Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro của hoạt động cho vay ngoại tệ tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương việt nam - Pdf 15



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG NGUYỄN THỊ MINH HẰNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO
TÍN DỤNG CỦA HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGOẠI TỆ TẠI
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN
NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM

Chuyên ngành : Thƣơng mại
Mã số : 60.34.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ THƢƠNG MẠI
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THỊ LƢƠNG BÌNH


LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN
DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 4
1.1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 4
1.1.1 KHỎI NIệM TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 4
1.1.2 PHÂN LOẠI TÍN DỤNG 5
1.2 RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 7
1.2.1 ĐỊNH NGHĨA RỦI RO 7
1.2.2 PHÂN LOẠI RỦI RO TÍN DỤNG 10
1.2.3 RỦI RO TÍN DỤNG THEO HIỆP ĐỊNH QUỐC TẾ (BASEL I, II) 12
1.2.4 RỦI RO TÍN DỤNG THEO QUY ĐỊNH CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC
VIỆT NAM 15
1.2.5 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
18
1.3. SỰ CẦN THIẾT CỦA HOẠT ĐỘNG CHO VAY BẰNG NGOẠI TỆ
TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY 23
1.3.1. ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ 23
1.3.2. ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG 24
1.3.3. ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 25
1.4. BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
VIỆT NAM TRONG VIỆC HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG NGOẠI TỆ 27
1.4.2 LINH HOẠT TRONG THANH TOÁN LÃI VAY 28 1.4.3 SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ NGĂN NGỪA RỦI RO TỶ GIÁ 28

TRONG THỜI GIAN QUA 66
2.5. VÀI NÉT ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOạT độNG CHO VAY NGOẠI TỆ
TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM 68
2.5.1. KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƢỢC 68
2.5.2. TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN 69
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO VÀ NÂNG CAO
CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI
THƢƠNG VIỆT NAM 72
3.1. MỤC TIÊU, ĐỊNH HƢỚNG VÀ CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN CỦA
NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM TRONG TIẾN
TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ. 72
3.1.1. MỤC TIÊU, ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN 72
3.1.2. CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN 74
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO VÀ NÂNG CAO
CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG KHI CHO VAY NGOẠI TỆ CỦA NGÂN
HÀNG TMCP NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM 76
3.2.1. GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TỪ PHÍA NGÂN HÀNG 76
3.2.2. GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TỪ PHÍA KHÁCH HÀNG 85

3.3. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ 86
3.3.1. VỚI CHÍNH PHỦ, NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC 86
3.3.2. VỚI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM 88
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC VIẾT TẮT

ACB
Ngân hàng Thương mại cổ phần á Châu

Sibor
Lãi suất bình quân của Hiệp hội các ngân hàng tại
Singapore
TMCP
Thương mại Cổ phần
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TT
Thanh toán chuyển tiền
TW
Trung ương
USD
Đồng Đô la Mỹ
Vietcombank
Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam
VND
Đồng Việt Nam
DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Lãi suất Đồng Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2009 20
Bảng 2.1: Thẩm quyền phê duyệt tín dụng tại Vietcombank 36
Bảng 2.2: Các cấp thẩm quyền tín dụng tại Vietcombank 37
Bảng 2.3: Phân loại tín dụng theo hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ 41
Bảng 2.4: Dư nợ tín dụng của Vietcombank từ 2007 – 2009 45
Bảng 2.5: Vòng quay vốn tín dụng ngoại tệ trong giai đoạn 2007 – 2009 50
hàng đã đặt ra thách thức mới cho nền kinh tế và thị trường tài chính Việt Nam, đó
là việc hiện đại hóa hoạt động ngân hàng, quản lý chặt chẽ rủi ro tín dụng…
Trong hoạt động ngân hàng thì hoạt động cho vay (tín dụng) là nghiệp vụ có
ý nghĩa quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng, bởi lợi
nhuận từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu nhập của các
ngân hàng thương mại. Hoạt động cho vay ngoại tệ là một trong hai loại hình cho
vay chủ yếu của ngân hàng khi xét về loại tiền vay. Tuy nhiên đây cũng là hình thức
cho vay có rủi ro cao nhất vì ngoài những rủi ro thông thường, cho vay vốn bằng
ngoại tệ còn gặp rủi ro do biến động tỷ giá từ khi thẩm định, giải ngân khoản vay
cũng như tới khi thu hồi nợ. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng
tài chính bắt nguồn từ Mỹ, hạn chế rủi ro của hoạt động cho vay ngoại tệ là mối
quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý ngân hàng cũng như những nhà nghiên cứu.
Trên cơ sở thực tiễn đó, tác giả đã chọn vấn đề “Một số giải pháp nhằm hạn
chế rủi ro tín dụng của hoạt động cho vay ngoại tệ tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ
phần Ngoại Thƣơng Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu:
Tại Việt Nam đã có nhiều đề tài nghiên cứu về rủi ro của hoạt động tín dụng.
Có thể kể tên các đề tài như “Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng
của các ngân hàng thương mại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng năm
2006 hay “Quản lý rủi ro tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng Thương mại cổ
phần Ngoại Thương Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Thị
Hồng Vân năm 2009 Các luận án này chủ yếu tập trung nghiên cứu những rủi ro
tín dụng nói chung hay rủi ro tín dụng trong hoạt động cụ thể như cho vay trung và
dài hạn Tuy nhiên, chưa có một đề tài nào đi sâu nghiên cứu rủi ro khi cho vay
ngoại tệ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Ngoại Thương Việt Nam.
Xuất phát từ những góc độ tiếp cận, phân tích trên, đề tài “Một số giải pháp nhằm
hạn chế rủi ro tín dụng của hoạt động cho vay ngoại tệ tại Ngân hàng Thƣơng mại
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN
DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1 Tổng quan về tín dụng ngân hàng
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng là hoạt động kinh tế ra đời từ rất sớm dưới hình thức cho vay nặng
lãi trong điều kiện sản xuất thấp kém. Cùng với sự phát triển của xã hội, tín dụng đã
có sự phát triển vượt bậc. Đến nay, hoạt động tín dụng là thành phần không thể
thiếu trong sự phát triển kinh tế của các tổ chức cũng như các quốc gia.
Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức kinh tế hoạt động độc lập và có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau thông qua quá trình trao đổi mua bán để hình thành hệ
thống kinh tế thống nhất. Dù ở hình thái kinh tế nào (phong kiến, tư bản chủ nghĩa
hay xã hội chủ nghĩa), mỗi tổ chức kinh tế cũng có lúc thừa, lúc thiếu vốn. Tuy
nhiên khi đứng trên bình diện toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì tại một thời điểm
nhất định sẽ có hiện tượng một nhóm tổ chức kinh tế có vốn tạm thời chưa sử dụng
đến trong khi nhóm tổ chức kinh tế khác lại có nhu cầu bổ sung vốn để đầu tư, mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Đây là hiện tượng khách quan tồn tại ngay

Cho vay ngắn hạn: là hình thức cho vay có thời hạn đến 12 tháng. Loại hình
cho vay này thường được các doanh nghiệp sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu
động trong quá trình sản xuất kinh doanh, các cá nhân sử dụng để đáp ứng các nhu
cầu chi tiêu ngắn hạn của mình.
Cho vay trung hạn: là cho vay với thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm. Hình
thức vay vốn này được áp dụng với cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho vay
cá nhân, cho vay trả góp
Cho vay dài hạn: là loại hình cho vay có thời hạn trên 5 năm, thời hạn tối đa
có thể lên đến 20-30 năm, trong một số trường hợp cá biệt có thể lên đến 40 năm.
Loại hình cho vay này thường được áp dụng với cho vay đầu tư các dự án có thời hạn dài như xây dựng các công trình thủy điện, xây dựng mở rộng nhà xưởng, cho
vay mua nhà
Căn cứ vào mục đích cho vay:
Cho vay bất động sản: là loại hình cho vay liên quan đến việc mua sắm và
xây dựng bất động sản như nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp,
thương mại, dịch vụ.
Cho vay chứng khoán: là loại hình cho vay nhằm mục đích đầu tư (mua, bán,
kinh doanh) chứng khoán.
Cho vay xuất khẩu: cho vay vốn để tiến hành các hoạt động thu mua vật tư,
hàng hóa nội địa, sơ chế các sản phẩm nguyên vật liệu thô nhằm mục đích xuất
khẩu hàng hóa ra sang các thị trường khác.
Cho vay nhập khẩu: là loại hình cho vay (thường là vay ngoại tệ) để nhập
khẩu hàng hóa, máy móc thiết bị, công cụ, dụng cụ nhằm mục đích tiêu dùng, mua
bán kiếm lời, phục vụ quá trình hiện đại hóa cơ sở vật chất
Cho vay khác: cho vay nông nghiệp (cho vay để trang trải các chi phí sản
xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên
liệu ), cho vay công nghiệp
Căn cứ vào đối tƣợng cho vay:

khách hàng có thu nhập cao, được trả lương qua hệ thống ngân hàng ) [22]. Trong
một số trường hợp nhất định, các ngân hàng thương mại có thể cho vay không có
bảo đảm bằng tài sản theo chỉ định của Chính phủ, bảo lãnh Bộ Tài Chính nhằm
thực hiện mục tiêu của Chính phủ, các dự án trọng điểm quốc gia,
1.2 Rủi ro tín dụng ngân hàng
1.2.1 Định nghĩa rủi ro
Từ trước đến nay có rất nhiều khái niệm về rủi ro nhưng đơn giản nhất có thể
hiểu rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm, tổn thất một cách khách quan, ngoài ý muốn
của con người và không thể lường trước được. Trong kinh doanh, rủi ro được hiểu
là những thiệt hại mà các doanh nghiệp và các cá nhân phải gánh chịu trong lĩnh
vực kinh doanh của mình. Rủi ro trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra các sự kiện chưa chắc
chắn trong tương lai mà có thể gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận và nguồn
vốn của ngân hàng, khiến ngân hàng không đạt mục tiêu và/hoặc gây tổn thất cho
ngân hàng [36]. Khi gặp rủi ro trong kinh doanh, ngân hàng sẽ bị tổn thất về tài sản,
lợi nhuận thực tế bị giảm sút so với dự kiến, hoặc phải bỏ ra một khoản chi phí nhất
định để khắc phục.
Trong lĩnh vực ngân hàng, khái niệm rủi ro được chia làm ba loại rủi ro
chính, đó là rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động.
Rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng là một hiện tượng thường gặp ở bất kỳ một ngân hàng thương
mại nào. Rủi ro tín dụng là rủi ro trong hoạt động cho vay, phát sinh khi một bên
không thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng với ngân hàng
(không thực hiện thanh toán nợ dù cho đó là khoản nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ
đó đến hạn) [37]. Ngoài ra, cũng có thể hiểu rủi ro tín dụng là những thiệt hại, mất
mát mà ngân hàng phải gánh chịu do người vay vốn hay người sử dụng vốn không
trả đúng hạn và không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng tín dụng vì
bất kể lý do gì.

khả năng chịu rủi ro khi tỷ giá thay đổi. Rủi ro này thường phát sinh trong hoạt
động kinh doanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế, huy động vốn và cho vay ngoại tệ.
Rủi ro hoạt động: rủi ro phát sinh từ cách thức ngân hàng điều hành hoạt
động của mình. Rủi ro hoạt động thường xảy ra do các nguyên nhân phi tài chính
gây ra như hệ thống thông tin không đầy đủ, xảy ra sự cố về hệ thống mạng lõi
(core banking) (rủi ro vận hành); cán bộ vi phạm các quy định của ngân hàng (gian
lận, giả mạo, tham ô ) (rủi ro do con người); rủi ro do hệ thống tổ chức và cơ chế
quản lý đem lại (rủi ro tổ chức) như sự phân công trách nhiệm chưa rõ ràng giữa các
bộ phận trong ngân hàng dẫn tới các rủi ro như hạn mức kinh doanh giữa ngân hàng
và khách hàng có thể bị vượt, các hợp đồng không được thực hiện đúng hạn, không
đánh giá được mức độ rủi ro, trạng thái ngoại tệ vượt mức an toàn cho phép Dù rủi ro xảy ra dưới bất kỳ hình thái nào, ngân hàng đều bị thiệt hại như
mất vốn, chậm trả hoặc thậm chí đánh mất khách hàng tiềm năng. Do đó, các ngân
hàng cần có một chính sách quản trị rủi ro có hiệu quả.
Quản lý rủi ro tín dụng:
Trong tất cả các loại hình rủi ro nêu trên, rủi ro trong hoạt động tín dụng là
một vấn đề hết sức rộng lớn và phức tạp trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
hiện nay. Việc nâng cao tính khả thi của chiến lược phòng chống và quản lý rủi ro
có một ý nghĩa quan trọng đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Là một bộ phận quan trọng trong quản trị ngân hàng, quản lý rủi ro tín dụng
được hiểu là quá trình sử dụng các biện pháp, công cụ, chính sách khác nhau để
nhận diện, đánh giá, đo lường, giám sát những rủi ro phát sinh từ các nguyên nhân
phát sinh rủi ro; từ đó đề ra các giải pháp ngăn ngừa hoặc giảm thiểu rủi ro [37].
Mục tiêu của quản trị rủi ro là phải xác định, đo lường và kiểm soát rủi ro ở
mức độ có thể chấp nhận được. Mức độ chấp nhận rủi ro phải được xác định cụ thể
trong từng thời kỳ, phù hợp với mỗi loại rủi ro và đảm bảo không vượt quá khả
năng về vốn và tài chính của ngân hàng. Từ đó có thể bảo vệ ngân hàng khỏi những
mất mát không dự tính trước; bảo đảm mức độ rủi ro không vượt quá khả năng về

Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng cho biết một đồng vốn của ngân hàng được
cho vay bao nhiêu lần trong năm. Chỉ tiêu này phụ thuộc vào kỳ hạn cho vay và thu
nợ trung bình của ngân hàng. Mặc dù chỉ tiêu này không phản ánh trực tiếp chất
lượng tín dụng (nếu ngân hàng cho vay trung dài hạn nhiều, vòng quay tín dụng sẽ
giảm) nhưng thông qua chỉ tiêu này, ngân hàng có thể đánh giá được tỷ lệ nợ quá
hạn. Với dư nợ bình quân năm của ngân hàng không đổi, nếu doanh số thu nợ trong
năm tăng (đồng nghĩa với nợ quá hạn giảm) thì vòng quay vốn tín dụng sẽ tăng.
Nợ xấu làm giảm tốc độ chu chuyển vốn của ngân hàng, dẫn đến hiệu quả sử
dụng vốn giảm, làm giảm hoặc thậm chí khiến ngân hàng mất khả năng thanh toán,
lợi nhuận mang lại từ hoạt động tín dụng cũng giảm sút đáng kể. Các ngân hàng
thương mại là trung gian giữa người thừa vốn và người thiếu vốn nên phải có trách
nhiệm cân đối đầu vào và đầu ra sao cho có thể đảm bảo nghĩa vụ hoàn trả gốc và
lãi với các chủ nợ của mình. Do đó, chỉ cần có khoản nợ bị quá hạn hoặc bị cơ cấu
lại thời hạn trả nợ, ngân hàng sẽ bị đọng vốn, mất rủi ro thanh khoản tạm thời. Rủi ro đọng vốn nếu xảy ra trong thời gian dài sẽ làm giảm uy tín kinh doanh của ngân
hàng trên thương trường, về lâu dài có thể đẩy ngân hàng đến nguy cơ phá sản.
Rủi ro mất vốn: là rủi ro do không thu được một phần hoặc toàn bộ nợ gốc,
lãi từ phía khách hàng khiến Ngân hàng mất vốn, lợi tức và các chi phí khác.
Mức độ nghiêm trọng rủi ro này phụ thuộc vào các chỉ tiêu sau:
Tỷ trọng nợ khó đòi, nợ khoanh, xóa nợ, miễn giảm lãi. Các tỷ trọng này đạt
giá trị lớn sẽ là dấu hiệu trực tiếp cho biết Ngân hàng đã có nguy cơ sẽ mất một
phần hay toàn bộ nợ không thu được. Tỷ lệ này được đo lường bằng công thức:
Tỷ lệ nợ khó đòi =
Nợ quá hạn khó đòi
x 100%
Tổng nợ quá hạn
Khi phân chia nợ quá hạn theo khả năng thu hồi, có thể tách riêng phần nợ
quá hạn khó đòi (nợ quá hạn nhóm 5). Tỷ lệ nợ quá hạn khó đòi/ tổng nợ quá hạn

rủi ro hoạt động.
Hệ số chuẩn (CAR) = Vốn tự có của ngân hàng/ Tổng tài sản Có rủi ro
Theo Basel I, hệ số CAR phải trên 8% mới đảm bảo được hoạt động an toàn
của tổ chức tín dụng. Basel I đặt ra các tiêu chuẩn cấp tín dụng và các quy trình
giám sát cho vay thông qua việc duy trì các chính sách cho vay, mục đích cho vay
và thủ tục cho vay. Bên cạnh đó, ngân hàng cần có một chính sách quy trình giám
sát quan hệ tín dụng hiện tại của khách hàng.
Tuy nhiên hiệp ước Basel I có những nhược điểm sau:
Thứ nhất, không phân biệt theo loại rủi ro, như một khoản nợ đối với tổ chức
xếp hạng AA được coi như một khoản nợ đối với tổ chức xếp hạng B (ví dụ như
một khoản nợ cho một ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ chỉ cần một lượng vốn bằng 1/5
khoản nợ cho công ty General Electric – xếp hạng AAA).
Thứ hai, không có lợi ích từ việc đa dạng hóa: một khoản nợ riêng lẻ yêu cầu
một lượng vốn giống như một danh mục đầu tư được đa dạng hóa, với cùng một giá
trị (ví dụ như không có sự khác biệt nào giữa một khoản vay 100 USD với 100
khoản vay 1 USD).
Thứ ba, chưa có yêu cầu vốn dự phòng cho rủi ro vận hành. Hiệp ước Basel II ra đời năm 2001, bao gồm những khuyến nghị về luật và
quy định ngành ngân hàng, nhấn mạnh đến việc kiểm soát nội bộ trong các ngân
hàng, tăng cường sự linh hoạt trong quản lý rủi ro thông qua độ nhạy cảm rủi ro. So
với Basel I, Basel II đã tạo một bước hoàn thiện hơn trong việc xác định tỷ lệ an
toàn vốn nhằm khắc phục hạn chế của Basel I và khuyến khích các ngân hàng thực
hiện phương pháp quản trị rủi ro tiên tiến. Hiệp ước Basel II đưa ra một loạt các
phương án lựa chọn, cho phép quyền tự quyết lớn trong việc giám sát hoạt động
ngân hàng thông qua các chuẩn mực giám sát nhằm hoàn thiện các kỹ thuật quản trị
rủi ro và có cấu trúc theo 3 cấp độ:
Cấp độ I quy định yêu cầu tỷ lệ vốn tối thiểu đối với rủi ro tín dụng và rủi ro
hoạt động. Cấp độ này liên quan tới việc duy trì tỷ lệ vốn bắt buộc. Lượng vốn này

IRB) để các ngân hàng có thể lựa chọn, và từ đó quản lý rủi ro tín dụng tốt hơn.
Theo nhận định chung của các chuyên gia, hệ thống ngân hàng thương mại
Việt Nam hiện vẫn đang ở trong những bước đầu tiên trong quá trình áp dụng các
chuẩn mực quốc tế vào việc xây dựng một hệ thống an toàn, giảm thiểu rủi ro trong
quá trình hoạt động. Các ngân hàng thương mại hiện đang áp dụng theo phương
pháp đánh giá rủi ro tín dụng dựa trên Hiệp ước Basel I để đánh giá tương đối về
mức độ rủi ro tín dụng cũng như tính toán mức độ rủi ro tín dụng [9]. Tại Việt Nam
trước xu hướng mở rộng, sát nhập các công ty hay sự ra đời của các tập đoàn, các
công ty đa quốc gia, việc quy định về tỷ lệ dư nợ cho vay không vượt quá 15% vốn
tự có (với một khách hàng) hoặc 25% vốn tự có (với một nhóm khách hàng liên
quan) [16] hay đưa ra quy định một số đối tượng hạn chế, không được phép cho vay
cũng nhằm hạn chế rủi ro tín dụng nhưng những quy định này vẫn còn cứng nhắc và
chưa thực sự thuyết phục [15].
1.2.4 Rủi ro tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam
Đáp ứng các yêu cầu của tổ chức quốc tế, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành
các quyết định có liên quan đến việc ngăn ngừa, hạn chế, cũng như đánh giá rủi ro
tín dụng:  Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ban hành ngày 22/04/2005 quy định
về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng
trong hoạt động ngân hàng.
 Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ban hành ngày 25/04/2007 về việc sửa
đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN.
 Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN ban hành ngày 19/04/2005 quy định
về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, như
các quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, giới hạn tín dụng với khách
hàng/nhóm khách hàng có liên quan, tỷ lệ về khả năng chi trả, tỷ lệ tối
đa của nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn
Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ban hành ngày 22/04/2005, nợ được

khoanh, nợ chờ xử lý.
Theo phƣơng pháp định tính:
Ngân hàng Nhà nước quy định các tổ chức tín dụng có đủ khả năng và điều
kiện thì thực hiện phân loại nợ theo phương pháp định tính. Theo phương pháp này,
nợ cũng được phân loại thành 5 nhóm tương ứng như phương pháp định lượng. Tuy
nhiên, phương pháp này không căn cứ vào số ngày quá hạn chưa thanh toán nợ, mà
dựa trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và chính sách dự phòng rủi ro của ngân
hàng, được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. Các nhóm nợ bao gồm:
Nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn): bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng thu
hồi đầy đủ gốc và lãi đúng hạn.
Nhóm 2 (nợ cần chú ý): bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng thu hồi
đầy đủ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ.
Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn): bao gồm nợ được đánh giá là không có khả
năng thu hồi gốc và lãi khi đến hạn.
Nhóm 4 (nợ nghi ngờ): bao gồm nợ được đánh giá có khả năng tổn thất cao.
Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) bao gồm nợ được đánh giá là không còn
khả năng thu hồi, mất vốn. Theo hai cách phân loại nợ theo phương pháp định lượng và định tính như
trên thì rủi ro tín dụng sẽ bao gồm nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nợ nhóm 4 (nợ
nghi ngờ) và nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn).
Dù nhóm nợ của khách hàng được phân loại theo phương pháp nào, tỷ lệ
trích lập dự phòng cụ thể tối đa cho các nhóm nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5 sẽ tương
ứng là 0%, 5%, 20%, 50%, 100%. Riêng đối với các khoản nợ khoanh chờ Chính
phủ xử lý, tổ chức tín dụng trích lập dự phòng cụ thể theo khả năng tài chính của
mình.
1.2.5 Các nhân tố ảnh hƣởng đến rủi ro tín dụng ngân hàng
1.2.5.1 Xét theo các nhân tố định tính
Nguyên nhân khách quan:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status