Tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh Dak Lak theo hướng bền vững - Pdf 21

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Mai Thị Thùy Dung
TIỀM NĂNG, THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TỈNH DAK LAK THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
Chuyên ngành: Địa lý học
Mã số: 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN KIM HỒNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2007
LỜI CẢM ƠN

Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn khoa
học PGS.TS Nguyễn Kim Hồng - Phó Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ
Chí Minh đã nhiệt tình hướng dẫn em trong thời gian thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, phòng Khoa học Công nghệ và sau
đại học, khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện
thuận lợi cho em
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Tỉnh uỷ, UBND, Sở Thương mại – Du lịch, Sở Văn hoá thông
tin, Cục thống kê, Sở Khoa học công nghệ và môi trường tỉnh Dak Lak đã cung cấp cho em
nhiều nguồn tư liệu, tài liệu hữu ích phục vụ cho đề tài.

DANH MỤC CÁC BẢNG

trang
1. Bảng biểu
Bảng 2.1. Cơ cấu GDP theo ngành của tỉnh Dak Lak 64
Bảng 2.2. Đóng góp của du lịch Dak Lak vào ngân sách nhà nước 71
Bảng 2.3. Các dự án du lịch trên địa bàn tỉnh Dak Lak 81

2. Biểu đồ
Hình 2.1. Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế tỉnh Dak Lak 65
Hình 2.2. Lượt du khách quốc tế đến Dak Lak 67
Hình 2.3. Lượt du khách trong nước đến Dak Lak 68
Hình 2.4. Tổng lượt khách đến Dak Lak 69
Hình 2.5. Tăng trưởng doanh thu của du lịch Dak Lak 70

3. Bản đồ
Bản đồ hành chính Dak Lak 29
Bản đồ du lịch Dak La
k 89
Bản đồ các tuyến du lịch Dak Lak 97

4. Hình ảnh 114

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ, du lịch đang

n điểm phát triển bền vững.
- Đề ra giải pháp phát triển du lịch tỉnh Dak Lak theo hướng bền vững.

4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu vấn đề du lịch trên địa bàn tỉnh Dak Lak trong thời gian từ năm 1996
đến năm 2005. Phân tích tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch của tỉnh Dak Lak trên
quan điểm bền vững và đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững.
Đồng thời có tham khảo hoạt động du lịch của Thái Lan, Trung Quốc và xu hướng du lịch
bền vững của thế giới. Luận văn không nghi
ên cứu hết các nội dung liên quan đến phát triển
bền vững, cũng như không đi sâu vào các lĩnh vực chuyên ngành như kiến trúc, sinh học,
dân tộc học, môi trường, marketing.

5. Lịch sử nghiên cứu
5.1.Trên thế giới
Hơn 842 triệu người du lịch ra nước ngoài năm 2005, hơn 76,7 triệu việc làm được tạo
ra từ du lịch, doanh thu của du lịch chiếm 10,3 % GDP cả thế giới. Du lịch đang là hiện
tượng toàn cầu. Lợi nhuận khổng lồ thu đư
ợc từ du lịch đã khiến cho nhiều tài nguyên thiên
nhiên bị khai thác quá mức, môi trường bị ô nhiễm, và nền kinh tế - xã hội của các lãnh thổ
đón khách bị ảnh hưởng một cách tiêu cực. Một chiến lược du lịch tôn trọng môi trường và
quan tâm đến khả năng đáp ứng các nhu cầu trong tương lai đang được nhiều nhà nghiên
cứu quan tâm.
Từ khi cụm từ “phát triển bền vững” ra đời ở Đức vào
năm 1980, nhiều nghiên cứu
khoa học đã được tiến hành nhằm phân tích những tác động của du lịch đến sự phát triển
bền vững, sự cần thiết phải bảo vệ tính toàn vẹn của môi trường sinh thái trong khi khai thác

Murray 1930; Jones 1935; Selke 1936) và đặc biệt là sau chiến tranh thế giới thứ II. Nhiều
nhà Địa lý học người Mỹ, Anh, Canađa đã tiến hành các nghiên cứu về du lịch ở góc độ địa
lý như Gilbert (1949), Wolfe (1951), Coppock (1977). Về sau, khi du lịch ngà
y càng phát
triển và cụm từ du lịch bền vững được nhắc đến nhiều hơn thì những nghiên cứu của các
nhà địa lý học về du lịch cũng đã tăng lên rất nhiều, bởi khó có thể tìm thấy một khía cạnh
của du lịch mà không dính dáng đến địa lý và rất ít các ngành của địa lý mà không có ít
nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu hiện tượng du lịch.

5.2. Việt Nam
Cùng với sự phát triển của ngành du lịch, các nghiên cứu về du lịch ở nước ta cũng
ngày một nhiều hơn. Có thể điểm qua một số công trình như: Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt
Nam, Quy hoạch tổng thể du lịch Việt Nam 1995 - 2000, Quy hoạch tổng thể du lịch Việt
Nam đến năm 2010, Cơ sở Địa lý du lịch, Địa lý du lịch, Tổng quan du lịch, nghiên cứu cả
lý luận và thực tiễn, ở những quy m
ô và phạm vi khác nhau. Tất cả đều phục vụ cho du lịch
và cũng cho thấy sự quan tâm sâu sắc đến môi trường, đến khía cạnh bền vững trong du lịch
Việt Nam.
Năm 1997, Tổng cục du lịch Việt Nam kết hợp với Quỹ Hanns Seiden (Đức) tổ chức
Hội thảo về Phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam tại Huế, sau đó các hội thảo khác về du
lịch bền vững cũng được tổ chức như Hội thảo về du lịch sinh thái với phát triển bền vững ở
Việt Nam tại Hà Nội năm 1998, Hội thảo về Nâng c
ao nhận thức và năng lực phát triển du
lịch bền vững trong thời đại toàn cầu hoá tại Hà Nội năm 2006 thu hút nhiều nghiên cứu,
đóng góp của các nhà khoa học, các cán bộ du lịch trong và ngoài nước tham gia.
Các hội thảo và các công trình nghiên cứu đều hướng đến sự phát triển bền vững cho
ngành du lịch Việt Nam, bằng nhiều cách khác nhau. Đó là dấu hiệu tốt cho định hướng

được vận dụng trong khi phân tích các giai đoạn chủ yếu của quá trình phát triển hệ thống
du lịch và dự báo xu hướng phát triển của hệ thống lãnh thổ.

6.1.3. Quan điểm lãnh thổ
Lãnh thổ du lịch được tổ chức như là một hệ thống liên kết không gian của các đối
tượng du lịch trên cơ sở các nguồn tài nguyên và dịch vụ cho du lịch. Việc nghiên cứu du
lịch bền vững của tỉnh Dak Lak không thể tách rời với hiện trạng và xu hướng du lịch của
Việt Nam. Quá trình phát triển du lịch bền vững của tỉnh Dak Lak là một phần trong quá
trình phát triển du lịch bền vững của Tây Nguyên và của cả nước.

6.1.
4. Quan điểm sinh thái
Phát triển du lịch phải gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái. Quan điểm sinh thái
cho thấy sự cần thiết phải bảo vệ tính toàn vẹn của hệ sinh thái, đánh giá tác động của du
lịch đến môi trường và khả năng chịu đựng của môi trường trước sự phát triển của kinh tế
nói chung, du lịch nói riêng.

6.1.5. Quan điểm du lịch bền vững
Mục tiêu của du lịch bền vững l
à bảo vệ tài nguyên và môi trường, tăng cường bảo tồn
và chia sẻ lợi ích cho cộng đồng, đảm bảo sự phát triển kinh tế một cách bền vững. Kết hợp
hài hoà nhu cầu của hiện tại và tương lai trên cả hai góc độ sản xuất và tiêu dùng du lịch
nhằm đạt đến sự cân bằng giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường. Luận văn quán tr
iệt
quan điểm này trong suốt quá trình đánh giá tiềm năng, phân tích hiện trạng và đề xuất giải
pháp.


số kết quả của công trình nghiên cứu.

6.2.6. Phương pháp t
hống kê
Sau khi t
hu thập thông tin, số liệu, tiến hành thống kê, sắp xếp chúng lại cho phù hợp
với cấu trúc của đề tài, trình tự thời gian và lập ra các bảng biểu về quá trình phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh cũng như ngành du lịch Dak Lak.

7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục, nội dung chính của
luận văn được trình bày qua 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững.
Chương 2. Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Dak Lak theo hướng bền vững.
Chương 3. Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh Dakla
k theo hướng bền vững.
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN
DU LỊCH BỀN VỮNG
1.1. Quan niệm về du lịch bền vững
1.1.1. Quan niệm về du lịch
Ở mỗi thời đại, quan niệm về du lịch có sự thay đổi bắt đầu ngay từ thời kì đồ đá, khi
mà con người phải “đi” vì lí do sinh tồn trước cái đói và sự sợ hãi.
Đến thời kì cường thịnh của đế quốc La Mã, các chuyến du ngoạn bằng ngựa đã mang
mục đích tiêu khiển của tầng lớp thống trị. Khi tàu hoả ra đời
vào thế kỉ XIX, nó tạo động
lực cho du lịch phát triển hơn. Rồi lần lượt đến tàu thuỷ, ô tô, máy bay, chúng ngày càng

XIX, nhưng mãi đến thập kỉ 80 của thế kỉ XX mới được phổ biến rộng rãi.
Năm 1980, IUCN cho rằng “phát triển bền vững” phải cân nhắc đến hiện tượng khai
thác đến các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng như
khó khăn trong việc tổ chức các kế hoạch
hành động ngắn hạn và dài hạn đan xen nhau.
Đến năm 1987, Uỷ ban môi trường và phát triển thế giới WCED do bà GroHarlem
Brundtland thành lập đã công bố thuật ngữ “phát triển bền vững” trong báo cáo “ tương lai
của chúng ta” như sau: “ Phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển có thể đáp ứng được
những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp
ứng nhu cầu
của các thế hệ mai sau” [5].
Theo Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất năm 1992, được tổ chức ở Rio - de - Janeiro,
“phát triển bền vững được hình thành trong sự hoà nhập, xen cài và thoả hiệp giữa ba hệ
thống là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ xã hội”. Ngày nay, tất cả các quốc gia đều đề cập đến “phát triển bền vững” trong quá trình
hoạch định chính sách và quản lí phát triển kinh tế, với ý muốn nhấn mạnh phương thức và
việc sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của sự phát triển.
Xu thế phát triển du lịch thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang đứng trước sự
bắt buộc phải sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của
mình, đặc biệt là tài nguyên du lịch
tự nhiên và nhân văn.
Khái niệm phát triển du lịch bền vững xuất hiện khoảng 10 năm trở lại đây, trên cơ sở
cải thiện và nâng cấp khái niệm du lịch mềm (soft tourism), được nhiều quốc gia và hiệp hội
du lịch lớn trên thế giới ủng hộ. Tuy nhiên, một khái niệm “du lịch bền vững” hoàn chỉnh
được tất cả mọi người sử dụng đến na
y vẫn chưa có.
dạng môi trường, cảnh qua
n di tích, xây dựng và giữ gìn môi trường xã hội lành mạnh, đảm
bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là ở các đô thị du lịch và các điểm
tham quan du lịch.
Điều 5, luật du lịch Việt Nam:
“Phát triển du lịch bền vững, theo quy hoạch, kế hoạch, đảm bảo hài hoà giữa kinh tế -
xã hội – môi trường, phát triển có trọng tâm, trọng điểm theo hướng du lịch văn hoá – lịch
sử, du lịch sinh thái, bảo tồn, t
ôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du lịch.
Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, lợi ích chính đáng và an ninh, an toàn cho
khách du lịch, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch.
Bảo đảm sự tham gia của mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư trong phát triển
du lịch.
Góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và giao lưu quốc tế để quảng bá hình ảnh đất
nước, con người Việt Nam.
Phát triển đồng thời du lịch trong nước v
à du lịch quốc tế, tăng cường thu hút ngày
càng nhiều khách du lịch nước ngoài vào Việt Nam”.
Như vậy, có thể nói đối với cả Việt Nam và thế giới, du lịch bền vững không phải là
một loại hình hay trào lưu du lịch mà đó là cương lĩnh phát triển du lịch của thời đại.

1.2. Những nguyên tắc đảm bảo phát triển du lịch bền vững
1.2.1. Khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyê
n một cách hợp lí
Phát triển bền vững chủ trương ủng hộ việc lưu lại cho các thế hệ tương lai một nguồn
tài nguyên thiên nhiên không kém hơn so với cái mà các thế hệ trước được hưởng. Ngăn

ho chất lượng của du lịch.

1.2.3. Phát triển du lịch phải gắn với bảo tồn tính đa dạng
Tính đa dạng về thiên nhiên, văn hoá và xã hội là thế mạnh của mỗi quốc gia nhằm
thoả mãn nhu cầu đa dạng của du khách cũng như sản phẩm của du lịch. Đa dạng cũng là sự
sống còn để tránh việc quá phụ thuộc vào một hay một vài nguồn hỗ trợ sinh tồn.
Phát triển bền vững chủ trương ủng hộ việc để lại cho thế hệ mai s
au sự đa dạng cả về
thiên nhiên và nhân văn không ít hơn những gì thế hệ trước được thừa hưởng. Chiến lược
bảo tồn thế giới nhấn mạnh sự cần thiết bảo tồn đa dạng nguồn gen. Từ đó, mục đích đã
đư
ợc mở rộng, trong đó có sự đa dạng cơ cấu chính trị, kinh tế - xã hội và các nền văn hoá.
Việc duy trì và phát triển tính đa dạng của thiên nhiên, văn hoá và xã hội là rất quan
trọng đối với du lịch bền vững, là chỗ dựa sinh tồn của ngành công nghiệp du lịch.

1.2.4. Phát triển phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội
Du lịc
h là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng cao, vì vậy mọi phương
án khai thác tài nguyên để phát triển phải phù hợp với các quy hoạch tổng thể kinh tế - xã
hội. Du lịch được lập kế hoạch đúng đắn sẽ tăng cường giá trị về tài sản môi trường, bảo vệ
các loài quý hiếm và mang lại sự cải thiện đối với cộng đồng địa phương. Những nơi mà du
lịch không phối hợp với các ngành khai thác thông qua quy hoạch có chiến lược thì du lịch
sẽ bung ra một cách nhanh chóng và khó kiểm so
át được nền kinh tế địa phương mỏng
manh.
Hợp nhất phát triển du lịch vào trong khuôn khổ hoạch định chiến lược cấp quốc gia và
địa phương, tiến hành đánh giá tác động môi trường làm tăng khả năng tồn tại lâu dài của
ngành du lịch.
1.2.5. Chia sẻ lợi ích đối với cộng đồng địa phương


Hơn thế nữa khi cộng đồng địa phương được tham gia chỉ đạo phát triển du lịch thì sẽ
tạo ra được những điều kiện đặc biệt thuận lợi cho du lịch bởi cộng đồng sở tại là chủ nhân
và là người có trách nhiệm chính với tài nguyên và môi trường khu vực. Điều này sẽ tạo ra
khả năng phát triển lâu dài của du lịch. Sự tham gia của cộng đồng địa phương và
o hoạt
động du lịch được thực hiện thông qua việc khuyến khích họ sử dụng các phương tiện, các
cơ sở vật chất của mình để phục vụ khách du lịch như chuyên chở, thuyết minh hướng dẫn
du khách, cho thuê nhà để ở, nấu ăn cho khách, sản xuất các hàng thủ công mỹ nghệ làm đồ
lưu niệm.
Khuyến khích cộng đồng địa phương cùng làm du lịch không chỉ qua những việc làm
có thu nhập thấp, theo mùa và những việc phục vụ như bồi bàn, dọn phòng mà nên có cả
những công việc ở mức cao hơn và những công việc quản lí có thu nhập cao thường do
người nước ngoài làm thì cũng có thể được đảm đương bởi người địa phương mà kinh
nghiệm và sự hiểu biết đặc biệt về địa phương m
ình của họ sẽ có phần góp phần không nhỏ
cho du lịch.
Việc tham gia của cộng đồng địa phương vào du lịch sẽ không chỉ mang lại lợi ích cho
họ và môi trường mà còn nâng cao chất lượng du lịch.

1.2.7. Thường xuyên trao đổi, tham khảo ý kiến với cộng đồng địa phương và các
đối tượng có liên quan
Tham khảo ý kiến quần chúng là một quá trình nhằm dung hoà giữa phát triển kinh tế
với những mối quan tâm lớn hơn của người d
ân địa phương và tác động tiềm ẩn của sự phát
triển lên môi trường tự nhiên, xã hội và văn hoá. Ý kiến của người dân địa phương là cần
thiết để đánh giá một dự án phát triển, các biện pháp để giảm thiểu tác động tiêu cực và tối
đa hoá sự đóng góp tích cực của quần chúng địa phương.

lượng du lịch.

1.2.9. Tăng cường quảng bá, tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm
Tiếp thị và quảng cáo là những vũ khí lợi hại cho việc bá
n thành công bất cứ sản phẩm
nào. Phát triển bền vững dựa trên sự tiếp thị đầy đủ và trung thực các thông tin về sản phẩm,
bao gồm cả tác động của chúng đối với nhân viên và môi trường. Điều đó nhằm nâng cao
chất lượng môi trường tự nhiên, nhân tạo và mức sống có tính đến giá thành của những giá
trị môi trường. Nó xét đến nhu cầu của các thế hệ hiện tại và mai sau.
Chiến lược tiếp thị đối với du lịch
bền vững bao gồm việc xác định, đánh giá và luôn
rà soát lại mặt cung của những tài nguyên thiên nhiên và nhân văn và những nguồn lực
khác, cũng như khía cạnh cung - cầu.
Do sự tăng trưởng của du lịch và sự hoán vị của các điểm tham quan mà tiếp thị du lịch
đặc biệt có tính chất cạnh tranh. Nó mang tính chất độc nhất và người tiêu thụ mu
a sản
phẩm một cách “mù” vì người ta không thể khảo sát điểm tham quan trước khi mua, do đó,
người tiêu thụ đến với sản phẩm và tiêu thụ nó ngay tại nguồn, chứ không phải ngược lại.
Tiếp thị và quảng cáo du lịch một cách đầy đủ và có trách nhiệm giúp nâng cao hiểu biết, sự
cảm kích, lòng tôn trọng văn hoá và môi trường địa phương, và cũng làm tăng sự thoả mãn
toàn diện của du khách.

1.2.
10. Thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu
Để ngành du lịch phát triển và tồn tại một cách bền vững, điều cốt yếu là cần có dự
đoán vấn đề và nắm được trước chi phí giải quyết vấn đề. Tốc độ phát triển nhanh của du
lịch tại những khu vực dễ bị tổn thương về mặt môi trường, kinh tế và xã hội, những môi
trường này thường có ít số liệu do khó khăn t
rong việc thu thập, cho thấy rằng cần cấp bách
nghiên cứu cơ bản hơn nữa để đảm bảo không chỉ cho hiệu quả kinh doanh mà còn cho sự

bức xúc này, vấn đề du lịch bền vững được đề cập tới, như một khái niệm mới, thể hiện một
đòi hỏi khách quan và rất gay gắt để đảm bảo cho sự phát triển lâu dài, vững chắc của ngành
kinh tế du lịch trong thời kỳ mới.
Xu hướng phát triển của du lịch bền vững không phải là một hiện tượng có tính nhất
thời, một hoạt động có tính phong trào m
à là một đòi hỏi khách quan của thời đại, có ý
nghĩa quan trọng không chỉ về mặt kinh tế, lợi nhuận của bản thân du lịch, mà sâu xa hơn
còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển bền vững của xã hội, của quốc gia,
của cộng đồng trong quan hệ với việc khai thác tài nguyê
n và môi trường tự nhiên và văn
hoá nhân văn.
Với lợi thế đặc biệt về địa lí kinh tế và chính trị, tài nguyên du lịch phong phú, đa
dạng, nguồn nhân lực dồi dào, cần cù, mến khách, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng
mở và đa dạng hoá cùng những chính sách đổi mới quản lý, phát triển du lịch,Việt Nam có
nhiều thuận lợi để phát triển du lịch. Đặc biệt, từ ngày 09/11/2006, Việt Nam đã trở thành
thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới, nguồn vốn đầu tư, các nhà đầu tư
và du khách sẽ đổ vào Việt Nam nếu được khơi luồng tốt. Nếu như năm 1990, du lịch Việt
Nam mới đón được 250.000 lượt khác
h quốc tế và trên một triệu lượt khách du lịch nội địa
thì đến năm 2005 đã đón được trên 3,6 triệu lượt khách quốc tế và trên 16,5 triệu lượt khách
du lịch nội địa với thu nhập du lịch đạt gần 2 tỉ USD. Du lịch Việt Nam đang có những
chuyển biến lớn lao với những bước tiến quan trọng cả về lượng và chất. Chúng ta đang
đứng trước một xu thế phát triển du lịch rất mạnh mẽ với sự lựa chọn bắt buộc là phải sử
dụng c
ó trách nhiệm các nguồn lực của mình, đặc biệt là tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân
văn. Chúng là nguồn lực cơ bản, quyết định sự phát triển du lịch. Đối với nước ta, việc bảo
vệ môi trường cho phát triển du lịch, đồng thời bảo vệ văn hoá, m

chương trình phát triển du lịch bền vững có chất lượng như “chương trình loại trừ tác động
của xã hội”. TAT còn phối hợp với Cục Bảo tồn Rừng và các cơ quan liên quan ở địa
phương triển khai 13 dự án
giáo dục đào tạo và nâng cao nhận thức cho lãnh đạo và nhân
dân địa phương về giá trị của các di sản thiên nhiên và văn hoá cũng như lối sống của họ.
Cơ quan Du lịch quốc gia Thái Lan (TAT) đã khuyến cáo và đưa ra 8 biện pháp bảo
vệ môi trường thiên nhiên của các khu du lịch gồm:
- Hạn chế số lượng khách du lịch trên cơ sở sức chứa của khu du lịch.
- Có biện pháp quản lý sự ra vào các khu bảo tồn.
- Giảm lượng c
hất thải và nâng cao mức độ trong sạch.
- Huy động vốn đóng góp.
- Thành lập trung tâm điều phối
- Quản lý chất lượng dịch vụ
- Phân chia khu vực
- Ký hiệu chỉ dẫn thông tin chi tiết rõ ràng tại các địa điểm.
Chiang Mai được thiết kế để đón du khách với những điệu m
úa của người dân tộc
bản xứ, các làng nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, nghề săn bắt voi và có các trại nuôi
voi. Vốn thành lập trại voi được huy động từ nhiều nguồn, chịu sự quản lý của trung tâm
điều phối. Chợ đêm nơi đây cũng được tổ chức rất quy mô, có biển chỉ dẫn rõ ràng, dễ hiểu
cho du khách.
Tại Thái Lan các hoạt động đã đư
ợc tiến hành nhằm giữ gìn vệ sinh môi trường, giữ
gìn kiến trúc truyền thống và áp dụng tiêu chuẩn “lá xanh” để đánh giá việc bảo vệ môi
trường sinh thái đối với các khách sạn.
Đối với hoạt động phát triển du lịch sinh thái văn hoá tại Thái Lan, Chính phủ và các
cơ quan hữu quan đã bắt đầu phát động một phong trào nhằm khôi phục lại giá trị nguyên
bản của văn hoá và đất nước Thái Lan. Trung tâm
của phong trào là phát triển du lịch sinh

hu hút nhiều sự tham gia của khu vực tư nhân
và sự hợp tác giữa khu vực nhà nước với các thành phần kinh tế khác.
Du lịch xanh là chủ đề chính của du lịch Trung Quốc, được ra đời từ năm 1999, từ
đó, Chính phủ đã không ngừng quan tâm bảo vệ môi trường. Họ đã tổ chức các hội thảo về
phát triển du lịch bền vững, về quản lý và phát triển du lịc
h sinh thái của từng địa phương;
xây dựng và truyền bá những thuận lợi của tiện nghi du lịch. Kết quả của những hội thảo ấy
là hướng Trung Quốc đi vào việc phát triển du lịch sinh thái và xem đây là một trong những
cách tác động trực tiếp và tích cực đến việc phát triển bền vững.
Vào thời điểm năm 2000, Trung Quốc đã bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ 10.
Chính phủ Trung Quốc đã tiếp tục xây dựng chiến lược phát triển du lịch bền vững, sử dụng
công nghệ tạo ra những sản phẩm sạch và xa
nh, thu hồi chất phế thải, đồng thời Chính phủ
đã xây dựng và quản lý sâu rộng hệ thống xanh của đất nước. Họ cố gắng hướng du lịch trở
thành một bộ phận không thể thiếu và có mối quan hệ bền chặt với môi trường. Những định
hướng và hoạch định kế hoạch thực hiện của Trung Quốc nêu trên là những kinh nghiệm
quý báu cho chúng ta tham khảo.
Chẳng hạn núi Nga My của Trung Quốc đã được đầu tư xây dựng tuyến cáp treo rất
quy mô để đưa du khách chiêm ngưỡng cao nguyên Thanh Tạng từ trên cao. Hoặc du khách
cũng có thể thưởng ngoạn vẻ đẹp của núi rừng khi đi ô tô trên những con đường đã được rải
nhựa rất đẹp uốn lượn quanh núi. Động thực vật nơi đây
được bảo tồn nghiêm ngặt khiến
cho chủng loài và số lượng rất phong phú. Ngay trên đỉnh núi tưởng chừng heo hút là nhà
hàng, khách sạn và khu vui chơi giải trí rất hấp dẫn. Các cửa hàng bán hàng lưu niệm được
làm bởi người dân tộc bản địa bày bán rất nhiều mặt hàng bắt mắt, đặc sắc. Chùa trên núi
cũng là điểm thu hút khách tham quan. Các tỉnh miền núi nước ta có thể tham khảo mô hình
này, đối với Dak Lak thì đó là núi

phát triển du lịch bền vững của thế giới.

CHƯƠNG 2. TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
DU LỊCH TỈNH DAK LAK THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
2.1. Tiềm năng du lịch của tỉnh Dak Lak
Dak Lak nằm giữa cao nguyên Nam Trung Bộ, có tọa độ địa lý khoảng từ 11
O
30’B đến
13
O
25’B và 107
O
30’Đ đến 109
O
30’Đ.
Phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng và Dak Nông, phía Đông
giáp tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên, phía Tây giáp vương quốc Campuchia.
Dak Lak có diện tích 13.125,37km
2
, dân số 1.714.855 người (2005), với 44 dân tộc
sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 30%.
Luận văn phân tích các yếu tố được xem là thế mạnh, là lợi thế so sánh, tạo điều kiện
cho du lịch Dak Lak phát triển theo hướng bền vững.

2.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
2.1.1.1. Địa hình
Dak Lak nằm ở đoạn cuối của dãy Trường Sơn trên một vùng cao nguyên có độ cao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status