BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
VŨ THU GIANG
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH:
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG ĐỀ XUẤT XỬ LÝ
VI PHẠM Ở VIỆT NAM Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
Mã số : 60.34.05 LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Vũ Thu Giang
2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Cụm từ viết tắt
Tên tiếng Anh đầy đủ
Tên tiếng Việt đầy đủ
AFTA
ASEAN Free Trade Area
Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN
APEC
Asia-Pacific Economic
Cooperation
Diễn đàn hợp tác kinh tế -
Châu á Thái Bình Dơng
Hiệp định chung về thuế quan
và thơngmại
HCCT Hạn chế cạnh tranh
LCT Luật cạnh tranh
LCT 2004 Luật cạnh tranh Việt Nam năm
2004
3 LTM Luật thơng mại Việt Nam
QLCT Quản lý cạnh tranh
SHCN Sở hữu công nghiệp
doanh, gây hậu quả xấu cho môi trường kinh doanh, cho các doanh nghiệp làm ăn
chân chính và cho người tiêu dùng. Cơ chế thị trường cũng đặt ra nhu cầu phải thiết
lập và duy trì một môi trường cạnh tranh công bằng và bình đẳng cho các chủ thể
kinh doanh. Đây cũng là một điều kiện để Việt Nam thực hiện cam kết sau khi gia
nhập WTO.
Vấn đề chống CTKLM và chống hạn chế cạnh tranh (độc quyền) tiếp tục là
vấn đề nóng bỏng và sôi động của khoa học pháp lý nói chung và khoa học pháp lý
kinh tế nói riêng không chỉ đối với các quốc gia đã có nền kinh tế thị trường phát
triển mà cả ngay ở các quốc gia mới chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, trong
đó có Việt Nam.
Những năm qua, ở nước ta vấn đề cạnh tranh đã thu hút được sự quan tâm
của nhiều giới, nhiều nhà khoa học và có một số công trình nghiên cứu vấn đề này
lần lượt ra đời. Pháp luật vừa góp phần bình ổn các quan hệ kinh tế vừa điều chỉnh
quan hệ kinh tế để nền kinh tế phát triển một cách lành mạnh, ổn định, có tổ chức,
theo định hướng, mục tiêu đã định.
Các hoạt động CTKLM trên thị trường giữa doanh nghiệp nước ngoài với
doanh nghiệp trong nước; giữa hàng nội và hàng ngoại; giữa các doanh nghiệp
thuộc khu vực kinh tế tư nhân và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế quốc
doanh vẫn đã và đang diễn ra không ngừng.
Vì thế, việc xây dựng chế định pháp lý về cạnh tranh, chống CTKLM và
chống độc quyền trong chỉnh thể của hệ thống pháp luật nói chung và khung pháp
luật kinh tế nói riêng có tầm quan trọng đặc biệt nhằm cải thiện môi trường pháp lý,
5 khuyến khích hơn nữa các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của các chủ thể
kinh tế trong và ngoài nước.
Nền kinh tế thị trường càng phát triển, sự vận động của các quan hệ kinh tế
càng phong phú, đa dạng thì quy mô và mức độ cạnh tranh ngày càng tăng, những
hành vi CTKLM xuất hiện ngày càng nhiều. Trong khi đó thực thi pháp luật cạnh
trọng đối với sự điều tiết nền kinh tế theo cơ chế thị trường tại nước ta. Sau thời
điểm này cũng có nhiều tài liệu tham khảo và công trình nghiên cứu về vấn đề này
được đăng tải. Tiêu biểu như Đề tài NCKH cấp bộ, Những nội dung cơ bản của
Luật cạnh tranh Việt Nam năm 2004 và đề xuất áp dụng của TS. Tăng Văn Nghĩa,
2005; Đề tài NCKH cấp bộ “Những vấn đề đặt ra và giải pháp thực thi có hiệu quả
Luật cạnh tranh trong thực tiễn” của TS Tăng Văn Nghĩa, 2007; Tạp chí Luật học
của Trường ĐH Luật HN, số 6/2006 đăng bài “Đưa pháp luật chống CTKLM vào
cuộc sống” của tác giả Nguyễn Như Phát; Luận án tiến sỹ luật học “Pháp luật
chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam” của tác giả Lê Anh Tuấn, Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2008; Giáo trình “Luật cạnh tranh” của tác giả Tăng Văn Nghĩa,
Nxb giáo dục Việt Nam, 2009
Ngoài ra còn rất nhiều bài báo, tạp chí đã đưa ra được thực trạng CTKLM,
xây dựng và đóng góp ý kiến quý báu cho việc hoàn thiện chính sách, pháp luật
CTKLM đã được đăng tải trên các tạp chí như Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp
chí Luật học, Tạp chí kinh tế
Tuy nhiên từ đó đến nay, sau hơn 4 năm LCT có hiệu lực, chưa có công trình
nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống thực trạng CTKLM tại Việt
Nam từ đó xây dựng và đưa ra các chế tài để Luật cạnh tranh của Việt Nam năm
2004 (LCT 2004) ngày càng hoàn thiện hơn, đồng thời xây dựng nền kinh tế cạnh
tranh ngày càng lành mạnh hơn trong quá trình hội nhập và phát triển.
III - MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về
Pháp luật cạnh tranh, cụ thể là pháp luật phòng tránh CTKLM, đánh giá thực trạng
về CTKLM ở Việt Nam từ đó đưa ra đề xuất, giải pháp nhằm xử lý thỏa đáng hành
vi CTKLM ở Việt Nam.
7 Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
- Nghiên cứu, tìm hiểu về cạnh tranh và pháp luật về cạnh tranh nói chung và
CHƢƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH
VÀ PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
1.1 - Khái quát về cạnh tranh
1.1.1 - Khái niệm cạnh tranh
Kinh tế thị trường được xem là một trong những phát minh vĩ đại nhất trong
lịch sử phát triển của văn minh nhân loại khi con người đã trải qua sự thống trị của
kinh tế tự nhiên luôn làm cho xã hội vận động chậm chạp và sự thống trị của kinh tế
chỉ huy là mất động lực kinh tế, triệt tiêu tính năng động sáng tạo của con người.
Cho đến nay chúng ta không thể tìm ra được kiểu tổ chức kinh tế nào có hiệu quả
hơn kinh tế thị trường vì nó luôn hàm chứa trong mình những thách thức đối với sự
nhạy bén và sáng tạo của con người thông qua môi trường cạnh tranh.
Trong thời kỳ chưa có nền sản xuất hàng hoá, thị trường chưa hình thành và
phát triển thì không thể có hiện tượng cạnh tranh giữa những người sản xuất với
nhau. Từ khi có nền sản xuất hàng hóa vào thế kỷ XIV – XV, cạnh tranh xuất hiện
trong cuộc cách mạng tư sản và công nghiệp.
Điều cần nhấn mạnh là cạnh tranh chỉ xuất hiện với đặc trưng là động lực
phát triển nội tại của nền kinh tế trước áp lực liên tục của người tiêu dùng đối với
giá cả buộc các chủ thể kinh doanh phải phản ứng tự phát, phù hợp với các mong
muốn thay đổi của người tiêu dùng, cạnh tranh cũng chỉ xuất thân là động lực thúc
đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển nhằm nâng cao năng xuất lao động, đẩy
nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất trong điều kiện các yếu tố của sản xuất
như tài nguyên, chất xám, sức lao động đều là hàng hoá. Hơn nữa cạnh tranh cũng
chỉ xuất hiện thực sự với đặc trưng là một cuộc đua tranh trong một nghành, một
lĩnh vực kinh tế nào đó khi có sự tham gia của các chủ thể kinh doanh có lợi ích cơ
9
Rõ ràng cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp có thể tiếp cận
ở nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, dưới góc độ sản xuất, kinh doanh trong điều
kiện của cơ chế thị trường, khái niệm cạnh tranh có thể được hiểu một cách chung
nhất như sau: "Cạnh tranh được coi là hành vi của các chủ thể trong khi tiến hành
các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường với mục đích giành
và thiết lập cho mình những ưu thế có lợi nhất để thu lợi nhận cao nhất ". [9, tr.6]
Qua các khái niệm trên có thể nhận thấy một điểm chung là cạnh tranh là sự
chạy đua giữa hai hay nhiều đối thủ. Cạnh tranh trong kinh tế về bản chất được hiểu
là sự chạy đua giữa các doanh nghiệp trên thị trường nhằm không ngừng tung ra thị
trường những sản phẩm và dịch vụ tốt nhất với giá cả thấp nhất nhằm lôi kéo khách
hàng về phía mình. Với mục đích tối ưu hoá lợi nhuận của các doanh nghiệp, cạnh
tranh đã thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung tư bản diễn ra không đều ở các
nghành, các lĩnh vực kinh tế khác nhau. Đây là tiền đề vật chất cho sự hình thành
các hình thái CTKLM và độc quyền. Cạnh tranh còn là môi trường đào thải các nhà
kinh doanh không thích nghi được với các điều kiện của thị trường.
1.1.2 - Các hình thức cạnh tranh
Cạnh tranh có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, song ý nghĩa
thực tiễn của việc phân chia này phụ thuộc hoàn toàn vào tiêu chí phân loại các hình
thái thị trường vì cạnh tranh bao giờ cũng được biểu hiện trong những hình thái thị
trường cụ thể. Bởi vậy, việc xác lập tiêu chí phân loại các hình thái thị trường luôn
luôn có một ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt. Cụ thể có các hình thái cạnh tranh
được phân loại dựa trên các tiêu trí sau:
- Dựa vào tính chất của thủ đoạn cạnh tranh và ảnh hƣởng của nó, ngƣời
ta chia cạnh tranh thành: Cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành
mạnh
Cạnh tranh lành mạnh
Là hình thức cạnh tranh hợp pháp, trung thực, trong sáng, giữ gìn đạo đức và
tập quán kinh doanh, cạnh tranh bằng chính nội lực, tiềm lực thực có của chủ thể
do được nuôi dưỡng bởi chính tự do". Định nghĩa "Bàn tay vô hình"của Ađam
Smith - một nhà triết gia nổi tiếng của Scotland, sinh năm 1723 tại Kirkcaldy đã chỉ
ra rằng: Trong khi chạy theo tư lợi thì có một "bàn tay vô hình" buộc con người
12 kinh tế đồng thời phải thực hiện một nhiệm vụ không nằm trong dự kiến là đáp ứng
lợi ích xã hội và đôi khi họ còn đáp ứng lợi ích xã hội tốt hơn ngay cả khi họ có ý
định làm điều đó từ trước. "Bàn tay vô hình" đó chính là các quy luật kinh tế khách
quan tự phát, hoạt động chi phối hoạt động của con người. Đây là thời kỳ không có
“Bàn tay hữu hình”, Nhà nước và pháp luật được xem là kẻ thù của cạnh tranh,
khuyết tật của thị trường được bùng phát và gây ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội.
Ngày nay do sự khác biệt về quyền lợi, chủ sở hữu của các thành phần kinh
tế đòi hỏi phải có sự cân bằng, hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia trên thị
trường, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững nên sự tự do của các doanh nghiệp bị
giới hạn trong các quy định pháp luật. Cạnh tranh tự do được thay thế bằng cạnh
tranh có sự điều tiết của Nhà nước.
Cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước
Cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước là hình thái thị trường của các nền
kinh tế thị trường hiện đại. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929 - 1933 đã
chứng kiến sự sụp đổ của hình thái thị trường cạnh tranh tự do và định nghĩa "Bàn
tay vô hình"của Ađam Smith. Trong giai đoạn này, cạnh tranh tự do đã bộc lộ
những mặt trái của nó: Thất nghiệp, sự phá sản hàng loạt, sự lãng phí tài nguyên
Vì thế nhà nước không thể đứng yên và đứng ngoài đời sống kinh tế-xã hội. Quyền
lực Nhà nước đã xuất hiện để khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường, bảo
vệ tự do cạnh tranh - động lực phát triển kinh tế, thực hiện mục tiêu kinh tế của bản
thân nhà nước và giai cấp thống trị. Tự do cạnh tranh trong hình thái này được bảo
vệ, nuôi dưỡng và giới hạn bởi các thể chế, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
- Dƣới góc độ cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh có các hình thức cạnh
tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo và độc quyền.
nghiệp trong điều kiện cạnh tranh đã thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung tư bản,
phân bố các doanh nghiệp diễn ra không đều ở các ngành và lĩnh vực kinh tế khác
nhau. Trước điều kiện về chi phí nhập ngành và yêu cầu công nghệ cao đã có thể
làm cho sản lượng một ngành chỉ do một số ít các doanh nghiệp cung cấp.
Độc quyền
Là hình thái thị trường trong đó một doanh nghiệp duy nhất bán một sản
phẩm mà không có doanh nghiệp nào có cùng loại sản phẩm cạnh tranh với nó.
14 Việc thâm nhập vào ngành sản xuất sản phẩm này rất khó khăn hoặc không thể
được.
Do là người duy nhất cung ứng một sản phẩm duy nhất nên họ có thể giảm
sản lượng sản phẩm để tăng giá bán trên thị trường. Trong trường hợp này, nhu cầu
đối với hàng hoá của họ trên thị trường có thể giảm nhưng không bao giờ xuống
đến mức bằng không. Đây là điểm khác với trường hợp có sự tồn tại của cạnh tranh,
bởi trong môi trường cạnh tranh, nếu một doanh nghiệp nâng giá sản phẩm của
mình lên cao hơn so với giá sản phẩm cùng loại của các hãng khác, lập tức nhu cầu
đối với sản phẩm của họ sẽ giảm xuống và có thể sẽ giảm xuống bằng không do
khách hàng chuyển mua hàng của hãng khác.
Vật cản mang tính kinh tế chính là những khó khăn của bản thân nền kinh tế
làm cho các nhà kinh doanh thấy rằng việc gia nhập thị trường là không có lợi.
Sự hiện diện của độc quyền đã loại bỏ cạnh tranh trong nền kinh tế và gây ra
nhiều hậu quả, tiêu cực đối với sản xuất và đời sống xã hội.
1.1.3 - Vai trò của cạnh tranh đối với sự phát triển kinh tế
Đến nay hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường đều đã có hệ thống pháp
luật cạnh tranh và sử dụng chúng như một công cụ khuyến kích và bảo đảm "linh
hồn sống" của cơ chế thị trường. Cạnh tranh đã cho thấy nhiều vai trò rất quan trọng
đối với sự phát triển kinh tế đó là:
Thứ nhất, điều chỉnh quan hệ cung cầu trên cơ sở quyền tự do lựa chọn của
1.2 - Tổng quan về pháp luật cạnh tranh
1.2.1 - Khái niệm và cơ sở hình thành pháp luật cạnh tranh
Cạnh tranh chỉ có thể hình thành, tồn tại và phát triển trong điều kiện của
kinh tế thị trường. Tuy nhiên, muốn phát huy được mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu
cực của cạnh tranh cần phải có sự điều chỉnh của pháp luật. Bất kỳ nền kinh tế thị
trường của quốc gia nào thì pháp luật kinh tế cũng phải quan tâm đến hai vấn đề
chính trong một thể thống nhất là quyền tự do kinh doanh và khả năng, hình thức
can thiệp của công quyền vào đời sống kinh tế. Pháp luật về cạnh tranh chỉ xuất
hiện và can thiệp vào cạnh tranh như là một công cụ khuyến khích và đảm bảo của
những tiền đề cụ thể. Đó là tiền đề của nguyên tắc tự do thương mại mà theo đó là
tự do kinh doanh, tự do khế ước và quyền tự chủ cá nhân được hình thành và đảm
16 bảo. Tự do kinh doanh, tự do khế ước cùng với sự thúc đẩy của quy luật giá trị và
bản tính của con người nên các hoạt động cạnh tranh tự phát luôn có thiên hướng
thái quá, cực đoan nhằm gây rối, ngăn cản, hạn chế hoặc thủ tiêu cạnh tranh của các
đối thủ. Những hành vi cạnh tranh mang mục đích đó, khi thái quá, đến lượt nó, lại
quay lại huỷ hoại động lực phát triển kinh tế, phá huỷ cạnh tranh.
Như vậy pháp luật canh tranh được hiểu là Hệ thống các quy phạm cũng như
các công cụ pháp luật khác nhằm bảo vệ tự do cạnh tranh, cơ cấu thị trường cũng
như môi trường cạnh tranh bình đẳng và công bằng
Thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do canh tranh, ý tưởng của Ađam Smith về vai
trò của "Bàn tay vô hình" thị trường được thể hiện rõ nét qua mô hình cạnh tranh
hoàn hảo mà theo đó nhà nước và pháp luật là kẻ thù của cạnh tranh, của đời sống
kinh tế, rõ ràng lúc đó chưa có sự kiểm soát và điều tiết cạnh tranh, vì vậy cũng
chưa có pháp luật về cạnh tranh. Tuy nhiên, thực tế cấu trúc và hành vi thị trường
không đảm bảo cạnh tranh hoàn hảo (chẳng hạn do độc quyền, rào cản nhập cuộc,
các hành vi hạn chế cạnh tranh ) nên từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các quốc
Pháp luật xuất hiện.
Vì vậy, tiếp cận từ mặt sau và không triệt để về tính xác định về mặt nội
dung là đặc điểm căn bản của pháp luật cạnh tranh. Đây là những dấu hiệu để phân
biệt pháp luật cạnh tranh với những lĩnh vực pháp luật khác như luật công ty hay
luật hình sự. Có lẽ vì lý do đó mà ở nhiều quốc gia phương tây đều coi pháp luật
cạnh tranh là chế định pháp luật cơ bản của luật kinh tế.
Ở các quốc gia có sự ổn định tương đối về pháp luật cạnh tranh, mặc dù có
cơ cấu của hệ thống cơ chế thị trường cạnh tranh khác nhau (Mỹ, Đức, Nhật) song
khi xem xét các cấu thành cụ thể họ đều chia pháp luật cạnh tranh thành hai lĩnh
vực khác biệt đó là pháp luật chống CTKM và pháp luật chống hạn chế cạnh tranh
(HCCT).
Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh: Pháp luật chống CTKLM ra
đời sớm hơn pháp luật chống HCCT. Pháp luật chống CTKLM điều chỉnh những
hành vi CTKLM. Pháp luật cạnh tranh của mỗi một quốc gia là khác nhau, tùy
thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của các quốc gia khác nhau mà đảm nhiệm vai
trò và nhiệm vụ khác nhau. Tuy nhiên ở bất cứ quốc gia nào thì pháp luật cạnh tranh
18 cũng được xây dựng nhằm tạo ra một thị trường cạnh tranh thực sự bên cạnh các
thiết chế cần thiết để duy trì và bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh. Ngoài ra
hệ thống pháp luật cạnh tranh còn có vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư
nước ngoài, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng, điều chỉnh các hành vi
cạnh tranh của các doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng.
Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh: Trong khi pháp luật chống CTKLM
nhằm vào đối thủ kinh doanh cụ thể thì pháp luật chống HCCT lại nhằm vào hiện
tượng có tính chất HCCT, độc quyền làm thay đổi cơ cấu thị trường. Theo nghĩa đó,
pháp luật chống HCCT là pháp luật bảo vệ cơ cấu và tương quan thị trường. Vì thế
nó có sự liên hệ mật thiết với pháp luật liên quan đến gia nhập thị trường. Pháp luật
chống HCCT bao gồm ba nội dung: Cấm thỏa thuận HCCT, Cấm lạm dụng sức
mạnh, chống lại có hiệu quả các hành vi CTKLM, mọi xu hướng dẫn tới HCCT,
triệt tiêu cạnh tranh. [4, tr.45]
Với những mục đích đó, pháp luật về cạnh tranh có thể can thiệp và định
hướng vào hầu hết các nhóm quan hệ kinh tế do pháp luật kinh tế điều chỉnh. Nó
phải được hình thành trên cơ sở đồng bộ với các định khung pháp luật khác như: Tự
do cạnh tranh, tự do khế ước, tự do hình thành giá cả, đảm bảo sự bình đẳng trước
pháp luật của các chủ thể kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế thị trường cùng
các chuẩn mực về đạo đức kinh doanh truyền thống, tập quán thương mại lành
mạnh được xã hội và pháp luật thừa nhận.
Sự can thiệp, điều tiết hoạt động cạnh tranh trên thị trường mang tính tất yếu
trong điều kiện nhà nước quản lý, điều tiết kinh tế thị trường theo các mục tiêu,
chính sách của mình. Sự can thiệp, điều tiết đó nhằm mục đích:
- Bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, trung thực, công bằng giữa các chủ thể
cạnh tranh;
- Điều tiết cạnh tranh theo mức độ, phạm vi phát triển của thị trường trong
nước và ngoài nước, của từng loại hàng hoá;
- Bảo vệ lợi ích của người sản xuất, lợi ích người tiêu dùng và lợi ích của
Nhà nước, xã hội;
20 - Làm cho cạnh tranh thực sự trở thành động lực phát triển sản xuất, phát
triển nền kinh tế quốc dân, tạo thế cạnh tranh của quốc gia trên thị trường quốc tế;
- Hạn chế tình trạng bóp nghẹt cạnh tranh tự do, lành mạnh và công bằng;
- Chống mọi hành vi CTKLM;
- Góp phần điều tiết toàn bộ nền kinh tế thị trường theo mục tiêu, chính sách
đã chọn; giữ vững kỷ cương, pháp luật của nhà nước;
- Định hướng chuẩn mực, đạo đức trong kinh doanh, cạnh tranh, giữ gìn tập
quán kinh doanh, thông lệ cạnh tranh được nhà nước và xã hội chấp nhận;
mạnh như Đức, Áo, Thụy Sĩ. Một số nước khác quy định trong bộ luật dân sự của
mình những quy định chống CTKLM như Pháp, Italia Bộ Luật Dân sự Pháp
(Code Civil - 1804) đã giành các điều 1382 và 1383 quy định về chống CTKLM.
Các quy định của Bộ Luật Dân sự Pháp cùng một số văn bản pháp luật đơn hành
chính là cơ sở pháp lý tạo thành chế định pháp luật chống CTKLM ngày nay.
Các nước Anh, Mỹ không ban hành một đạo luật riêng về chống CTKLM
nhưng đã vận dụng các nguyên tắc chung từ Common law để xử lý vấn đề này.
Mặc dù cách làm luật và kỹ thuật điều chỉnh có thể khác nhau nhưng sự nhận
thức về khái niệm pháp luật chống CTKLM cơ bản là thống nhất. Pháp luật chống
CTKLM có thể được hiểu là những quy phạm cũng như các công cụ pháp luật do
nhà nước ban hành nhằm chống lại những hành vi CTKLM đảm bảo quyền tự do,
bình đẳng trong kinh doanh, bảo vệ lợi ích của mọi chủ thể sản xuất, kinh doanh,
cung ứng dịch vụ tham gia cạnh tranh trên thị trường, bảo vệ lợi ích người tiêu
dùng và lợi ích xã hội nói chung.
b) Vai trò của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh
Canh tranh lành mạnh tạo cho bạn hàng cơ hội lựa chọn tối ưu, phân bổ các
nguồn lực hợp lý, đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, lao động
và các nguồn vốn khác. Sức ép cạnh tranh là động lực thúc đẩy công nghệ nói riêng
và kinh tế nói chung phát triển.
Đối lập với cạnh tranh lành mạnh là CTKLM, việc xác định là lành mạnh
hay không được căn cứ trên cơ sở mục đích, tính chất và phương pháp tiến hành
cạnh tranh trên thị trường. CTKLM là những hành vi cạnh tranh đi ngược lại các
22 nguyên tắc xã hội, tập quán và truyền thống kinh doanh, xâm phạm lợi ích của các
nhà kinh doanh khác, lợi ích người tiêu dùng và lợi ích của xã hội. [4, tr.30-31]
Với tư cách là luật lệ của cuộc tranh đua, pháp luật chống CTKLM ra đời
nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ thể tham gia cạnh tranh, duy trì cơ chế cạnh
tranh như là xương sống của nền kinh tế thị trường, đặt các hoạt động cạnh tranh
đáng kể như tạo ra sản phẩm cho chất lượng tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn với giá thành
thấp hơn. Vì vậy cạnh tranh lành mạnh phải được pháp luật bảo hộ với tư cách là
quyền của các nhà kinh doanh và là một nội dung không thể thiếu của quyền tự do
kinh doanh. Cũng có thể khẳng định rằng quyền tự do cạnh tranh của các nhà kinh
doanh là cạnh tranh lành mạnh. đó là hình thức cạnh tranh đẹp, trong sáng và giải
thoát được khỏi thói hư tật xấu trong cuộc sống đời thường[6]. Trong quan hệ với
các quyền tự do kinh doanh khác, quyền tự do cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng. Nó
chính là động lực thúc đẩy việc thực hiện quyền sở hữu về vốn, tự do hợp đồng
Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và đưa
ra những đảm bảo pháp lý nhằm thúc đẩy tự do cạnh tranh đặc biệt là tự do cạnh
tranh lành mạnh.
Để đảm bảo quyền tự do cạnh tranh lành mạnh cho các chủ thể kinh doanh
thì phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Phải có hệ thống pháp luật về cạnh tranh phù hợp
- Nhà nước phải có cơ chế kiểm soát giá cả
- Phải có chế tài nghiêm ngặt đối với các hành vi CTKLM, cạnh tranh bất
hợp pháp và các mặt tiêu cực khác của cạnh tranh
- Phải đảm bảo sự bình đẳng cho các thành phần kinh tế.
Tuy nhiên tự do cạnh tranh không được hiểu là sử dụng mọi biện pháp, mọi
hành vi để lôi kéo khách hàng. Nhiệm vụ của LCT chính là xác định những giới hạn
đó. Doanh nghiệp được sử dụng tất cả những biện pháp mà LCT cho phép để thu
hút khách hàng.
1.3.2.2 - Hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo công ƣớc Paris
Công ước Paris ra đời từ ngày 20/03/1883 về bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp (SHCN). Trong đó điều 10 bis được bổ sung vào công ước năm 1900 quy
24 định về CTKLM, theo đó "Bất cứ hành vi cạnh tranh nào đi ngược lại các hành
động trung thực, thiện chí, trong công nghiệp hoặc trong thương mại đều là hành vi