MỤC LỤC
1. Tính cấp thiết của đề tài...................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề...............................................................................................2
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu............................................................................................................5
3.3. Giới hạn của đề tài................................................................................................................5
4. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu.........................................................................6
4.1. Quan điểm nghiên cứu.........................................................................................................6
4.2. Phương pháp nghiên cứu.....................................................................................................8
5. Những đóng góp của luận văn.........................................................................................9
6. Cấu trúc của luận văn....................................................................................................10
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp không chỉ cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người,
đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm mà còn sản xuất ra những mặt
hàng có giá trị xuất khẩu, tăng thêm nguồn thu ngoại tệ. Hiện tại cũng như trong
tương lai, nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã
hội loài người mà không ngành nào có thể thay thế được. Ở nước ta, nông
nghiệp được xem là một ngành quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế
của đất nước. Nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm đảm bảo an ninh
lương thực cho quốc gia, cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế
biến, và là nguồn hàng xuất khẩu quan trọng. Mặc dù hiện nay, tỉ trọng ngành
nông nghiệp đang giảm dần, nhưng giá trị ngành nông nghiệp vẫn tăng nhanh
và có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế của đất nước.
Cũng như cả nước, ngành nông nghiệp của Sơn La có vai trò quan trọng.
Trong cơ cấu kinh tế, nông nghiệp là ngành sản xuất chính, là ngành đem lại hiệu
địa lý ngành nông nghiệp đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Mỗi tác
giả lại quan tâm nghiên cứu đến các vấn đề nội dung khác nhau. Có tác giả quan
tâm đến vai trò, đặc điểm, các nhân tố ảnh hưởng đến ngành nông nghiệp; có
những tác giả nghiên cứu lý thuyết cung cầu trong nông nghiệp; có tác giả
nghiên cứu, đánh giá về sự phát triển nông nghiệp trên thế giới, nông nghiệp của
từng quốc gia, từng địa phương. Có tác giả lại nghiên cứu về tổ chức lãnh thổ
nông nghiệp. Trong những năm gần đây, một số tác giả lại quan tâm nghiên cứu
đến những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến ngành nông nghiệp. Có thể nói,
các công trình nghiên cứu về ngành nông nghiệp ngày càng phong phú và toàn
diện hơn. Một số công trình có giá trị lớn như: Địa lý kinh tế - xã hội đại cương
do PGS.TS. Nguyễn Minh Tuệ chủ biên, Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam do
GS.TS. Lê Thông chủ biên, Địa lý kinh tế xã - hội Việt Nam do GS.TS. Đỗ Thị
Minh Đức chủ biên, địa lý ngành Nông – Lâm – Thủy sản Việt Nam do PGS.TS.
Nguyễn Minh Tuệ và GS.TS. Lê Thông đồng chủ biên, giáo trình kinh tế nông
nghiệp của tác giả Nguyễn Thế Nhã, Vũ Đình Thắng, và Kinh tế nông nghiệp của
Phạm Đình Vân, Đỗ Thị Kim Chung….
2
Trong Địa lý kinh tế - xã hội đại cương do PGS.TS. Nguyễn Minh Tuệ chủ
biên, phần 2 tác giả đã đề cập về địa lý các ngành kinh tế trong đó có ngành
nông nghiệp. Tác giả cũng đã đề cập đến những vấn đề lí luận chung về ngành
nông nghiệp như vai trò, đặc điểm, các nhân tố ảnh hưởng đến ngành nông
nghiệp. Tác giả phân tích, đánh giá sự phát triển và phân bố ngành nông nghiệp
trên thế giới, đồng thời, mỗi phần tác giả có liên hệ đến thực tiễn của Việt Nam.
Trong cuốn địa lý ngành Nông – Lâm – Thủy sản Việt Nam do PGS.TS.
Nguyễn Minh Tuệ và GS.TS. Lê Thông đồng chủ biên, NXBĐHSP năm 2012,
tác giả đã đề cập đến 3 nội dung chính là cơ sở lí luận về địa lý Nông – Lâm –
Thủy sản, địa lý ngành Nông – Lâm – Thủy sản Việt Nam, các vùng nông
nghiệp Việt Nam. Phần cơ sở lí luận về địa lý Nông – Lâm – Thủy sản nói
giả phân tích thực trạng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam. Các công trình
của các tác giả có ý nghĩa rất lớn, giúp cho người nghiên cứu cũng như nhiều
học viên, nhiều giáo viên có những tư liệu để vận dụng trong phần cơ sở lí luận
của đề tài.
Ở từng địa phương cũng có nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu về ngành
nông nghiệp. Các tác giả đã phân tích các điều kiện để phát triển ngành nông
nghiệp, thực trạng phát triển và phân bố các ngành nông nghiệp của các địa
phương. Ngoài ra, địa lý nông nghiệp của địa phương cũng có nhiều học viên
cao học nghiên cứu. Năm 2005, tác giả Bùi Thị Liên nghiên cứu Địa lý nông
nghiệp tỉnh Thanh Hóa, năm 2006 tác giả Trịnh Văn Thơm đã nghiên cứu địa lý
nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, năm
2007, tác giả Ngô Anh Tuấn nghiên cứu Địa lý nông – lâm - ngư nghiệp Nghệ
An, năm 2009 tác giả Hoàng Thị Việt Hà nghiên cứu Địa lý nông nghiệp Đồng
Tháp. Mỗi tác giả nghiên cứu địa lý nông nghiệp ở các tỉnh thành khác nhau.
Mỗi tỉnh có những thế mạnh, có sự phát triển nông nghiệp riêng. Các đề tài luận
văn đó đã giúp cho tác giả có cách nhìn, cách phân tích cụ thể để áp dụng trên
địa bàn tỉnh Sơn La.
Ở Tỉnh Sơn La cũng đã có một số công trình nghiên cứu về ngành nông
nghiệp ở từng giai đoạn cụ thể. Năm 2003, tác giả Đặng Thị Nhuần đã đánh giá
về ngành nông nghiệp tỉnh Sơn La đến giai đoạn 2003, năm 2011 tác giả Tòng
Thị Quỳnh Hương trong đề tài luận văn Thạc sỹ cũng đã phân tích các nhân tố
4
ảnh hưởng đến sự phát triển nông nghiệp, thực trạng phát triển nông nghiệp và
những định hướng phát triển nông nghiệp tỉnh Sơn La đến năm 2020. Ngoài ra,
có một số công trình nghiên cứu trên phạm vi rộng hơn, nhưng có liên quan đến
ngành nông nghiệp Sơn La như đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã
hội vùng Tây Bắc thời kỳ 1996 - 2010” của Bộ nông nghiệp và phát triển nông
thôn”, hay đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ tổ chức lãnh thổ và đề
Giới hạn nội dung nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu ngành nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm các ngành
thuộc KVI (Nông – lâm – ngư nghiệp). Nội dung chủ yếu của đề tài:
+ Đánh giá tiềm năng phát triển nông nghiệp tỉnh Sơn La
+ Phân tích thực trạng phát triển và phân bố ngành nông nghiệp có nghiên cứu
đến các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
+ Đề xuất giải pháp phát triển nông nghiệp tỉnh Sơn La.
Thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu thực trạng phát triển nông
nghiệp tỉnh Sơn La từ 2000 đến 2012 và đề xuất các giải pháp phát triển nông
nghiệp đến năm 2025, tầm nhìn đến 2030.
4. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1. Quan điểm nghiên cứu
4.1.1. Quan điểm lãnh thổ
Bất kỳ một đối tượng địa lý nào đều gắn với một không gian cụ thể, đều có
các quy luật hoạt động riêng, gắn bó và phụ thuộc chặt chẽ vào đặc điểm của
lãnh thổ đó. Các đối tượng địa lý phản ánh những đặc trưng cơ bản của lãnh thổ,
phân biệt lãnh thổ này với lãnh thổ khác. Trong mỗi lãnh thổ, luôn có sự phân
hóa nội tại đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ với những lãnh thổ xung quanh cả
về tự nhiên cũng như kinh tế - xã hội. Do đó, các nghiên cứu địa lý đều gắn với
một lãnh thổ cụ thể. Theo quan điểm này, khi nghiên cứu nông nghiệp tỉnh Sơn
La phải đặt nó trong mối tương quan với các yếu tố khác. Nông nghiệp Sơn La
phải được coi là một bộ phận của khu vực Tây Bắc, vùng Trung du miền núi Bắc
Bộ và của cả nước.
Quan điểm lãnh thổ cũng được vận dụng để xem xét sự phân hóa đa dạng
của lãnh thổ tỉnh Sơn La thông qua sự phân hóa các nguồn lực phát triển nông
nghiệp, bao gồm các nguồn lực tự nhiên và nguồn lực kinh tế - xã hội, sự phân
hóa theo từng đơn vị lãnh thổ trong tỉnh.
6
7
sản phẩm nhưng vẫn thực hiện được chức năng bảo tồn tài nguyên. Vận dụng
quan điểm sinh thái trong đề tài là phải nghiên cứu về mối tương tác giữa các
yếu tố tự nhiên và kinh tế xã hội của các hệ thống nông nghiệp trên lãnh thổ
nghiên cứu. Đó là cơ sở đề ra các giải pháp duy trì quá trình sản xuất nông
nghiệp với mức năng suất ổn định và hiệu quả cao, trong khi đó hạn chế ở mức
tối thiểu những tác động tiêu cực đến môi trường và hoạt động kinh tế xã hội ở
khu vực nghiên cứu.
4.1.5. Quan điểm phát triển bền vững
Tư tưởng chủ đạo của quan điểm này là sự phát triển bền vững phải đảm
bảo ba mục tiêu: kinh tế, xã hội và môi trường. Quan tâm phát triển bền vững
hướng tới sự hài hòa mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự tương tác
giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống kinh tế xã hội. Quan điểm phát triển bền
vững được vận dụng trong đánh giá tổng ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên –
kinh tế xã hội đến sự phát triển ngành nông nghiệp. Theo đó, khi đề xuất các giải
pháp cũng cần phải được quan tâm đến sự phát triển bền vững. Phát triển nông
nghiệp của tỉnh phải vừa tính tới hiệu quả về kinh tế, vừa phải có hiệu quả về xã
hội và môi trường.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
4.2.1. Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu
Phương pháp này được sử dụng ngay sau khi đã xác định được hướng
nghiên cứu của đề tài. Đây là phương pháp rất cần thiết trong việc tiếp cận vấn
đề nghiên cứu. Việc tổng quan tài liệu thu thập được giúp tác giả tiếp cận với
những kết quả nghiên cứu đã có, cập nhật những vấn đề mới ở trong và ngoài
nước. Các tài liệu được thu thập và hệ thống hóa theo đề cương và nội dung
nghiên cứu của đề tài đã được xác định trước, khi đó sẽ tránh những thiếu sót
cho bước tổng hợp về sau. Nguồn tài liệu của luận văn gồm các bản đồ được
thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, các dữ liệu thống kê về điều kiện tự nhiên,
Luận văn hoàn thành sẽ có 1 số đóng góp cơ bản sau:
- Kế thừa, bổ sung và cập nhật những vấn đề lý luận về địa lí nông nghiệp;
- Phân tích, đánh giá được các thế mạnh về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội để phát triển nông nghiệp tỉnh Sơn La;
9
- Đánh giá được hiện trạng phát triển nông nghiệp và tổ chức lãnh thổ nông
nghiệp tỉnh Sơn La;
- Đề xuất được một số giải pháp để phát triển nông nghiệp và tổ chức lãnh
thổ nông nghiệp Sơn La;
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm có 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về ngành nông nghiệp;
Chương 2: Tiềm năng phát triển nông nghiệp tỉnh Sơn La;
Chương 3: Thực trạng phát triển và phân bố nông nghiệp tỉnh Sơn La;
Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp tỉnh Sơn La.
10
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGÀNH NÔNG NGHIỆP
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất
đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và
nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên
liệu cho ngành công nghiệp. Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm ngành nông
lại hiệu quả cao về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường. [22]
1.1.2. Vai trò của sản xuất nông nghiệp
1.1.2.1. Nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống con người
Nông nghiệp là ngành xuất hiện sớm nhất của loài người, cùng với sản
xuất nông nghiệp, nông nghiệp được coi là ngành sản xuất cơ bản của nền
kinh tế quốc dân. F.Engels đã khẳng định “Nông nghiệp là ngành sản xuất có
ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ thế giới cổ đại và hiện nay nông nghiệp lại
càng có ý nghĩa như thế”. [22]
Nông nghiệp là ngành sản xuất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc
đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho con người. Cho đến nay, chưa có
ngành nào có thể thay thế được các sản phẩm của nông nghiệp. Hiện nay, dân số
thế giới tăng nhanh chóng, nhu cầu lương thực thực phẩm ngày càng cao, việc
phát triển nông nghiệp đẻ cung cấp đủ nhu cầu cho trên 7 tỷ dân của thế giới
càng trở nên bức thiết. Đặc biệt, hiện nay quá trình đô thị, sự biến đổi khí hậu
trên toàn cầu cùng với quá trình canh tác không hợp lý đã làm mất hoặc suy giảm
một phần diện tích đất nông nghiệp, bởi thế vấn đề an ninh lương thực thực
phẩm không phải là mối quan tâm riêng của từng quốc gia mà là vấn đề chung
của toàn nhân loại.
Mỗi con người muốn tồn tại được phải cần tối thiểu 2000kcal/ngày. Nguồn
năng lượng này chủ yếu là ngành nông nghiệp cung cấp. Theo Durigneaud và
Tanghe (1968), hệ thống trồng trọt cung cấp khoảng 80% năng lượng dinh
dưỡng được con người tiêu thụ, các đồng cỏ chăn nuôi cung cấp 10%, đại dương
thế giới cung cấp 2% [7]. Như vậy, nông nghiệp cung cấp chủ yếu nguồn dinh
dưỡng cho con người. Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất
12
quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và phát triển kinh tế xã hội của
đất nước.
1.1.2.2. Nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp
thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Nông nghiệp cung cấp nguồn lao động cho các ngành kinh tế. Khi nền kinh
tế phát triển, sẽ xuất hiện quá trình phân công lại lao động xã hội theo hướng
chuyển lao động từ nông nghiệp sang các ngành kinh tế khác. Như vậy, nông
nghiệp trở thành nguồn cung cấp lao động cho các ngành kinh tế nhằm phục vụ
nhu cầu tái sản xuất mở rộng nền kinh tế. Mặt khác, quá trình này cũng là biểu
hiện sự tái sản xuất mở rộng của bản thân nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp
ngày càng phát triển, năng suất lao động ngày càng cao, quá trình cơ giới hóa
nông nghiệp ngày càng đẩy mạnh thì sức lao động được giải phóng càng lớn.
Nông nghiệp tạo nguồn vốn tích lũy ban đầu để tái sản xuất nền kinh tế. Khi
ngành kinh tế chưa phát triển thì vốn tích lũy ban đầu chỉ có thể dựa vào sản xuất
nông nghiệp. Thực tế các nước nông nghiệp muốn đẩy mạnh phát triển kinh tế
thường phải chú ý nguồn vốn tích lũy từ nông nghiệp, đặc biệt từ các loại nông
sản xuất khẩu. Nguồn vốn tích lũy ban đầu này có ý nghĩa rất quan trọng đối với
việc đẩy mạnh phát triển các ngành kinh tế của đất nước. Nhiều nước trên thế
giới, trong đó có Việt Nam, khi tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa cũng
có nguồn vốn quan trọng từ việc xuất khẩu nông sản.
Nông nghiệp là thị trường tiêu thụ sản phẩm. Nông nghiệp được coi là thị
trường rộng lớn của nền kinh tế, tiêu thụ máy móc thiết bị của công nghiệp nặng,
hàng tiêu dùng của công nghiệp nhẹ, các sản phẩm của ngành chế biến lương
thực thực phẩm.
Ngoài ra, nông nghiệp còn là ngành sản xuất có chức năng tái sản xuất lao
động thông qua việc đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho người lao động.
Như vậy, trong giai đoạn đầu của quá trình tái sản xuất mở rộng nền kinh tế,
nông nghiệp có vai trò quan trọng. Tuy nhiên, nếu không có biện pháp thích hợp
để đảm bảo cho tái sản xuất mở rộng của chính bản thân nông nghiệp thì có thể
ngành nông nghiệp không phát triển được, năng suất lao động thấp, thu nhập
bình quân đầu người thấp.
14
quan trọng để đảm bảo an ninh trật tự xã hội và quốc phòng. V.I.Lênin đã khẳng
15
định vai trò ngành nông nghiệp đối với an ninh quốc phòng: “Cơ sở thực sự của
nền kinh tế là dự trữ lương thực… không có dự trữ lương thực thì chính quyền
nhà nước sẽ không có gì hết, những chính sách về chủ nghĩa xã hội chỉ là sự
mong muốn mà thôi” [7].
1.1.3. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
1.1.3.1. Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế
Trong nông nghiệp, đất đai có vị trí quan trọng đặc biệt. Khác với công
nghiệp, giao thông coi đất đai chỉ là nơi xây dựng nhà xưởng, hệ thống đường
giao thông. Trong nông nghiệp, đất đai trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất
như là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế. Không thể có sản
xuất nông nghiệp nếu không có đất đai. Quy mô sản xuất, trình độ phát triển,
mức độ thâm canh, phương hướng sản xuất và cả việc tổ chức lãnh thổ nông
nghiệp lệ thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng của đất đai. Đất đai trong nông
nghiệp là cơ sở tự nhiên sản sinh ra của cải vật chất cho xã hội. Như Uyliam
Petis đã nói: “Lao động là cha, đất là mẹ của mọi của cải vật chất”.
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt vì nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư
liệu lao động. Đất đai là đối tượng lao động vì nó chịu tác động của con người để
tạo ra môi trường sinh vật phát triển, là tư liệu lao động vì nó phát huy tác dụng
như một công cụ lao động [21]. Trong quá trình sử dụng, đất đai ít bị hao mòn
như các tư liệu sản xuất khác. Nếu con người biết duy trì, nâng cao độ phì trong
đất thì có thể sử dụng được lâu dài. Do vậy, cần sử dụng đầy đủ và hợp lí để vừa
làm tăng năng suất vừa bảo vệ đất đai. [22]
Đất vừa là đối tượng, vừa là tư liệu sản xuất nông nghiệp bởi vì mục đích
cuối cùng của sản xuất nông nghiệp là thông qua việc tác động vào đất trồng để
tạo ra năng suất cây trồng cao. Như vậy, đất trồng lại là phương tiện để tạo ra sản
phẩm nông nghiệp, đất trồng là tư liệu sản xuất chủ yếu. Toàn bộ mối quan hệ sở
sinh trưởng hoàn toàn không phải như nhau. Từ đây, nảy sinh tình trạng có lúc
đòi hỏi lao động căng thẳng và liên tục, nhưng có lúc thư nhàn, thậm chí không
cần lao động. Việc sử dụng lao động và các tư liệu sản xuất không giống nhau
trong suốt chu kỳ sản xuất là một trong các hình thức biểu hiện của tính thời vụ.
[22]
17
Do cây trồng và vật nuôi phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên sản xuất
nông nghiệp luôn có tính thời vụ về lao động.
Thời vụ về sản phẩm: Do sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật
nuôi thường đảm bảo yêu cầu về thời gian và điều kiện sinh thái cụ thể nên sản
phẩm nông nghiệp mang tính thời vụ rất rõ rệt. Vào mùa thu hoạch, sản phẩm đó
nhanh chóng trở nên dư thừa, nhưng ngược lại, không phải mùa thu hoạch thì sản
phẩm đó rất khan hiếm.
Hiện nay, người ta đã áp dụng nhiều biện pháp kĩ thuật để tạo ra sản phẩm
nhưng vẫn chưa khắc phục được tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp. Đặc điểm
này cùng liên quan đến các ngành công nghiệp sử dụng nguyên liệu từ nông nghiệp;
công suất hoạt động của máy móc không ổn định. Thời kỳ thu hoạch không chế
biến kịp, thời kỳ trái vụ không có nguyên liệu để sản xuất.
Thời vụ về lao động, khác với công nghiệp, trong nông nghiệp thời gian lao
động không trùng với thời gian sản xuất. Thường thì thời gian sản xuất dài hơn
thời gian lao động. Đặc điểm này xuất phát từ chỗ cây trồng và vật nuôi là các
sinh vật sống nên chúng có khả năng sinh trưởng và phát triển. Lao động của con
người chỉ tác động vào những giai đoạn nhất định nào đó. Vì vậy, trong nông
nghiệp nhu cầu về lao động cũng mang tính thời vụ, có thời gian cần nhiều, có
thời gian cần ít, thậm chí có thời gian không cần lao động. Để tận dụng lao động,
trong thời kỳ nông nhàn người ta thường phát triển nghề phụ.
1.1.3.4. Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên
Xuất phát từ đối tượng của nông nghiệp là cây trồng vật nuôi, phát triển
sâu trong lục địa sẽ khó phát triển nông nghiệp đa dạng. [22]
1.1.4.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
- Địa hình
Đặc điểm địa hình có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Hình thái, độ cao, cấu trúc địa hình tác động đến mức độ canh tác, khả năng áp
dụng cơ giới hóa, việc lựa chọn cơ cấu cây trồng vật nuôi cũng như sự hình
thành vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh. Địa hình bằng phẳng tạo điều
kiện cho việc canh tác, phát triển hệ thống luân canh, hình thành vùng chuyên
canh quy mô lớn. Ngược lại, địa hình dốc sẽ gây khó khăn cho việc tiến hành
công tác thủy lợi, chống xói mòn, rửa trôi…
19
- Đất
Đất đai trong nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt không thể
thay thế. Không thể có sản xuất nông nghiệp nếu không có đất đai. Quỹ đất, cơ
cấu sử dụng đất, các loại đất, độ phì của đất có ảnh hưởng rất lớn đến quy mô và
phương hướng sản xuất, cơ cấu và sự phân bố cây trồng vật nuôi, mức độ thâm
canh và năng suất cây trồng. Những nơi có tài nguyên đất dồi dào, màu mỡ, tầng
đất tơi xốp, thoáng khí, đặc tính phù hợp sẽ cho hiệu quả cao và ngược lại khi đất
bị chai, cứng, độ tơi xốp kém. Một số loại cây chỉ thích hợp với những loại đất
nhất định. [22]
Trên phạm vi toàn thế giới, đất nông nghiệp có tỉ trọng nhỏ (chiếm 12% diện
tích tự nhiên), bình quân đất nông nghiệp trên đầu người ngày càng giảm, cơ cấu đất
hoang hóa chưa được khai thác hoặc diện tích còn hạn chế cùng với diện tích đất bị
xói mòn, rửa trôi ngày càng cao. Do đó, con người cần có chiến lược sử dụng một
cách hợp lí loài tài nguyên quan trọng nhưng có nguy cơ cạn kiệt. [22]
- Khí hậu
Khí hậu là nhân tố sinh thái quan trọng không thể thiếu trong sự tồn tại, sinh
trưởng và phát triển của giới sinh vật. Khí hậu với các yếu tố nhiệt độ, lượng
diện tích mặt nước tự nhiên là cơ sở thức ăn để phát triển ngành chăn nuôi.
1.1.4.3. Các nhân tố kinh tế xã hội
- Dân cư và nguồn lao động
Dân cư có ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp. Dân cư vừa là lực
lượng sản xuất trực tiếp vừa là thị trường tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp.
Với tư cách là lực lượng sản xuất trực tiếp để tạo ra các sản phẩm nông
nghiệp, nguồn lao động được coi là nhân tố quan trọng để phát triển theo chiều
rộng và cả chiều sâu. Số lượng, chất lượng của nguồn lao động có tác động
không nhỏ đến sự phát triển, phân bố của sản xuất nông nghiệp. Nguồn lao động
đông, gia tăng nhanh, trình độ học vấn và tay nghề thấp, thiếu việc làm sẽ tạo
nên áp lực cho nền kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng.
Dưới góc độ là thị trường tiêu thụ, quy mô, truyền thống, tập quán ăn uống
của dân cư có tác động to lớn đến quy mô và sự phát triển của các ngành cụ thể.
Quy mô dân số càng đông, nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp cao, tạo
động lực thúc đẩy sự phát triển của sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, các yếu
21
tố truyền thống, tập quán sẽ quy định sự có mặt của các ngành sản xuất nông
nghiệp chủ yếu trên lãnh thổ.
- Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất phục vụ nông nghiệp
Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ nông nghiệp có ý nghĩa
quan trọng đối với sự phát triển và phân bố nông nghiệp. Nó tạo ra các tiền đề
thuận lợi hoặc cản trở sự phát triển của nông nghiệp. Số lượng và chất lượng của
cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng trong nông nghiệp (cơ sở chế biến, giao thông vận
tải, thủy lợi, điện lực, bưu chính viễn thông …) góp phần quan trọng trong việc
nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp, đảm bảo mối liên hệ sản xuất, kinh
tế, kĩ thuật, tạo cơ sở cho sự phát triển của nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa.
- Khoa học kĩ thuật công nghệ
Khoa học công nghệ thực sự là đòn bẩy thúc đẩy sự tăng trưởng và phát
của sản phẩm nông nghiệp, có tác dụng thúc đẩy nông nghiệp phát triển và
ngược lại. Nhu cầu thị trường quyết định hướng sản xuất nông nghiệp. Mọi biến
động trên thị trường đều có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến sản xuất nông
nghiệp. Ngoài ra, thị trường còn có tác động điều tiết đối với sự hình thành và
phát triển của các vùng nông nghiệp chuyên môn hóa.
1.1.5. Một số hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
1.1.5.1. Hộ gia đình (Nông hộ)
Hộ gia đình là một đơn vị kinh tế - xã hội tự chủ cùng một lúc thực hiện
nhiều chức năng mà ở các đơn vị kinh tế khác không thể có được. Hộ là một tế
bào của xã hội với sự thống nhất của các thành viên có cùng huyết tộc, mỗi
thành viên đều có nghĩa vụ và trách nhiệm làm tăng thu nhập, đảm bảo sự tồn
tại. Hộ còn là một đơn vị sản xuất và tiêu dùng. Hộ gia đình là hình thức vốn có
của sản xuất nhỏ, tồn tại phổ biến ở các nước đang phát triển thuộc châu Á,
trong đó có Việt Nam.
Hộ có đặc điểm: quy mô đất đai nhỏ bé, thể hiện rõ tính chất tiểu nông, quy
mô vốn nhỏ, khả năng tích lũy thấp, hạn chế khả năng tái đầu tư. Lao động chủ
yếu là sử dụng lao động gia đình, kỹ thuật canh tác và công cụ sản xuất ít biến
đổi, mang nặng tính truyền thống. Quy mô sản xuất ở hộ gia đình rất nhỏ bé.
Hộ gia đình tuy là hình thức TCLTNN ở trình độ thấp nhưng có vai trò
quan trọng, đặc biệt đối với các nước đang phát triển. Hộ gia đình là cơ sở đảm
23
bảo cho sự tồn tại xã hội, phát triển kinh tế nông thôn, thúc đẩy nông thôn quá độ
tiến lên một trình độ cao hơn - nông thôn hóa sản xuất.
1.1.5.2. Trang trại
Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cao hơn hộ gia đình, là sự phát triển
tất yếu của nền nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa. Công nghiệp hóa
đã tạo ra yêu cầu khách quan cho việc phát triển sản xuất nông sản hàng hóa, tạo
điều kiện cho kinh tế trang trại hình thành và phát triển.