Nghiên cứu đề xuất mô hình phân loại chất thải rắn tại nguồn tại phường Hải Đình thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình - Pdf 15

Nghiên cứu đề xuất mô hình phân loại CTR tại nguồn tại Phường Hải Đình - Thành
phố Đồng Hới - Tỉnh Quảng Bình
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
“Nghiên cứu đề xuất mô hình phân loại chất thải rắn tại nguồn tại Phường
Hải Đình - Thành phố Đồng Hới - Tỉnh Quảng Bình” là đề tài nghiên cứu và xây
dựng mô hình phân loại chất thải rắn tại nguồn thí điểm tại Phường Hải Đình
nhằm phân loại rác thải tại nơi phát sinh để tiện cho khâu thu gom, vận chuyển
và xử lý chất thải rắn. Đồng thời đưa ra các kế hoạch và giải pháp để thực hiện
chương trình, bắt đầu thí điểm tại một phường và sau đó sẽ triển khai ở các
phường khác đảm bảo cho thành phố có hệ thống quản lý chất thải rắn hoàn
chỉnh.
Nghiên cứu mô hình phân loại chất thải rắn tại nguồn thí điểm cho một
phường của Thành phố Đồng Hới thuộc Tỉnh Quảng Bình là đề tài có ý nghóa
thực tế quan trọng trong việc quy hoạch tổng thể hệ thống quản lý chất thải rắn,
thiết kế bãi chôn lấp hợp vệ sinh trên đòa bàn thành phố và nhằm đạt được các
mục tiêu, kế hoạch, chương trình hành động của Chính phủ đề ra.
1.2 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết, chất thải rắn được thải bỏ thiếu sự kiểm soát ảnh
hưởng rất lớn đến sức khoẻ cộng đồng và môi trường xung quanh, do đó chất thải
rắn cần phải có sự kiểm soát chặt chẽ từ nơi phát sinh đến khâu thu gom, vận
chuyển và xử lý. Nhưng để thuận lợi cho các khâu đó thì rác thải phải được phân
loại ngay từ nguồn phát sinh ra chúng, nhằm tách riêng các loại rác thải tiện cho
việc tái chế, tái sử dụng.
GVHD: PGS.TS Đinh Xuân Thắng Trang 1
SVTH: Vũ Thò Thanh An
Nghiên cứu đề xuất mô hình phân loại CTR tại nguồn tại Phường Hải Đình - Thành
phố Đồng Hới - Tỉnh Quảng Bình
Trên thực tế, tình hình quản lý CTR tại Thành phố Đồng Hới, Tỉnh Quảng
Bình còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình thu gom, vận chuyển và xử lý do rác

Đình.
1.6 ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là:
• Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các khu vực dân cư, các trung tâm y tế,
các quá trình sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, từ các trung
tâm thương mại,…thuộc đòa bàn Phường Hải Đình;
• Công tác quản lý CTR bao gồm: nguồn phát sinh, số lượng, thực trạng
quản lý, nhân lực; khả năng và hiệu quả khi áp dụng mô hình phân loại
CTR tại nguồn.
1.7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các phương pháp dự kiến bao gồm:
• Phương pháp thu thập và tổng hợp thông tin;
• Phương pháp phân tích và xử lý thông tin;
• Phương pháp đánh giá nhanh và dự báo dân số, khối lượng CTR;
• Phương pháp thực đòa, tuyên truyền, lấy ý kiến cộng đồng;
• Phương pháp tham khảo ý kiến của các chuyên gia.
1.7.1 Phương pháp thu thập và tổng hợp thông tin
Phương pháp này tổng hợp các tài liệu, số liệu có từ các đề tài nghiên cứu,
khảo sát đánh giá hiện trạng, các báo cáo tổng hợp được tại Tỉnh Quảng Bình.
Biên hội các thông tin đáng tin cậy nhất để làm dữ liệu cần thiết cho đồ án.
1.7.2 Phương pháp phân tích và xử lý thông tin
GVHD: PGS.TS Đinh Xuân Thắng Trang 3
SVTH: Vũ Thò Thanh An
Nghiên cứu đề xuất mô hình phân loại CTR tại nguồn tại Phường Hải Đình - Thành
phố Đồng Hới - Tỉnh Quảng Bình
Từ những thông tin, dữ liệu đã chọn lọc, tiến hành phân tích và xử lý thể
hiện trên các bảng biểu và đồ thò chủ yếu dựa vào phần mềm Microsoft Excel và
Microsoft Word.
1.7.3 Phương pháp đánh giá nhanh và dự báo dân số, khối lượng chất
thải

Đối với các nước phát triển, CTR là vấn đề đã được mọi người chú trọng
quan tâm và được xử lý triệt để. Ví dụ: ở Hà Lan đã có những biện pháp xử lý
CTR từ năm 1932; ở Mỹ chỉ tính riêng năm 1976 đã phải tốn 3-4 tỷ USD cho vấn
đề quản lý rác, số nhà máy chế biến rác đã tăng từ 9 lên 29 nhà máy.
GVHD: PGS.TS Đinh Xuân Thắng Trang 5
SVTH: Vũ Thò Thanh An
Nghiên cứu đề xuất mô hình phân loại CTR tại nguồn tại Phường Hải Đình - Thành
phố Đồng Hới - Tỉnh Quảng Bình
Ở Việt Nam, vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm do CTR nói
riêng đang thực sự là mối quan tâm chung của nhà nước, chính quyền các cấp và
người dân. Công cuộc đổi mới đang tác động tích cực đến mức độ đô thò hoá ở
Việt Nam, tuy nhiên cơ sở hạ tầng quá yếu kém và không phát triển đồng bộ với
quá trình đô thò hoá, lại ít được chăm sóc nên tình trạng môi trường sa sút nghiêm
trọng.
Ô nhiễm CTR ở đô thò đang là vấn đề bức xúc, đô thò càng phát triển, lượng
CTR càng lớn thì ảnh hưởng đến môi trường của CTR càng tăng. Tổng hợp từ báo
cáo hiện trạng môi trường của các tỉnh, thành trong những năm gần đây cho thấy:
do tác động của sự gia tăng dân số đô thò, mức sống và tính chất tiêu dùng của
người dân và tác động của phát triển kinh tế, xã hội của đô thò, khối lượng CTR ở
nước ta ngày càng lớn, làm ảnh hưởng lớn môi trường sống và sức khoẻ con
người. Vì vậy, CTR cần phải được kiểm soát và xử lý phù hợp.
2.1.1 Khái niệm
Chất thải rắn là những vật ở dạng rắn do hoạt động của con người (sinh hoạt,
sản xuất, tiêu dùng…) và động vật gây ra. Đó là những vật đã được bỏ đi, thường
ít được sử dụng hoặc ít có ích và không có lợi cho con người.
Chất thải rắn của một quá trình sản xuất này có thể là nguyên liệu cho một
quá trình sản xuất khác. CTR của động vật này có thể là thức ăn cho động vật
khác trong dây chuyền thực phẩm.
2.1.2 Nguồn gốc CTR
Nguồn gốc phát sinh, thành phần, tính chất của CTR là cơ sở quan trọng

điện tử gia dụng, rác
vườn, vỏ xe,…)
2. Khu thương mại
Cửa hàng bách hoá, nhà
hàng, khách sạn, siêu
thò, chợ,…
Giấy, carton, plastic, gỗ,
thực phẩm, thuỷ tinh,
kim loại, chất thải đặc
biệt, chất thải độc hại
GVHD: PGS.TS Đinh Xuân Thắng Trang 7
SVTH: Vũ Thò Thanh An
Nghiên cứu đề xuất mô hình phân loại CTR tại nguồn tại Phường Hải Đình - Thành
phố Đồng Hới - Tỉnh Quảng Bình
3. Cơ quan, công sở
Trường học, bệnh viện,
trung tâm và viện nghiên
cứu, văn phòng cơ quan
nhà nước,…
Các loại chất thải giống
như khu thương mại, hầu
hết CTR y tế thường
được thu gom và xử lý
riêng do tính chất độc
hại của chúng
4. Khu công trình xây
dựng và phá huỷ công
trình xây dựng
Các công trình xây dựng,
công trình sửa chữa, làm

nghiệp, vật liệu phế thải,
chất thải độc hại
8. Nông nghiệp Các hoạt động thu hoạch
trên đồng ruộng, trang
Các loại sản phẩm phụ
của quá trình nuôi trồng
GVHD: PGS.TS Đinh Xuân Thắng Trang 8
SVTH: Vũ Thò Thanh An
Nghiên cứu đề xuất mô hình phân loại CTR tại nguồn tại Phường Hải Đình - Thành
phố Đồng Hới - Tỉnh Quảng Bình
trại, nông trường, hoạt
động chăn nuôi, sản xuất
sữa và lò giết mổ súc vật
và thu hoạch, chế biến
nông sản như: rơm rạ,
rau quả, chất thải của
các lò giết mổ gia súc,
gia cầm,…
(Nguồn: Giáo trình Quản lý CTR _Đại học Văn Lang)
2.1.3 Phân loại CTR
 Rác thực phẩm
Đó là những phế thải từ nguồn thực phẩm, nông phẩm hoa quả trong quá
trình sản xuất, thu hoạch, chế biến và bảo quản bò hư hại, bò loại thải ra. Tính chất
đặc trưng của loại này là quá trình lên men cao, nhất là trong điều kiện độ ẩm
không khí 85-90%, nhiệt độ 30-35
o
C. Do đó, quá trình này thường gây mùi thối
nồng nặc và phát tán vào không khí nhiều bào tử nấm bệnh.
 Rác tạp
Rác tạp bắt nguồn từ công sở, nhà ăn, khu chợ,…Ở đây, có loại rác phân huỷ

Trong đô thò các đường phố công viên và khu dân cư thường có cây bóng
mát mọc, cành lá của nó cũng là loại rác thải. Tuy vậy loại chất thải nào không
cao, chiếm 1-2%.
 Chất thải độc hại
Bao gồm các chất thải chứa các chất độc hại nguy hiểm như các chất thải
phóng xạ uran thori, các loại thuốc nổ TNT, chất dễ bắt lửa, chất thải sinh học,
chất thải trong sản xuất nhựa hoặc chất thải trong sản xuất vi trùng, các loại bao
bì thuốc bảo vệ thực vật.
GVHD: PGS.TS Đinh Xuân Thắng Trang 10
SVTH: Vũ Thò Thanh An
Nghiên cứu đề xuất mô hình phân loại CTR tại nguồn tại Phường Hải Đình - Thành
phố Đồng Hới - Tỉnh Quảng Bình
Bảng 2. Phân loại CTR theo công nghệ xử lý
Thành phần Đònh nghóa Ví dụ
1. Các chất cháy được
- Giấy
- Hàng dệt
- Rác thải
- Cỏ, gỗ củi, rơm rạ…
- Chất dẻo
- Da và cao su

- Các vật liệu làm từ giấy
- Có nguồn gốc từ các sợi
- Các chất thải ra từ đồ ăn, thực
phẩm
- Các vật liệu và sản phẩm
được chế tạo từ gỗ tre và rơm,…
- Các vật liệu và sản phẩm
được chế tạo từ chất dẻo

dao, nắp lọ,…

- Vỏ hộp nhôm, giấy bao gói,
đồ đựng
- Chai lọ, đồ đựng bằng thủy
tinh, bóng đèn,…
GVHD: PGS.TS Đinh Xuân Thắng Trang 11
SVTH: Vũ Thò Thanh An
Nghiên cứu đề xuất mô hình phân loại CTR tại nguồn tại Phường Hải Đình - Thành
phố Đồng Hới - Tỉnh Quảng Bình
- Bất kì các loại vật liệu không
cháy khác ngoài kim loại và
thủy tinh
- Vỏ trai, ốc, xương, gạch, đá,

3. Các chất hỗn hợp
- Tất cả các loại vật liệu khác
không phân loại, đều thuộc loại
này. Loại này có thể được phân
chia thành 2 phần: kích thước
lớn hơn 5mm và nhỏ hơn 5mm
- Đá cuội, cát, đất, tóc,…
(Nguồn: Quản lý CTR- tập1: CTR đô thò, GS. TS. Trần Hiếu Nhuệ, TS. Ứng Quốc
Dũng, TS. Nguyễn Thò Kim Thái, Nhà xuất bản Xây dựng Hà Nội – 2001)
Nguồn CTR có thể khác nhau ở nơi này và nơi khác, khác nhau về số lượng, về
kích thước, phân bố về không gian. Trong nhiều trường hợp thống kê, người ta thường
phân CTR thành hai loại chính: chất thải công nghiệp và chất thải sinh hoạt. Ở các nước
phát triển cũng như các nước đang phát triển, tỷ lệ chất thải sinh hoạt thường cao hơn
chất thải công nghiệp.
2.1.4 Thành phần CTR

SVTH: Vũ Thò Thanh An
Nghiên cứu đề xuất mô hình phân loại CTR tại nguồn tại Phường Hải Đình - Thành
phố Đồng Hới - Tỉnh Quảng Bình
6
7
8
9
10
11
12
13
14
Cao su
Da
Rác làm vườn
Gỗ
Thủy tinh
Đồ hộp
Kim loại màu
Kim loại đen
Bụi, tro, gạch
0 - 2
0 - 2
0 - 20
1 - 4
4 - 16
2 - 8
0 - 1
1 - 4
0 - 10

Nghiên cứu đề xuất mô hình phân loại CTR tại nguồn tại Phường Hải Đình - Thành
phố Đồng Hới - Tỉnh Quảng Bình
đến 80%. Độ ẩm biến đổi nhiều, và cao nhất vẫn là rác thực phẩm, rác làm vườn,
rác sinh hoạt thấp nhất là thủy tinh.
b. Thành phần hóa học
Thành phần hóa học của rác bao gồm những chất dễ bay hơi khi đốt ở nhiệt
độ 920
0
C, thành phần tro sau khi đốt và dễ nóng chảy. Tại điểm nóng chảy thể tích
của rác giảm 95%.
Bảng 4. Thành phần hoá học của rác sinh hoạt
STT
Thành phần
Loại rác
Tính theo % trọng lượng khô
Carbon Hydro Oxy Nitơ
Lưu
huỳnh
Tro
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Thực phẩm

44.0
44.6
22.8
31.2
x
11.6
42.7
42.7
2.0
2.6
0.3
0.3
x
4.6
2.0
10.0
3.4
0.2
0.5
0.4
0.2
0.2
x
0.15
x
0.4
0.1
0.1
0.2
5.0

phát, không có một quy hoạch cụ thể. Biện pháp này tuy đã có từ lâu và tại Việt
Nam ở những đòa phương chưa có các chương trình quy hoạch quản lý và xử lý rác
một cách triệt để thì biện pháp này thường thấy.
c. Đổ xuống biển
Đây là một biện pháp mà các thành phố nằm gần các bờ biển thường hay sử
dụng, mặc dù gần đây khi các tổ chức bảo vệ môi trường trên thế giới đã khuyến
cáo rất nhiều về hiện tượng này, hiện tượng các bãi biển tràn ngập rác rưởi thì
việc đổ chất thải sinh hoạt xuống biển cũng không còn phổ biến như trước nữa.
Riêng thành phố New York thì hàng năm bùn nạo vét đổ xuống biển khoảng 7 –
10 triệu tấn với khoảng xa bờ là 12 dặm (miles). Theo một quy đònh gần đây thì
CTR là bùn nạo vét phải đổ xa bờ tối thiểu là 106 dặm (miles). Một câu hỏi đặt ra
cần phải trả lời là khả năng của biển có thể chòu được bao nhiêu chất thải, và nếu
tiếp tục đổ xuống biển mà không có được một quy hoạch cụ thể để bảo vệ môi
GVHD: PGS.TS Đinh Xuân Thắng Trang 15
SVTH: Vũ Thò Thanh An
Nghiên cứu đề xuất mô hình phân loại CTR tại nguồn tại Phường Hải Đình - Thành
phố Đồng Hới - Tỉnh Quảng Bình
trường bờ biển, đời sống thuỷ sinh, thậm chí là cả đời sống con người thì chất
lượng môi trường biển sẽ ra sao.
d. Chôn lấp hợp vệ sinh
Chôn lấp hợp vệ sinh dường như là biện pháp cuối cùng để lựa chọn khi đưa
ra các biện pháp xử lý CTR. Đây là một biện pháp đơn giản, dễ thực hiện, mức độ
an toàn cho môi trường, cho con người cao, được áp dụng khá phổ biến ở hầu hết
các quốc gia trên thế giới mà tại đó quỹ đất dồi dào. Chôn lấp hợp vệ sinh là biện
pháp xử lý được sử dụng để xử lý từ 70 – 90 % lượng CTR sinh hoạt tại các quốc
gia trên toàn thế giới. Để lựa chọn vò trí, khu vực xây dựng bãi chôn lấp (BCL) rác
hợp vệ sinh phụ thuộc vào khá nhiều yếu tố như: khoảng cách từ các nguồn phát
sinh CTR tới BCL, hệ thống giao thông, những tác động tới môi trường trong quá
trình hoạt động, tình hình đòa chất thuỷ văn tại khu vực…
Nếu so sánh với các phương pháp khác thì phương pháp chôn lấp CTR hợp

hữu cơ của vi sinh vật. Ưu điểm của phương pháp này là rẻ tiền, hiệu quả xử lý tốt,
sản phẩm sinh ra có ý nghóa kinh tế cao, được áp dụng nhiều tại các khu vực sản
xuất nông nghiệp vì nguồn phân hữu cơ tự làm ra này rất tốt cho cây trồng. Việc ủ
chế biến phân rác được phân làm 2 phương pháp:
Ủ hiếu khí: công nghệ này sử dụng các vi sinh vật hiếu khí để xử lý các chất
hữu cơ có trong CTR ở điều kiện có đủ ôxy, nhiệt độ, pH thích hợp. Các vi khuẩn
hiếu khí có trong rác sẽ thực hiện quá trình ôxy hoá các phần tử carbon có trong
chất hữu cơ thành đioxit carbon (CO
2
). Thông thường rác sau khi ủ 2 ngày và nhờ
khả năng giữ nhiệt, nhiệt độ trong đống rác ủ tăng lên 45
0
C và đạt 60 – 90
0
C sau 6
– 7 ngày. Lúc này ở điều kiện đủ ôxy, độ ẩm và pH thích hợp các vi sinh vật hiếu
khí hoạt động mạnh, sau 2 – 4 tuần là rác bò phân huỷ hoàn toàn, các vi khuẩn gây
bệnh, côn trùng có trong rác bò huỷ diệt do nhiệt độ trong đóng rác ủ lên cao.
Ủ yếm khí: quá trình này hoạt động dựa trên việc sử dụng tính năng phân
huỷ chất hữu cơ của các vi sinh vật kỵ khí. Mô hình chế biến phân rác bằng việc
sử dụng phương pháp ủ yếm khí đã có từ lâu, nhất là đối với những vùng sâu, vùng
xa khi cần chế biến phân bón cho nông nghiệp. Tuy nhiên ủ yếm khí cũng có
những nhược điểm như: thời gian phân huỷ dài, phát sinh ra các khí CH
4
, H
2
S gây
mùi hôi, các vi khuẩn gây bệnh và côn trùng không chết do nhiệt độ phân huỷ
thấp.
 Ưu điểm của phương pháp

 Ưu điểm của công nghệ
GVHD: PGS.TS Đinh Xuân Thắng Trang 18
SVTH: Vũ Thò Thanh An
Nghiên cứu đề xuất mô hình phân loại CTR tại nguồn tại Phường Hải Đình - Thành
phố Đồng Hới - Tỉnh Quảng Bình
 Diện tích sử dụng để xử lý nhỏ;
 Những CTR khi đốt thì trở nên vô trùng, không gây hại tới sức khoẻ
con người và môi trường. Thể tích CTR sau khi đốt cũng giảm tới 70
– 90% thể tích ban đầu;
 Loại trừ được các chất độc có khả năng gây ung thư hay gây bệnh
truyền nhiễm, chất có hoạt tính sinh học gây tác động bất lợi cho
các quá trình xử lý khác;
 Khả năng xử lý chất thải trong thời gian ngắn;
 Quá trình đốt không sinh ra khí CH
4
(methane) như chôn lấp, là một
yếu tố gây hiệu ứng nhà kính làm nóng bầu không khí toàn cầu;
 Đối với lò đốt công suất lớn, lượng nhiệt sinh ra có thể sử dụng cho
các mục đích khác;
 Thiêu đốt là biện pháp tốt nhất để có thể xử lý những chất thải độc
hại như: những chất dung môi hữu cơ, những chất độc, CTR y tế…
 Nhược điểm
 Vận hành phức tạp, đòi hỏi năng lực kỹ thuật và tay nghề cao;
 Giá thành đầu tư lớn, chi phí xử lý cao, thời gian hoàn vốn lâu;
 Trong quá trình thiêu đốt có phát sinh ra những khí gây ô nhiễm
môi trường không khí và gây ảnh hưởng tới sức khoẻ con người nhất
là bụi;
 Thiếu sự linh động trong việc thay đổi chế độ đốt;
 CTR sau quá trình đốt tuy đã giảm thể tích xuống rất nhiều nhưng
vẫn còn (tro), nên cũng cần phải có biện pháp quản lý nguồn này.

 Xử lý rác tại nhà máy phân rác Cầu Diễn, Hà Nội
GVHD: PGS.TS Đinh Xuân Thắng Trang 20
SVTH: Vũ Thò Thanh An
Nghiên cứu đề xuất mô hình phân loại CTR tại nguồn tại Phường Hải Đình - Thành
phố Đồng Hới - Tỉnh Quảng Bình
Trong 2 năm 1993 – 1994 thành phố Hà Nội tiếp nhận dự án viện trợ của
Liên hiệp quốc đầu tư cho Nhà máy phân rác Cầu Diễn. Nhà máy này sử dụng
công nghệ ủ hiếu khí nhằm rút ngắn thời gian phân huỷ rác để đáp ứng với lượng
rác khổng lồ của thành phố. Quá trình ủ rác rác hiếu khí ở đây được thực hiện nhờ
các vi sinh vật hiếu khí có sẵn trong rác, có bổ sung thêm vi sinh vật phân lập và
nhân giống. Quá trình ủ được thực hiện trong hầm ủ, được thổi gió cưỡng bức và
duy trì độ ẩm thích hợp.
Công nghệ ủ rác ở Cầu Diễn là một trong những công nghệ tiên tiến nhất.
Tuy nhiên đòi hỏi đầu tư rất lớn mà bất kỳ một nơi nào khác khó có thể thực hiện
được nếu không có sự giúp đỡ tài chính của nước ngoài.
 Xử lý rác tại nhà máy phân rác Buôn Ma Thuột
Nhà máy được xây dựng và đi vào hoạt động từ tháng 5/1994 tại Thò xã
Buôn Ma Thuột (tỉnh Đaclak). Do điều kiện thuận lợi về phế liệu nông sản có
nguồn gốc hữu cơ (vỏ đậu phộng, vỏ cà phê) và dồi dào về phân gia súc và than
bùn, nhà máy này lựa chọn công nghệ ủ rác yếm khí. Bước đầu ở đây cho thấy
hiệu quả kinh tế và phân sản phẩm có thành phần dinh dưỡng khá tốt. Trên cơ sở
sản phẩm phân hữu cơ, cơ bản Nhà máy này còn có dự đònh sản xuất phân hữu cơ
giàu NPK.
 BCL hợp vệ sinh
Chôn lấp là biện pháp xử lý cuối cùng nhưng lại là biện pháp chủ yếu và
hiệu quả nhất trong điều kiện nước ta hiện nay. Chôn lấp cho phép xử lý tất cả các
loại rác công nghiệp và sinh hoạt. Chi phí đầu tư và vận hành của BCL tương đối
thấp so với các phương pháp xử lý khác. Điều đó cho thấy đây là hướng đầu tư
thích hợp trong điều kiện nước ta hiện nay. Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta việc
chôn lấp hợp vệ sinh mới được đề cập mấy năm gần đây và việc triển khai còn

GVHD: PGS.TS Đinh Xuân Thắng Trang 22
SVTH: Vũ Thò Thanh An
Nghiên cứu đề xuất mô hình phân loại CTR tại nguồn tại Phường Hải Đình - Thành
phố Đồng Hới - Tỉnh Quảng Bình
cho nhiều lao động. Trong lónh vực tái sử dụng các thành phần hữu cơ trong rác
sinh hoạt để sản xuất phân Compost, nếu việc PLRTN được thực hiện tốt sẽ góp
phần nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng cũng như tính ổn đònh của sản
phẩm phân Compost. Qua đó sẽ góp phần mở rộng thò trường phân Compost vốn
chưa được ưa chuộng như hiện nay…
Hoạt động PLRTN được thực hiện mạng lại những lợi ích thiết thực về kinh
tế– xã hội và môi trường như :
 Lợi ích kinh tế :
 Tái sử dụng lại hầu như toàn bộ lượng rác hữu cơ dễ phân huỷ để
sản xuất phân compost;
 Tiết kiệm diện tích đất sử dụng để chôn lấp rác do giảm lượng rác
đưa đến bãi chôn lấp;
 Tiết kiệm chi phí xử lý nước rỉ rác;
 Tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên như nước, năng lượng, các tài
nguyên dùng để sản xuất năng lượng.
 Khía cạnh môi trường:
PLRTN nhằm góp phần cải thiện môi trường sống của cộng đồng:
sạch, vệ sinh, văn minh; khắc phục được những nhược điểm của hệ
thống kỹ thuật quản lý CTR sinh hoạt hiện tại.
 Khía cạnh xã hội :
 Giúp người dân ngày càng nhận thức rõ hơn ý nghóa của việc tận
dụng phế thải, sản phẩm thừa để tạo ra các sản phẩm có ích cho nền
kinh tế – xã hội và môi trường;
 Nâng cao sức khoẻ cũng như phúc lợi xã hội cho nhân dân thông
qua ý thức về trách nhiệm bảo vệ môi trường của mình. Bên cạnh
GVHD: PGS.TS Đinh Xuân Thắng Trang 23

Nghiên cứu đề xuất mô hình phân loại CTR tại nguồn tại Phường Hải Đình - Thành
phố Đồng Hới - Tỉnh Quảng Bình
chôn lấp rác của các nước phát triển hầu như không cần chú ý đến việc xử lý nước
rác do khối lượng chất hữu cơ trong bãi chôn lấp khá thấp. Có thể nói việc xây
dựng mô hình thu gom, phân loại và vận chuyển, xử lý CTR ở các nước phát triển
đã đi vào nề nếp và được người dân tự giác thực hiện như là pháp lệnh của nhà
nước. Việc thu gom và phân loại rác ở các nước được thực hiện với quy mô khá
đơn giản và thuận tiện cho người dân. VD: ở Newzeland túi nylon đen bán rất rẻ
trong các siêu thò được người dân mua về từng cuộn trong nhà. Mỗi nhà dân được
trang bò 2 thậm chí 3 thùng nhựa xanh chứa rác có nắp kín như ở Việt Nam. Tất cả
các loại thực phẩm, thức ăn thừa, rau thừa, vỏ chuối, vỏ trứng… được bỏ vào hộc
nhỏ cạnh lavabo, xay nhuyễn và xả vào hệ thống thoát nước và đưa về hệ thống
xử lý nước thải tập trung. Trong túi đen chỉ chứa rác hoàn toàn khô nên có thể để
ngay trong nhà bếp mà tuyệt đối không có mùi hôn thối gì. Các loại CTR có thể
tái chế được phân loại riêng như lon bia, chai nhựa… Các chất thải độc hại như pin,
acquy, mạch điện tử được phân loại từ nhà. Trên mỗi thùng rác của từng hộ gia
đình đề có ghi tên, số nhà vào sáng thứ sáu sẽ do người dân đặt phía trước nhà,
công ty dòch vụ sẽ đi thu gom riêng từng loại rác tuỳ theo chức năng của mình.
CBEM là mô hình quản lý đã thành công ở tất cả các nước phát triển với ý thực
cộng đồng rất cao và với các quy đònh, luật lệ nghiêm ngặt về thu gom, phân loại
và xử lý rác tại nguồn.
2.3.3 Tình hình phân loại CTR tại nguồn ở Việt Nam
Việc thu gom, phân loại và lựa chọn biện pháp xử lý CTR cho từng đòa
phương đang là vấn đề bức xúc hiện này. Mỗi đòa phương đều có những giải pháp
cho riêng đòa phương mình nhằm mục đích: nâng cao tỷ lệ thu gom đạt hiệu quả
cao nhất có thể trong điều kiện của đòa phương mình.
Phân loại CTR ngay tại nguồn nhằm tận dụng các loại CTR có thể tái sinh,
tái chế, làm giảm chi phí vận chuyển đến BCL, giảm áp lực cho các bãi chôn lấp;
GVHD: PGS.TS Đinh Xuân Thắng Trang 25
SVTH: Vũ Thò Thanh An


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status