Phụ lục 2. Bản hướng dẫn cho việc xây dựng và quản lý rừng giống
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
_________________________________________________________________________
Tăng cường năng lực về công nghệ hạt giống cây rừng phục vụ
các hoạt động nghiên cứu - phát triển và bảo tồn ngoại vi
(M· sè: 058/04VIE)
RỪNG GIỐNG
MS4: Hướng dẫn thực hành xây dựng và quản lý
Khongsak Pinyopusarerk Tæ chøc hîp t¸c gi÷a CSIRO vµ Scion (ensis Genetics )
Canberra, Australia
dù, tổng giá trị của việc cải thiện chất lượng di truyền từ rừng giống được mong đợi là nhỏ,
nhưng hạt giống được thu hái từ rừng giống vẫn luôn có chất lượng di truyền tốt hơ
n hạt thu
hái đại trà trong các lâm phần thông thường, đặc biệt là khả năng thích nghi, hình dáng thân
và khả năng chống chịu sâu bệnh.
2. Rừng giống
Rừng giống có thể là các lâm phần được trồng đặc biệt nhằm mục đích sản xuất hạt giống hay
là các lâm phần sẵn có được quản lý để sản xuất hạt giống, đã được chứng minh nguồn gốc di
truyền là phù hợp.
2.1. Chuyể
n hoá Rừng giống từ các lâm phần rừng trồng sẵn có.
Cách nhanh nhất để tạo rừng giống là chuyển hoá các lâm phần rừng trồng trưởng thành sẵn
có của những cây chất lượng tốt, phù hợp với mục đích sản xuất hạt giống. Một rừng giống
cũng có thể được chuyển hoá từ một khảo nghiệm hậu thế hay khảo nghiệm xuất xứ. Không
có s
ự giới hạn về tuổi, nhưng các lâm phần này cũng nên đủ tuổi trưởng thành để sản xuất hạt
giống.
Một lâm phần rừng trồng phù hợp cho việc chuyển hoá thành rừng giống nên có những đặc
tính như sau:
(1) Thông tin rõ ràng về nguồn gốc hạt giống được sử dụng để xây dựng lâm phần.
Những hiểu biết về nguồn gốc địa lý và cơ sở di truy
ền là rất quan trọng để xác định khả
năng phù hợp của các lâm phần trước khi chuyển hoá thành rừng giống. 1
(2) Tuổi lâm phần nên là tuổi trưởng thành để sản xuất hạt giống, nhưng không quá già
Những lâm phần này tuy không có giới hạn tuổi nhưng cũng cần phải đủ tuổi để việc
chọn lọc là đáng tin cậy và đủ tuổi thành thục sinh sản để sản xuất hạt giống. Những cây
cá thể phải có tán đủ dày và rộng để tạo tiềm năng sản xuất nhữ
ững phải khá bằng phẳng mà còn phải thoát nước tốt. Lý tưởng
nhất là các lâm phần không ở các vùng quá sâu và xa, đặc biệt là quá xa nguồn lao động
địa phương để dễ dàng chăm sóc và quản lý.
(7) Các lâm phần được chọn không phải chịu sự khai thác thương mại.
Rừng giống sẽ được chăm sóc trong nhiều năm. Do đó cần phải đảm bảo rằng những
lâm phần được chọn là an toàn từ các hoạt độ
ng khai thác thương mại. Sự liên kết tốt
giữa các nhà quản lý rừng sẽ giúp tránh khỏi những mất mát đáng tiếc cho các rừng
giống có giá trị.
(8) Diện tích của rừng giống
Nói chung diện tích tối thiểu thích hợp để áp dụng các biện pháp quản lý cho một rừng
giống, đối với hầu hết các loài cây rừng, là 4 ha. Việc quản lý các lâm phần nhỏ sẽ là
không hiệu quả và nguy cơ nhiễm phấn t
ừ bên ngoài là rất lớn. Tuy nhiên, đối với một
số loài như Bạch đàn chỉ cần một diện tích nhỏ khoảng 0,5 ha cũng đủ, do khả năng
2
sinh sản lớn (sai quả). Diện tích được chọn nên là hình càng vuông càng tốt, vì trong đó
khả năng thụ phấn chéo giữa các cây sẽ dễ dàng hơn so với những hình khối dài.
(9) Cách ly
Sự cách ly kém sẽ là một bất lợi phổ biến của rừng giống được chuyển hoá từ các lâm
phần rừng trồng sẵn có. Thông thường những lâm phần này được chọn từ những rừng
trồng thuần loài và thành thụ
c. Nên hầu như không thể loại bỏ hoàn toàn việc nhiễm
phấn của những loại phấn lạc. Tuy nhiên, xây dựng khu cách ly hay khu pha loãng phấn
xung quanh rừng giống có thể làm giảm bớt sự nhiễm phấn. Khu pha loãng phấn có thể
là một khu mở, khoảng 200m. Những loài cây được trồng trong khu pha loãng phấn
chắc chắn phải là loài không thể lai giống với các loài cần sản xuất hạt giống.
2.2. Phát triển rừng giống từ các r
ừng trồng đặtc biệt
với hầu hết các loài Keo. Mật độ cây ban đầu cao cho phép tỉa thưa chọn lọc sớm và
mạnh, vì vậy những cây ưu trội và kiều hình đẹp nhất có thể giữ lại. Cùng đó, một
khoảng cách rộng được mở ra sẽ giúp tán cây phát triển đầy đủ và sai quả.
Bón phân.
3
Việc sử dụng phân bón với liều lượng cân đối ở giai đoạn đầu được khuyến cáo nhằm
xây dựng thành công rừng giống. Loại và tỷ lệ phân bón được sử dụng nên dựa vào ý
kiến của giới chuyên môn địa phương. Nếu không, khuyến cáo sử dụng phân bón NPK
tỷ lệ 15:15:15 với khối lượng 100 g/cây, bón xung quanh gốc cây với bán kính 30 cm.
Phân bón nên được sử dụng sau khi trồng một tháng.
3. Chọn lọ
c cây cho rừng giống
Tiêu chuẩn mong muốn của những cây được giữ lại trong rừng giống là tương tự, nhưng ít
nghiêm ngặt hơn, với những tiêu chuẩn được đòi hỏi đối với việc chọn lọc cây trội sử dụng
trong các chương trình cải thiện giống tập trung. Chỉ những cây có tầng tán ưu trội và trội thì
được xem xét giữ lại bởi tiềm năng sinh trưởng và sả
n xuất hạt giống của chúng. Đối với
những lâm phần trưởng thành có sẵn khi chuyển hoá thành rừng giống thì những cây tỏ ra có
tiềm năng sản xuất hạt giống sẽ được ưu tiên, cho dù trước đây khi sinh trưởng trong một lâm
phần mật độ cây quá dày chúng không thể hiện ưu thế này. Thời vụ thu hái hạt tốt nhất
thường là sau khi tỉa thưa mạnh những cây ít quả.
Tiêu chí chọn lọ
c cây có thể rất khác nhau giữa các loài và giữa các nhu cầu về sản phẩm cuối
cùng song đối với các loài cây lấy gỗ cần phải có một số đặc tính sau đây:
(1) Sinh trưởng nhanh
(2) Thân đơn trục và thẳng
(3) Tán lá phát triển tốt
(4) Cành nhỏ với gốc phân cành lớn
(5) Tỉa thưa tự nhiên tốt
4
không đạt được sản lượng như mong muốn trong một vài năm sau khi tỉa thưa, bởi vì chúng
cần có thời gian để phát triển tán lớn hơn. Mật độ cuối cùng 150 - 200 cây/ ha được xem là
phù hợp cho việc thụ phấn chéo và sản xuất hạt giống cho những năm tiếp theo đối với hầu
hết các loài cây trồng rừng thương mại.
Cuờng độ tỉa thưa
Mỗi rừng giố
ng nên tiến hành tỉa thưa ít nhất 2 đến 3 lần liên tục để loại bỏ những cây
xấu. Mỗi lần tỉa thưa khoảng 50% tổng số cây.
Việc tỉa thưa một lâm phần sẽ gặp những rủi ro như điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Khô
cháy có thể là một vấn đề ở những khu vực nóng ẩm, trong khi đó gió thổi lại là một
v
ấn đề bình thường ở khu vực có gió mạnh. Việc tỉa thưa theo từng bước, không được
làm toàn bộ trong một lần, sẽ cho phép những cây giữ lại điều chỉnh và thích nghi với
điều kiện mới. Quá trình tỉa thưa được trình bày ở sơ đồ 1 - 6.
Thời gian tỉa thưa
Thời gian tỉa thưa nên chọn làm sao tránh được các ảnh hưởng tiêu cực. Ví dụ, không
tiến hành tỉa thưa trong mùa mư
a bão hoặc gió mạnh vì có thể phá hoại tán cây. Nếu
khô cháy là một rủi ro chính thì chỉ tiến hành tỉa thưa trước khi mùa mưa.
Đối với những rừng giống được chuyển hoá từ các lâm phần rừng trồng đặc biệt, thời
gian tỉa thưa sẽ dựa vào tốc độ sinh trưởng đạt được. Mục đích của việc tiến hành tỉa
thưa này là để hạn chế sự cạnh tranh giữ
a các tán cây liền nhau (chỉ tiến hành trước khi
tán cây giao nhau). Đối với nhiều loài Bạch đàn và Keo nhiệt đới, tốc độ sinh trưởng ở
giai đoạn đầu rất nhanh, sẽ đòi hỏi phải tiến hành việc tỉa thưa lần đầu ở giai đoạn 24
tháng tuổi sau khi trồng. Tỉa thưa lần hai và lần cuối được tiến hành lần lượt vào giai
đoạn 4 và 6 năm tuổi.
Chỉ d
có thể là rất cần thiết để đảm bảo 100% gốc cây đã chết.
Bón phân
Bón phân nên được sử dụng kết hợp với việc tỉa thưa. Việc tăng cường thể trạng của cây
từ tỉa thưa và bón phân sẽ tạo điều ki
ện cho cây sinh trưởng tốt, tán lá dày và xum xuê,
ra hoa và kết quả tốt. Việc sử dụng thường xuyên những loại phân bón chứa đạm chỉ
làm tăng khả năng sinh trưởng của thảm thực bì. Nên sử dụng các loại phân chứa lân,
kali và dinh dưỡng vi lượng trước và trong quá trình ra hoa.
Phân ranh giới
Đường ranh giới bên ngoài khu rừng giống nên được đánh dấu bằng những điểm mốc
cố định rõ ràng. Một mốc giới rõ ràng nên được thi
ết lập để chỉ rõ mục đích của lâm
phần và trách nhiệm của cơ quan quản lý nó.
Bảo vệ
Phải xây dựng đường băng cản lửa (rộng 10 m hoặc hơn) xung quanh mỗi rừng giống
và phải duy trì liên tục. Nếu cần có thể xây dựng một hàng rào quanh rừng giống để hạn
chế việc cắt cỏ cho gia súc hay những hoạt động của con người và động vật hoang dã,
đó là nguyên nhân gây tổn thưởng đến cây giống.
6. Lưu trữ thông tin
Công việc ghi chép và lưu giữ đầy đủ các thông tin trong rừng giống có vai trò rất quan trọng.
Những thông tin cần ghi chép như sau:
- Loài
- Nguồn gốc hạt giống
- Địa điểm
- Năm xây dựng rừng giống
- Điều kiện thời tiết (lượng mưa, nhiệt độ )
- Điều kiện đất đai
- Các chế
độ lâm sinh (thời gian tỉa thưa, kiểm soát cỏ dại, sử dụng phân bón )
- Đặc tính vật hậu học
được thu hái xô bồ mang tính chất thương mại từ các rừng trồng thông thường, đặc
biệt là tính thích nghi, khả năng sinh trưởng, hình dáng thân và khả năng chống chịu
sâu bệnh.
(2) Khi rừng giống được xây d
ựng từ rừng trồng đặc biệt phục vụ cho mục đích này,
nguồn gốc địa lý rõ ràng của từng cây bố mẹ được biết rõ, vì thế hạt giống được sản
xuất ra là từ các nguồn giống thích hợp.
(3) Rừng giống là những nguồn giống thích nghi tốt, đáng tin cậy với giá cả vừa phải và
dễ chấp nhận.
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh r
ằng rừng giống chỉ cung cấp vật liệu giống tạm thời có chất lượng
di truyền cải thiện một bước để đáp ứng nhu cầu tạm thời. Rừng giống sẽ là lỗi thời khi vườn
giống được xây dựng và sẵn sàng cung cấp giống chất lượng di truyền cao hơn.
7
MỘT SỐ THUẬT NGỮ VÀ ĐỊNH NGHĨA
Dòng: Một quần thể của các cá thể đồng nhất về tính di truyền có được thông qua quá trình
nhân giống sinh dưỡng.
Gia đình: Gia đình là những cá thể có cùng bố mẹ
- Gia đình nửa Sib (half-sib) là gia đình gồm các cá thể cùng một bố hoặc mẹ (thông
thường là từ cùng một mẹ).Cây bố không biết, thông qua thụ phấn tự do
- Gia đình cả Sib (Full-sib) là gia đình gồm các cá thể cùng chung bố mẹ. Được t
ạo ra
từ việc thụ phấn có kiểm soát (lai nhân tạo)
Kiểu gen: Khả năng di truyền của cây khi những yếu tố môi trường đã bị loại trừ chỉ được
Quần thể: Là một tập hợp các cá thể có khả năng giao phối được với nhau. Không tính đến
mức
độ quan hệ của các cá thể trong quần thể.
Hậu thế: Là những cây con mọc từ hạt của cây bố mẹ được biết trước
Xuất xứ: Vị trí địa lý nơi phân bố của một quần thể lấy vật liệu giống (hạt hay cây) hoặc
quần thể thực vật sinh trưởng ở một khu vực địa lý đặc trưng
Cá thể dòng vô tính:
Một thành viên cá thể của một dòng
Nhóm hạt ưa ẩm: Hạt có kích cỡ từ trung bình đến lớn, hạt nặng do hàm lượng độ ẩm cao
như các loài cây họ dầu, Quế, Mít Hạt không thể bị sấy khô xuống dưới 5% hàm lượng
độ ẩm. Hạt không thể cất trữ lâu dài trong điều kiện nhiệt độ thấp. Chịu được hàm lượng
độ ẩm tối thiểu là 20% và ở nhiệ
t độ từ 12 - 15
0
C đối với các loài cây nhiệt đới. Chỉ cất
trữ được trong một vài ngày đến một vài tháng. 8
Biểu 1. Một rừng trồng thành thục cho việc chuyển hoá thành rừng giốngBiểu 2. Rừng giống trớc khi tỉa thalầnđầu
Tỉa thatheonhóm:
Loại bỏ8 câycókiểu
hình xấu nhất trong
10
Biểu 5. Rừng giống- sau tỉa tha chọnlọclầnthứba
Tỉa tha lần ba: tỉa bỏ
đi 50% tổng số cây còn
lại sau lần tỉa tha thứ
hai
Mật độ cây:
- Ban đầu: 1250 cây/ha
-Sautỉatha lần 1: 625
-Sautỉatha lần 2: 312
-Sautỉatha lần 3: 150
Thu hạt giống từ những cây còn lại, cây trội, những cây
sau khi ra hoa hàng loạt ngay sau khi tỉa tha
Biểu 6. Toàn cảnh một rừng giống sau khi kết thúc tỉa tha11