thể lắp thêm dây bấm mềm thì
bạn nên chụp bằng chế độ tự động. Trong trường hợp bạn chủ động chụp
cầm tay thì nên sử dụng tốc độ cao nhất có thể.
* Tham khảo tài liệu của Nikon
Thiết bị dùng trong chụp ảnh MACRO
Trong bài viết này NTL xin dành riêng cho kỹ thuật chụp ảnh Macro với
máy SLR hay dSLR.
Các thiết bị của Nikon được dùng để minh họa, bạn hoàn toàn có thể tìm
thấy các thiết bị tương đương với Canon, Minolta…
1. Thân máy ảnh (“Body” trong tiếng Anh, “Boîtier” trong tiếng Pháp)
Đây là bộ phận khá quan trọng nhưng nó lại không có tiếng nói quyết định
lớn nhất trong chất lượng hình ảnh. Thêm nữa khi chụp ảnh Macro bạn sẽ
chỉnh bằng tay là chủ yếu và tốc độ chụp không có nghĩa lý gì ở đây cả. Tuy
nhiên việc có một chiếc thân máy ảnh với khả năng tương thích với nhiều
loại thiết bị chụp ảnh Macro cũng là điều cần thiết. Bạn nên chọn loại thân
máy ảnh có điều khiển từ xa (bằng dây nối hay tia hồng ngoại) hoặc có thể
lắp thêm giây bấm mềm.
2. Ống kính (“Lens” hay “Objectif”)
Trên lý thuyết thì tất cả các loại ống kính đều “có thể” dùng để chụp ảnh
Macro nhưng bạn cũng nên lưu ý rằng có những ống kính được thiết kế
chuyên cho một thể loại ảnh nhất định như chiếc 85mm f/1,4D dùng cho ảnh
chân dung, lại không cho hình ảnh cực kỳ sắc nét và chi tiết như chiếc PC
Micro-Nikkor 85mm f/2,8D. Bạn nên ưu tiên những ống kính có khẩu độ
mở cố định (zoom hoặc tiêu cự cố định) vì chúng sẽ cho bạn khả năng thao
tác rất lớn trong mọi điều kiện ánh sáng và chất lượng ảnh cũng cao hơn.
Bạn cũng có thể thấy trong một số ống kính zoom có chức năng Macro (như
Sigma 28-135mm f/3.8-5.6 Aspherical IF Macro) điều này có nghĩa là bạn
hoàn toàn có thể sử dụng nó để chụp ảnh Macro. Tuy nhiên độ phóng đại
của ảnh không lớn, thường là ở tỉ lệ 1:3 tùy theo ống kính, nhưng thao tác rất
dễ dàng.
3. Kính “Close-up” (“Lentille de proximité”)
Bạn có thể dung từng chiếc rời hay kết hợp chúng với nhau và gắn ngay lên
đầu ống kính giống như một chiếc kính lọc UV bình thường. Nhờ vào vị trí
này mà nó không hề làm ảnh hưởng đến các tính năng tự động của ống kính
như AF, AE. Kính “Close-up” có thể dung với ống kính tiêu cự cố định,
zoom hoặc Tele. Độ phóng đại là cố định với từng loại kính bạn chỉ việc
chỉnh tiêu cự mà thôi. Thông thường thì khi số của kính “Close-up” càng cao
thì bạn có thể chụp ảnh càng gần chủ thể. Chẳng hạn như gam kính Close-up
của Nikon có các số từ N°0 đến N°6T; trong đó các số 0, 1, 2 dùng cho các
tiêu cự tới 55mm còn từ 3T đến 6T chuyên cho các ống kính tele (chúng
được thiết kế bằng thấu kính kép).
4. Vòng nối (“Auto Extension Ring” hay “Bague Allonge Auto”)
Những chiếc “Ring” này cho phép bạn tăng khoảng cách giữa ống kính và
thân máy ảnh, điều này có nghĩa là làm tăng độ phóng đại của hình ảnh.
Thường có nhiều kích thước của các vòng nối khác nhau tùy theo nhu cầu sử
dụng. Chúng có thể được dùng riêng rẽ hay kết hợp lại với nhau. Cách sử
dụng những vòng nối này sẽ xác định phương pháp đo sáng của bạn được
dùng ở khẩu độ ống kính mở cực đại hay ở một chỉ số thực. Trong cả hai
trường hợp này thì kỹ thuật TTL sẽ tự động hiệu chỉnh lượng sáng cho độ
dài thêm của vòng nối. Bạn sẽ chụp hoàn toàn bằng “Manuel” hoặc Av với
tiêu cự chỉnh bằng tay.
Loại vòng nối ngược BR-2A cho phép bạn lắp ngược một ống kính có
đường kính 52mm vào thân máy ảnh hay một chiếc Soufflet PB-6. Trong khi
đó chiếc BR-5 lại dùng cho ống kính 62mm nối với BR-2A và lắp vào thân
máy.
8. Dây bấm mềm hay điều khiển từ xa. (« Cable Release, Telecommande
» hay “Déclencheur mécanique, Télécommande”)
Chúng có tác dụng làm nhẹ đi các thao tác khi chụp ảnh, tránh làm rung máy
dẫn đến ảnh nét không căng.
9. Đèn Flash
Để đơn giản hóa việc chiếu sáng trong chụp ảnh Macro thì hầu như các hãng
đều có chiếc đèn Flash chuyên dụng dành cho việc này. Chẳng hạn như
Nikon có chiếc SB-29s. Cấu tạo của nó gồm hai nguồn sáng nhỏ độc lập ở
hai bên nhằm làm giảm bớt bóng đổ một chiều như khi ta chụp với một đèn
đơn lẻ. Bạn có thể kích hoạt đồng thời cả hai đèn này hay chỉ dùng duy nhất
một đèn. Dĩ nhiên là bạn có thể thay đổi cường độ ánh sáng của đèn.
Bên cạnh đó thì chiếc flash mà bạn vẫn hay sử dụng hoàn toàn có thể là một
nguồn sáng lý tưởng cho ảnh Macro,chẳng hạn chiếc SB-800 với kỹ thuật i-
TTL. Bạn nên dùng một dây nối TTL để thay đổi vị trí đèn flash trên nóc
máy ảnh cũng như kết hợp nhiều đèn flash cùng một lúc.
Để làm giảm bớt độ gắt của ánh sáng đèn Flash người ta hay dùng thêm
những thiết bị làm tán xạ ánh sáng như “Diffusion Dome”,
“Reflector”…Tuy nhiên bạn cần phải tính lại cường độ ánh sáng của đèn tùy
theo thiết bị. Chiếc SB-29s
chụp ảnh. Để tiện dụng cho việc chỉnh nét thì bạn nên dùng thêm một chiếc
“Focusing Stage” (Banc d’approche).
“Focusing Stage” của Manfrotto.
14. Sách tham khảo :
Sách tiếng Anh :
- Nature Photography Close Up: Macro Techniques in the Field by Paul
Harcourt Davies & Peter Parks: $31.60
- The Complete Guide to Close Up & Macro Photography by Paul Harcourt
Davies: $26.36
- Macro and Close-Up Photography Handbook by Stan Sholik & Ron
Eggers: $31.60
- Complete Guide to Close-Up & Macro Photography by Paul Harcourt
Davies: 31,72€
- Closeups in Nature by John Shaw: $15.75
- Macrophotography: Learning from a Master by Gilles Martin & Ronan
Loaec: $27.20
- Close-up Photography by Alan R. Constant: $28.53
- Digital Nature Photography by Jonathan Cox: $16.97
- Digital Abstract and Macro Photography by Ken Milburn: $29.99
- 100 Flowers by Harold Feinstein
- Art and Science of Butterfly Photography by William Folsom
- Flower by Lynn Goldsmith
- Flowers: Portraits of intimacy by Adam Kufeld
- Foliage by Harold Feinstein
Vậy thì ưu điểm của các máy dCam trong chụp macro là gì?
- Giá tiền rẻ mà có chức năng macro, điều này quan trọng ra phết
- Dễ sử dụng
- Độ nét sâu: cái này có cả hai mặt lợi hại. Với những người chụp macro
nghiệp dư thì việc tính toán độ nét sâu và bố cục của điểm nét là phức tạp.
Độ nét sâu của dCam cho phép bạn chụp ảnh đẹp mà không sợ bị sai nét.
Thế nhưng bên cạnh đó nó lại thể hiện một nhược điểm cực lớn là không thể
làm mờ phông hình dẫn tới việc không làm nổi bật được chủ thể. Tuy nhiên
ta vẫn có thể tìm mẹo khắc phục được.
Một tấm ảnh macro thường dễ đem lại cho ta ấn tượng trong cái nhìn thoáng
qua ban đầu nhưng để thật sự thành công thì bạn phải tìm tòi về bố cục để
thể hiện chủ thể một cách độc đáo. Vậy chụp macro với dCam thì nên canh
nét vào đâu trên một bông hoa chẳng hạn? Câu trả lời lại phụ thuộc vào chủ
ý của bạn. Chẳng hạn nếu bạn chụp một bông hoa đang nở và muốn thể hiện
các cánh hoa thì việc canh nét vào chúng là hợp lý, trong trường hợp bạn
muốn thể hiện những nhị hoa thì điểm nét phải đặt vào đây. Nên lưu ý rằng
ở cự ly rất gần thì độ nét sâu có thể thay đổi theo từng mm. Nhưng cho dù
bạn đã chỉnh nét chính xác như thế nào chăng nữa thì việc kiểm tra lại ảnh
chụp trên màn hình máy tính là cần thiết. Màn hình LCD của dCam hay cho
ta cảm giác nhầm về độ nét của ảnh. Trong ví dụ dưới đây hình ảnh trên
LCD là hoàn toàn làm bạn hài lòng nhưng kết quả lại không thật sự như ý
muốn. Ảnh minh hoạ số 1.
Giá trị của độ sâu trường ảnh nằm ở đâu? Như mình đã nói ở trên thì ngoài
việc làm nổi bật chủ thể độ sâu trường ảnh còn có thể tạo ấn tượng về không
gian chiều sâu cho ảnh macro. Bạn có thể dễ dàng nhận thấy với các máy