LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành, sâu sắc đến cô giáo:
Tiến sĩ Đỗ Thúy Mùi – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo để tôi nghiên cứu
và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám hiệu trường Đại học Tây Bắc, Ban
chủ nhiệm khoa và các thầy cô giáo trong khoa Sử - Địa, phòng Quản lý khoa
học, phòng Đào tạo, Thư viện trường Đại học Tây Bắc cùng các phòng ban chức
năng khác đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự động viên giúp đỡ của các thầy cô giáo và
bạn bè cùng gia đình trong thời gian nghiên cứu khóa luận.
Mặc dù đã rất cố gắng song khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những
thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo và các độc
giả để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Sơn La, tháng 5 năm 2013
Người thực hiện:
Nguyễn Thị Thúy
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài 2
1.3.5.1. Thị trường trong nước 20
1.3.5.2. Thị trường thế giới 21
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
NGÀNH THỦY SẢN 24
2.1. Thực trạng 24
2.1.1. Đánh bắt thủy sản 25
2.1.1.1. Sản lượng và năng suất 26
2.1.1.2. Hoạt động khai thác thủy sản phân theo vùng 27
2.1.2. Nuôi trồng thủy sản 33
2.1.2.1. Diện tích, sản lượng và năng suất nuôi trồng 33
2.1.2.2. Cơ cấu sản phẩm nuôi trồng 37
2.1.2.3. Hoạt động nuôi trồng thủy sản phân theo vùng 38
2.2. Giải pháp để phát triển ngành thủy sản ở Việt Nam 44
2.2.1. Định hướng phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam đến năm 2030 44
2.2.2. Những giải pháp cụ thể 45
2.2.2.1. Đối với khai thác thủy sản 45
2.2.2.2. Đối với nuôi trồng thủy sản 46
KẾT LUẬN 50
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Các chữ viết tắt
Giải nghĩa
NT
Ngư trường
XK
Số bảng
Tên bảng biểu
Trang
1
Bảng 1.1
Nguồn lợi hải sản Việt Nam.
10
2
Bảng 2.1
Mười tỉnh đứng đầu cả nước về khai thác thủy sản,
năm 2011.
27
3
Bảng 2.2
Sản lượng thủy sản khai thác các tỉnh Duyên hải
miền Trung, giai đoạn 2000 – 2011.
29
4
Bảng 2.3
Sản lượng thủy sản khai thác các tỉnh Đông Nam
Bộ, giai đoạn 2000 – 2011.
30
5
Bảng 2.4
Sản lượng thủy sản khai thác các tỉnh Tây Nam
Bộ, giai đoạn 2000 – 2011.
32
6
Bảng 2.5
Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản phân theo
tổng trữ lượng hải sản ước tính khoảng 4,0 triệu tấn. Nguồn tài nguyên hải sản
kết hợp với đặc điểm khí hậu, thủy văn, địa hình ven biển… là điều kiện để
ngành đánh bắt hải sản nước ta phát triển mạnh mẽ.
Trong một thời gian dài, thuỷ sản Việt Nam đã có những bước phát triển
thăng trầm. Từ một lĩnh vực có thể nói là chưa được chú trọng phát triển, còn ở
quy mô nhỏ lẻ, sau những năm thực hiện công cuộc đổi mới, ngành đã có những
bước đi khẳng định mình trong nền kinh tế Việt Nam cũng như trong nền kinh tế
thế giới. Ngành thuỷ sản từng bước vươn lên phát triển một cách mạnh mẽ và
hiện nay đang là một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Việt Nam đã trở
thành một trong 20 quốc gia hàng đầu thế giới về sản lượng thủy sản, là 1 trong
10 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất trên thế giới, với tốc độ tăng trưởng bình
quân 20 %/năm.
Mặc dù trong thời gian qua ngành thủy sản nước ta đã có nhiều khởi sắc,
nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Bên cạnh đó, nảy sinh những hạn
chế về suy giảm nguồn tài nguyên, kỹ thuật khai thác, nuôi trồng, chế biến;
những khó khăn về vốn đầu tư và sự biến động của thị trường. Ngành còn gặp
nhiều rủi ro và phát triển không bền vững, gây tổn thất không nhỏ cho các doanh
nghiệp và ngư dân.
Việc phát triển ngành thủy sản là vấn đề mang tính thời sự trong giai đoạn
hiện nay. Ngành này cũng đang nhận được sự quan tâm lớn của Đảng và Nhà
nước ta. Đặc biệt, việc khai thác hải sản hiện nay không chỉ có ý nghĩa về kinh
tế mà còn có ý nghĩa lớn trong việc khẳng định được chủ quyền biển đảo Việt
Nam. Tìm hiểu về ngành thủy sản để có kiến thức trong giảng dạy Địa lý ở
trường phổ thông, đồng thời để thêm hiểu biết và tự hào về quê hương đất nước
Việt Nam, góp một tiếng nói để khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam.
2
Chính vì lẽ đó, tôi đã chọn tìm hiểu vấn đề “Tiềm năng, thực trạng và giải pháp
phát triển ngành thủy sản ở Việt Nam” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài
3
đã trình bày những vấn đề lý luận chung nhất về vai trò, đặc điểm ngành thủy
sản, công nghệ chế biến thủy sản, luật thủy sản và thị trường thủy sản… Tác giả
Nguyễn Việt Thắng trong cuốn “Bách khoa thủy sản” đã phân tích, đánh giá về
môi trường, nguồn lợi thủy sản, các hình thức khai thác, nuôi trồng thủy sản.
Cuốn sách đã giúp cho người đọc có cái nhìn tổng quan về ngành thủy sản Việt
Nam.
Dưới góc độ Địa lý, tác giả Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Nguyễn Viết
Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức đã có nhiều chương trình nghiên cứu trong “Địa lý
kinh tế – xã hội Việt Nam và Địa lý nông – lâm – ngư ngiệp”. Các tác giả cũng
đã đánh giá được tiềm năng, thực trạng của ngành thủy sản ở Việt Nam. Đây là
những nguồn tư liệu quý để tôi nghiên cứu, tổng hợp trong khóa luận của mình.
Đối với mỗi vùng của cả nước cũng có nhiều tác giả đã nghiên cứu về
ngành thủy sản. Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Tạ Ngọc Anh (trường Đại
học Sư phạm Vinh) với đề tài “Giải pháp phát triển bền vững nuôi trồng thủy
sản ở các tỉnh Bắc Trung Bộ đến năm 2015”. Đề tài trọng tâm tìm hiểu những
kết quả đạt được của ngành thủy sản trong thời kỳ 2000 – 2007 ở Bắc Trung Bộ,
so sánh đối chiếu với những tiêu chí của phát triển bền vững, qua đó đánh giá và
nhận xét tình hình thực tế. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp cụ thể đối với
địa bàn các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Trong phạm vi mỗi địa phương cũng có những bài viết của nhiều tác giả
khác nhau. Bàn về việc phát triển thủy sản ở Bến Tre, tác giả Lê Xinh Nhân
(trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh) đã viết luận văn Thạc sĩ
“Tiềm năng và định hướng phát triển thủy sản ở Bến Tre”. Luận văn đã đi sâu
phân tích những mặt mạnh và hạn chế để phát triển ngành thủy sản, giải thích
nguyên nhân và đề xuất những giải pháp phát triển bền vững môi trường thủy
sản của tỉnh trong tương lai.
Hàng ngày, trên các phương tiện thông tin đại chúng như: báo chí, đài phát
thanh truyền hình cũng đang đề cập đến tình hình xuất khẩu thủy sản Việt Nam ra
Thông qua phương pháp này, nguồn tài liệu đã được xử lý sao cho phù hợp với
thực tế khách quan. Tiếp theo, tài liệu được phân tích, tổng hợp, đối chiếu để
từng bước biến chúng thành cơ sở cho những nhận định hoặc những kết luận
khoa học khi nghiên cứu.
4.3. Phương pháp biểu đồ, bảng số liệu
Biểu đồ là phương pháp đặc trưng của khoa học địa lý, là nguồn tài liệu
hết sức quan trọng trong việc khai thác những vấn đề địa lý. Các bảng số liệu
được sử dụng rộng rãi và có vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu địa lý. Khi
sử dụng bảng số liệu, người nghiên cứu đã tìm ra các mối liên hệ giữa các số
liệu, phân tích chúng theo nội dung từng vấn đề thể hiện trong các cột dọc, hàng
ngang. Việc so sánh, đối chiếu các số liệu theo cột hay hàng là hết sức cần thiết
để từ đó rút ra những nhận xét và kết luận. Trong khóa luận, tác giả đã xây dựng
5
được biểu đồ Sản lượng và giá trị sản xuất thủy sản nước ta, giai đoạn 1990 –
2010 và 9 bảng số liệu. Các biểu đồ, bảng số liệu đã thể hiện chân thực các số
liệu mà tác giả đã nghiên cứu.
5. Đóng góp của đề tài
Đề tài hoàn thành sẽ có một số đóng góp sau đây:
- Đề tài là nguồn tư liệu tham khảo cho các giáo viên, học sinh, sinh viên
trong quá trình giảng dạy và học tập.
- Đề tài sẽ giúp cho người đọc có những nhận xét, đánh giá đúng đắn hơn
về ngành thủy sản Việt Nam. Trên cơ sở đó, có ý thức hơn trong việc chung sức
bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam.
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 2 chương:
Chương 1: Những tiềm năng phát triển ngành thủy sản ở Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng và những giải pháp phát triển ngành thủy sản ở
Việt Nam.
ở biển Đông, rộng gấp 3 lần diện tích đất
liền. Đây là không gian rộng lớn để đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản.
Việt Nam nằm ở nơi tiếp xúc của các dòng hải lưu trên biển Đông. Hải lưu
lạnh phương bắc đi từ Nhật Bản qua eo Đài Loan xuống tận vĩ tuyến 12
o
B, đã
mang đến cho vùng biển nước ta những loài cá Nhật Bản – Trung Hoa bên cạnh
những loài cá của khu hệ Ấn Độ – Malaixia. Điều đó đã làm tăng cường tính đa
dạng của các loài cá trên vùng biển nước ta.
Việt Nam nằm trên tuyến đường hàng hải quốc tế từ Ấn Độ Dương sang
Thái Bình Dương nên thuận lợi cho hoạt động thông thương buôn bán thủy sản
với các quốc gia trên thế giới bằng đường biển.
1.2. Điều kiện tự nhiên
1.2.1. Địa hình ven biển
Trong vùng biển nước ta có nhiều vũng vịnh, đầm, phá, cửa sông. Dọc bờ
biển có 12 vịnh. Các vịnh tiêu biểu như vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long, vịnh
Cam Ranh. Có nhiều đầm phá với tổng diện tích 1.160 km
2
, có nhiều đảo và vũng
7
vịnh tạo điều kiện hình thành các bãi cho cá sinh sản. Đồng thời những vịnh sâu
rộng và đầm phá được che chắn bởi các mỏm đá tạo nơi trú đậu cho tàu thuyền
đánh cá an toàn. Dọc ven biển nước ta có 112 cửa sông, là những vùng nhiều phù
du sinh vật biển, đây là nguồn cung cấp thức ăn dồi dào cho các loại cá tôm. Một số
hải đảo có các rạn đá là nơi tập trung nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế.
Trong vùng biển Việt Nam có trên 4.000 hòn đảo, tập trung nhiều nhất ở
khu vực từ Móng Cái đến Ðồ Sơn. Trong đó có nhiều đảo lớn như Cô Tô, Bạch
Long Vĩ, Cát Bà, Hòn Mê, Phú Quí, Côn Ðảo, Phú Quốc có cư dân sinh sống,
đang và sẽ được xây dựng thành một tuyến căn cứ cung cấp các dịch vụ hậu cần,
tháng 9 – tháng 11, nắng nhiều từ 2.300 – 3.000 giờ/năm. Chế độ thủy triều gồm
nhật triều và bán nhật triều, có nhiều đầm phá thích hợp nuôi thủy sản.
8
Miền Nam: Khí hậu mang tính chất xích đạo, nhiệt độ trung bình 22,6 –
27,6
o
C, mưa tập trung từ tháng 5 – tháng 10. Lượng mưa trung bình 1.400 –
2.400 mm, nắng trên 2.000 giờ/năm. Vùng này chủ yếu chế độ bán nhật triều
biên độ 2,5 – 3 m. Chế độ khí hậu, thời tiết, các điều kiện tự nhiên đa dạng tạo
điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản đa loài, nhiều loại hình.
Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với nền nhiệt độ cao, biển không đóng băng,
chính vì vậy hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thủy sản diễn ra quanh năm. Nền
nhiệt độ cao còn thuận lợi cho phơi sấy và bảo quản sản phẩm thủy hải sản.
Bị chi phối bởi đặc thù của vùng biển nhiệt đới, nguồn lợi thuỷ sản nước ta
có thành phần loài đa dạng, kích thước cá thể nhỏ, tốc độ tái tạo nguồn lợi
cao. Chế độ gió mùa tạo nên sự thay đổi căn bản điều kiện hải dương học,
làm cho sự phân bố của cá cũng thay đổi rõ ràng, sống phân tán với quy mô
đàn nhỏ. Tỷ lệ đàn cá nhỏ có kích thước dưới 5 x 20 m chiếm tới 82% số đàn
cá, các đàn vừa (10 x 20 m) chiếm 15%, các đàn lớn (20 x 50 m trở lên) chỉ
chiếm 0,7% và các đàn rất lớn (20 x 500 m) chỉ chiếm 0,1% tổng số đàn cá.
Số đàn cá mang đặc điểm sinh thái vùng gần bờ chiếm 68%, các đàn mang tính
đại dương chỉ chiếm 32%.
Tuy nhiên, hàng năm có tới 9 – 10 cơn bão xuất hiện ở biển Đông và
khoảng 30 - 35 đợt gió mùa đông bắc, gây thiệt hại về người và tài sản, hạn chế
số ngày ra khơi.
1.2.3. Thủy văn
Trong nội địa, hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và các hồ thủy lợi,
thủy điện, đã tạo cho nước ta có tiềm năng lớn về mặt nước với khoảng
1.700.000 ha, trong đó: Ao hồ nhỏ, mương vườn 120.000 ha, hồ chứa mặt nước
nước ta còn có trên 600 loài rong biển, hàng năm có thể khai thác từ 45 đến 50
nghìn tấn rong biển có giá trị kinh tế, như: rong câu, rong mơ v.v Bên cạnh đó,
còn rất nhiều loài đặc sản quí, như: bào ngư, đồi mồi, chim biển và có thể khai
thác vây cá, bóng cá, ngọc trai, v.v
Vùng biển nước ta còn có đủ loại cá nổi, cá đáy, nhưng nhiều hơn cả là cá
nổi, chiếm 63% tổng trữ lượng cá biển. Điều này tạo điều kiện cho hoạt động
đánh bắt diễn ra an toàn và đỡ tốn kém.
Phân bố trữ lượng và khả năng khai thác cá đáy tập trung chủ yếu ở vùng biển
có độ sâu dưới 50 m (56,2%), tiếp đó là vùng sâu từ 51 – 100 m (23,4%). Theo số
liệu thống kê, khả năng cho phép khai thác cá biển Việt Nam bao gồm cả cá nổi và
cá đáy ở khu vực gần bờ có thể duy trì ở mức 600.000 tấn. Nếu kể cả các hải sản
khác, sản lượng cho phép khai thác ổn định ở mức 700.000 tấn/năm, thấp hơn so
với sản lượng đã khai thác ở khu vực này hàng năm trong một số năm qua. Trong
khi đó, nguồn lợi vùng xa bờ còn lớn, chưa khai thác hết.
Nước ta đã thống kê được 544 loài trong 18 bộ, 57 họ, 228 giống cá nước
ngọt. Với thành phần giống loài phong phú nước ta được đánh giá là có đa dạng
sinh học cao. Trong 544 loài có nhiều loài có giá trị kinh tế.
Biển nước ta có 186 loài cá nước lợ, nước mặn. Một số loài có giá trị kinh tế
như: cá song, cá hồng, cá tráp, cá vược, cá măng, cá cam, cá bống, cá bớp, cá đối,
cá dìa. Trong đó đã đưa vào nuôi: cá vược, cá giò, cá song, cá măng, cá cam
10
Nước ta còn có nhiều loại tôm, trong đó có 16 loài chủ yếu có giá trị kinh tế
và đưa vào nuôi: tôm sú, tôm lớt, tôm he Ấn Độ, tôm rảo, tôm nương, tôm hùm
bông, tôm càng xanh.
Các loài nhuyễn thể ở nước ta khá phong phú như: trai, hầu, điệp, nghêu,
sò, ốc, hầu và đang được đưa vào nuôi các loại như: trai, nghêu, sò, hầu
Ngoài ra còn có nhiều loại rong tảo, với 90 loài có giá trị kinh tế. Trong đó,
đáng kể là rong câu (có 11 loài), rong mơ, rong sụn
Theo vùng và theo độ sâu, nguồn lợi cá cũng khác nhau. Vùng biển Ðông
5,7
15.682
5,7
>50m
251.962
37,0
100.785
37,0
Cộng
291.116
42,7
116.467
42,7
Cộng
681.166
100,0
272.467
100,0
2
Miền Trung
Cá nổi nhỏ
500.000
82,5
200.000
82,5
14,5
Cá đáy
<50m
Cá đáy
<50m
349.154
16,8
139.762
16,8
>50m
1.202.735
58,0
418.094
58,0
Cộng
1.551.889
74,8
620.856
74,8
Cộng
1.551.889
100,0
830.456
100,0
4
Tây Nam
Bộ
Cá nổi nhỏ
<50m
316.000
62,0
126.000
120.000
7,2
Tổng cộng
Cá nổi nhỏ
1.740.000
694.100
100
Cá đáy
2.140.000
855.885
Cá nổi đại dương
300.000
120.000
Toàn bộ
4.180.133
Vùng biển miền Trung có 5 NT, mùa khai thác chính từ tháng 4 đến tháng
7, gồm: NT 4 – quanh đảo Hòn Gió (Thuận An) có độ sâu 45 – 70 mét, với các
loài cá có sản lượng lớn là cá lượng, cá phèn, cá mối thường, cá háo và cá bạch
điều. NT 5 – nằm ở đông bắc đảo Cù Lao Chàm, với độ sâu dao động từ 100 đến
300 mét (rộng hơn 1.300 hải lý vuông), đáy bùn cát. Các loài cá đánh bắt chủ
yếu là cá mối thường, cá ngân, cá phèn. NT 6 – nằm ở tây bắc Đà Nẵng (kéo dài
theo hướng đông nam – tây bắc), có độ sâu 50 – 200 mét. Các loài cá chủ yếu
đánh bắt được là cá tráp, cá đù bạc, cá ngân, cá mối thường và cá lượng. NT 7 –
vùng gò nổi 125, ngoài khơi vùng biển Đà Nẵng, có độ sâu 215 mét, đáy trầm
tích hữu cơ, với các loài cá đánh bắt chủ yếu là cá đỏ môi, cá hố đầu nhỏ. NT8 –
vùng gò nổi Marges – seamouth, nằm theo hướng tây bắc – đông nam, ngoài
12
khơi Quy Nhơn, có độ sâu 290 – 350 mét nước và độ dốc gò nổi 20 – 30, rất
thích hợp với nghề kéo lưới đáy.
Vùng biển Nam Bộ có 5 NT, gồm: NT 9 – vùng gò nổi ngoài khơi tỉnh
Phan Rang, có độ sâu 280 mét, với đối tượng đánh bắt chính là cá đỏ môi, chiếm
62% tổng sản lượng các loài cá đánh bắt tại ngư trường này. NT 10 – nằm phía
đông Phan Thiết, mùa vụ đánh bắt chính từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Có
loài cá mối vạch (có thể đánh bắt được chúng quanh năm), cá trác đuôi dài, cá
nục sồ, cá mối thường. NT 11 – nằm ở phía nam Cù Lao Thu, có độ sâu 50 –
200 mét. Mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) là mùa đánh bắt chính,
nhưng có thể khai thác quanh năm (vào khoảng tháng 4 đến tháng 7 năng suất
giảm). Các loài đánh bắt chính là cá mối vạch, cá trác ngắn, cá mối thường, cá
hồng và cá phèn khoai. NT 12 – nằm quanh khu vực đảo Côn Sơn, đáy cát mịn
và vỏ sò. Có độ sâu 25 – 40 mét. Mùa khai thác chính là giai đoạn giao thời giữa
thu sang đông, với các loài cá đánh bắt được là cá nục sồ, cá hồng, cá mối
thường, cá chỉ vàng, cá phèn, cá lượng. NT 13 – nằm ở cửa sông Hậu, có độ sâu
10 – 12 mét, có thể khai thác quanh năm. Mật độ cá tập trung cao nhất là khu
vực cửa sông Hậu, có cá sạo, cá nhụ, cá trích, cá khế, cá đù nanh, cá hồng đỏ…
Do đặc điểm của các hình thức tổ chức sản xuất thủy sản chủ yếu là kinh tế
tư nhân và tập thể nên lực lượng lao động bao gồm cả những người trong độ tuổi
lao động (theo quy định của luật lao động) và những người ngoài độ tuổi lao
động có khả năng tham gia sản xuất. Lao động thủy sản chuyên nghiệp là những
người có thu nhập chủ yếu từ các hoạt động khai thác, nuôi trồng, chế biến hoặc
dịnh vụ hậu cần thủy sản. Họ có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp nhất định.
Bên cạnh đó, còn có số lượng đông đảo lao động thủy sản bán chuyên nghiệp.
Những người này tham gia sản xuất thủy sản vào thời kì nông nhàn hoặc kết hợp
làm thủy sản trong quá trình sản xuất nông – lâm nghiệp để tăng thu nhập.
Lao động thủy sản cũng mang tính thời vụ, rõ nét hơn cả là trong nuôi
trồng và khai thác. Điều này làm phức tạp thêm cho việc sử dụng lao động trong
ngành thủy sản. Nếu hiểu chất lượng nguồn lao động bao gồm thể lực và trí lực
thì trong ngành thủy sản có biểu hiện không đều trong các lĩnh vực sản xuất. Nó
phụ thuộc đặc điểm và yêu cầu công việc. Trong khai thác đòi hỏi lao động trẻ,
khỏe, chỉ có đàn ông tham gia đi biển. Lao động nuôi trồng thủy sản có đối
tượng tham gia rộng rãi hơn nhiều, bao gồm cả phụ nữ, người già và thanh thiếu
niên. Còn lao động trong lĩnh vực chế biến thủy sản đòi hỏi phải có kỹ năng
nghề nghiệp và được đào tạo nhiều hơn.
Lao động trong ngành thủy sản được tách riêng khi thủy sản trở thành một
nghề chính ở nông thôn và các vùng ven biển, đặc biệt là từ sau những năm
1950. Ngày nay, khi hoạt động khai thác, nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu thủy
sản ngày càng phát triển đã thu hút lực lượng lao động thủy sản tăng lên mạnh
mẽ.
Bên cạnh đó, cũng cần thấy rằng, với đặc thù nông thôn, ven biển, dân vốn
đông, trình độ dân trí còn hạn chế, đã làm giảm đi năng suất và chất lượng trong
14
sản phẩm ngành thủy sản. Hàng năm dân số tăng nhanh kéo theo sự dư thừa lao
động ngư nghiệp. Về phát triển nguồn nhân lực, tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”
vẫn phổ biến ở cả khu vực doanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh. Hệ
đẩy sản xuất phát triển. Trong ngành thủy sản, tiến bộ khoa học công nghệ là
một nhân tố quyết định sự phát triển, công nghiệp hóa và hiện đại hóa nghề cá.
15
Tiến bộ về khoa học công nghệ trong ngành thủy sản Việt Nam đã tập trung ở
một số lĩnh vực như sau:
- Hoàn thiện phương pháp sinh sản nhân tạo các loài cá nuôi như: Mè, trôi
Ấn Độ, chép, trắm cỏ, rô phi, cá sấu. Tiến hành việc lai tạo và thuần chủng một
số loài cá như: chép lai, trê, trôi Ấn Độ nhằm mở rộng và tối ưu hóa đàn cá nuôi
trong điều kiện khí hậu Việt Nam. Đồng thời nghiên cứu và hoàn thiện phương
pháp sinh sản nhân tạo một số loài hải sản khác như: tôm càng xanh, tôm sú, cua
biển, ngọc trai nước ngọt, ba ba… Cuộc cách mạng về giống thủy sản nuôi trồng
đã đem lại bước nhảy vọt về năng suất và sản lượng nuôi, đặc biệt cho giá trị
xuất khẩu lớn trong những năm gần đây.
- Kỹ thuật vận chuyển con giống thủy sản ngày càng phát triển. Phương
tiện vận chuyển đường dài bằng xe ô tô, xe hỏa, máy bay đảm bảo tỷ lệ sống cao
trên 90%. Với kỹ thuật vận chuyển kín bằng túi hoặc thùng nhựa có bơm oxy,
kết hợp hạ thấp nhiệt độ nước, gây mê cho cá tôm “ngủ”, sử dụng một số biện
pháp sinh hóa làm giảm sự hoạt động của tôm cá, nâng cao tỷ lệ sống và tăng
được mật độ vận chuyển.
Hiện nay, kỹ thuật vận chuyển đường dài không chỉ còn bó hẹp trong lĩnh
vực con giống mà đã mở rộng sang lĩnh vực chuyên chở cá bố mẹ, cá hậu bị, cá
sấu, cá cảnh… phục vụ phát triển nuôi trồng thủy sản nội địa và xuất khẩu ra
nước ngoài.
- Công nghiệp khai thác cá trên biển đã và đang chuyển từ giai đoạn lưới
chài bằng đay gai sang nilon hóa, tiếp theo là giai đoạn động cơ hóa tàu thuyền
khai thác vào đầu những năm 90. Dựa vào khả năng đầu tư cho khai thác, từ
năm 1997 nước ta đã có hạm tầu đánh cá biển khơi, trang bị động lực lớn, thiết
bị hiện đại cho liên lạc và thăm dò cá.
- Phát triển kỹ thuật đông lạnh và chế biển thủy sản có giá trị cao. Nhiều
thác hải sản xa bờ chiếm tỷ lệ không cao, nhưng có xu hướng tăng dần. Tổng
số lượng tàu khai thác xa bờ ở nước ta trong năm 2000 có 9.766 chiếc, chiếm
12%, đến năm 2007 đạt tới 21.130 chiếc, chiếm 22% tổng số tàu thuyền của
cả nước, đưa tốc độ tăng trưởng bình quân về số lượng tàu khai thác xa bờ lên
10,13 %/ năm.
1.3.3.2. Về ngư cụ
Việc đánh bắt bằng lưới kéo (kéo cá, kéo tôm, xe, tiệp) chiếm 27,5% sản
lượng hải sản khai thác, bằng lưới vó (vó ánh sáng, vó màn đèn, mành chà)
chiếm 27%; bằng lưới rê (rê thu, lưới quàng, lưới gộc, lưới the) chiếm 24,5%;
bằng lưới vây (xăm, rùng) chiếm 10%; bằng lưới cố định (lưới đáy, lưới đăng)
chiếm 6,8%; bằng câu trực tiếp (câu vàng, câu tay) 4,2%.
Nhìn chung, tàu thuyền ngư cụ, công nghệ khai thác cá biển ở nước ta
vẫn còn lạc hậu. Hiệu quả khai thác và nuôi trồng chưa tương xứng với tiềm
năng. Cần phải đầu tư nhiều hơn nữa để ngành thủy sản nước ta phát triển
mạnh mẽ hơn.
1.3.3.3. Hệ thống nhà máy chế biến thủy sản
17
Để bảo quản và nâng cao chất lượng của sản phẩm thủy hải sản, hệ thống
các nhà máy chế biến thủy sản trên cả nước đã ra đời và hoạt động khá hiệu quả.
Hiện nay cả nước có hơn 532 nhà máy chế biến thủy sản. Các nhà máy
trang bị khá đầy đủ kho rửa, kho bảo quản nhiên liệu, kho đông lạnh và các dây
chuyền sản xuất công nghệ hiện đại. Sự hiện đại và đồng bộ của các nhà máy
này tạo thuận lợi cho ngành thủy sản phát triển ngày càng nhanh hơn cả về
lượng và chất.
Các nhà máy chế biến thủy sản phân bố ở hầu khắp các vùng đồng bằng
ven biển nhưng phát triển mạnh nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Nơi đây có nhà máy chế biến thủy sản Minh Phú – Hậu Giang lớn nhất cả nước
với công suất 20.000 tấn/năm.
Ngành công nghiệp chế biến thủy sản đã và đang đem lại những lợi ích
chỉnh nhất và quy mô lớn nhất hiện nay.
Tuy nhiên, hệ thống cảng cá và bến cá ở nước ta vẫn chưa phát triển đồng
bộ, chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu cập bến của tàu thuyền nghề cá. Hoạt
động của các cảng còn nhiều vướng mắc như: thiếu các phương tiện thông tin
liên lạc với tàu cá; xưởng sơ chế, kho lạnh, kho xăng dầu vẫn còn thiếu; thiếu
đội ngũ cán bộ quản lý; luồng lạch ra vào tại nhiều cảng và các khu neo đậu
chưa được nạo vét; chưa cập nhật thông tin ngư trường, thiên tai, cứu nạn kịp
thời cho bà con ngư dân. Những điều này đã ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả
sản xuất của đội tàu khai thác hải sản.
Tháng 3 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt Quy hoạch
hệ thống cảng cá, bến cá đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Trên cơ sở
lợi dụng tối đa điều kiện tự nhiên, huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế,
đồng thời tranh thủ sự tài trợ, giúp đỡ của các nước, các tổ chức quốc tế, một
loạt các cảng cá, bến cá được hình thành tại 28 tỉnh và thành phố ven biển. Cảng
cá được xây dựng tại các cửa sông, vịnh biển hoặc hải đảo và gần ngư trường
trọng điểm, thu hút tàu cá của nhiều địa phương, kể cả tàu nước ngoài đến bốc
dỡ thủy sản và thực hiện các dịch vụ nghề cá khác.
Việc quy hoạch các cảng, bến cá từng bước nâng cấp và củng cố các bến cá
nhân dân, tạo điều kiện cho cộng đồng ngư dân cải thiện điều kiện sản xuất, đảm
bảo an toàn và đáp ứng một phần nhu cầu dịch vụ hậu cần, góp phần phát triển
về kinh tế, du lịch, văn hóa, xã hội và vệ sinh môi trường cho cộng đồng ngư
dân vùng ven biển và hải đảo.
Theo quy hoạch thì đến năm 2020, nước ta có 211 cảng cá và bến cá với
tổng lượng thủy sản qua cảng và bến là 2.360.000 tấn/năm.
1.3.4. Đường lối chính sách
Trong ngành thủy sản, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra một số chính sách
như sau:
Chính sách đầu tư vốn từ ngân sách: Vốn thuộc một trong ba yếu tố đầu
vào quan trọng của hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngành thủy sản có tiềm năng
lớn và đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trong sự nghiệp công nghiệp
Chính sách xuất khẩu thủy sản: Chính sách xuất khẩu thủy sản có ý nghĩa
to lớn trong tăng trưởng và phát triển ngành thủy sản. Chính sách này đã đưa
ngành thủy sản thoát khỏi sự suy thoái nghiêm trọng vào đầu những năm 80.
Chủ trương của Nhà nước ta cho phép ngành thủy sản “Tự cân đối, tự trang trải”
bằng cách xuất khẩu tự do các sản phẩm từ các thị trường là một sự đổi mới tư
duy kinh tế, vừa giúp ngành “cởi trói” khỏi cơ chế kế hoạch hóa tập trung cản
trở sự phát triển, vừa khai thác những lợi thế so sánh của thủy sản Việt Nam
nhiệt đới gió mùa và vùng đặc quyền kinh tế biển rộng lớn trên 1 triệu km
2
.
20
Chính sách bảo vệ nguồn lợi thủy sản: Chính sách bảo vệ nguồn lợi thủy
sản ngày càng được coi trọng. Hiện nay, văn bản pháp lý cao nhất trong lĩnh vực
này là “Pháp lệnh bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản”, do cục Bảo vệ nguồn
lợi thủy sản (Bộ Thủy sản) là cơ quan thực hành trong lĩnh vực này. Nhiều năm
qua, Bộ Thủy sản cũng như các bộ liên quan như Bộ Công an, Bộ Quốc phòng
đã có những văn bản pháp luật quy định nghiêm cấm các hành vi gây ô nhiễm
môi trường nước nội địa, trên biển; các hành động khai thác có tính chất hủy diệt
nguồn lợi thủy sản như khai thác bằng chất nổ, xung điện, chất độc… Chính
sách bảo vệ nguồn lợi thủy sản nhằm duy trì và phát triển nguồn lợi thủy sản nội
địa và trên biển, duy trì tính đa dạng sinh học, từ đó mới có được sản phẩm khai
thác bền vững và đồng thời chống các hoạt động gây ô nhiễm vùng nước.
Chính sách đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn: Đây là một
chính sách rất quan trọng của Nhà nước ta để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền
kinh tế. Đổi mới cơ cấu kinh tế ở đây là tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch
vụ nông thôn. Nghề thủy sản ở nông thôn phát triển thành một nghề chính và tác
động mạnh mẽ đến thay đổi kinh tế nông thôn thuần nông ở nhiều vùng trên đất
nước ta. Sản xuất thủy sản trong các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến và
dịch vụ hậu cần thủy sản phát triển ở hầu hết các tỉnh thành đã tạo được nhiều cơ