BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG TRẦN THỊ THÚY “DỊCH VỤ MỘT CỬA” TRONG HOẠT ĐỘNG
ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM –
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TỪ THÚY ANH
4. Đoàn Nghiên cứu JICA (2008), Nghiên cứu khả thi Khu Công nghệ cao
Hòa Lạc tại nước CHXHCN Việt Nam, Hà Nội.
5. Hệ thống văn bản pháp luật (2008), Luật Đầu tư và các văn bản hướng
dẫn, NXB Tài chính, Hà Nội.
6. Nhóm công tác rà soát thủ tục hành chính trong lĩnh vực Đầu tư, Hội
đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính (2009), Báo cáo kết quả rà
soát thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư, Hà Nội.
7. Phòng Đầu tư nước ngoài, Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Hà Nội (2008),
Quy trình cấp Giấy Chứng nhận đầu tư, Hà Nội.
8. Phúc Minh (2009), “Hồng Kông có nền kinh tế tự do nhất thế giới”,
Thời báo kinh tế Sài gòn Online, Thứ Năm ngày21/1/2010.
9. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – VCCI (2007), Hồ sơ
thị trường, Hà Nội.
10. Tổ công tác chuyên trách cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng
Chính phủ (2008), Giới thiệu Tổng quan về Đề án 30 và hướng dẫn
việc thống kê thủ tục hành chính, Hà Nội.
11. Thúy Hải (2008), “Để sức thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
không là hiện tượng nhất thời”, Sài gòn Giải phóng Online, thứ sáu,
22/08/2008.
12. Trần Ngọc Hưng (2009), Thu hút đầu tư và quản lý đầu tư trực tiếp
nước ngoài giai đoạn 2006-2008 và một số giải pháp cơ bản cho các
năm 2009-2010, Vụ Quản lý KCN và KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
Hà Nội.
13. Trần Thị Thúy (2009), Nghiên cứu thực hiện dịch vụ một cửa tại Khu
Công nghệ cao Hòa Lạc. Đề tài nghiên cứu khoa học năm 2009. Ban
Quản lí Khu công nghệ cao Hòa Lạc. Hà Nội.
14. Văn Minh Hoa (2006), “Giải pháp giúp cải cách tốt nền hành chính”,
Sài gòn Giải phóng, Số ra ngày 29/5/2006, tr.5.
15. Vũ Hải Nam (2007), Báo cáo tình hình quản lý tổ chức bộ máy các Ban
quản lý Khu Công nghiệp, Khu kinh tế, Bộ Nội vụ. Hà Nội.
35. APEC www.apec.org
36. UNCTAD www.unctad.org
PHỤ LỤC I
PHIẾU ĐIỀU TRA
Xin vui lòng trả lời các câu hỏi sau đây bằng cách khoanh vào phần lựa chọn.
Câu hỏi 1: Quy’ đơn vị đã từng đầu tư tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc hay chưa?
a) Chưa đầu tư b) Đã đầu tư c) Đang dự định đầu tư d) Không đầu tư
Câu hỏi 2: Quy’ đơn vị đã/dự định đầu tư tại khu chức năng nào?
a) Khu công nghiệp công nghệ cao b) Khu R&D c) Khu trung tâm
d) Khu tiện ích e) Khu nhà ở kết hợp văn phòng f) Khu phần mềm
g) Khu khác
Câu hỏi 3: Đánh giá của đơn vị về môi trường đầu tư tại HHTP
a) Rất tốt b) Bình thường c) Chưa tốt lắm d) Rất nhiều triển vọng
Câu hỏi 4: Dịch vụ hỗ trợ nhà đầu tư tại HHTP hiện như thế nào?
a) Rất tốt b) Bình thường c) Chưa tốt lắm d) Không tốt
Câu hỏi 5: Quy’ đơn vị mong muốn có dịch vụ một cửa gồm những nội dung nào dưới
đây?
a) Trợ giú p việ c xin giấ y phé p đầ u tư BQL khu CNC Hò a Lạ c
b) Hỗ trợ ký kế t hợ p đồ ng sử dụ ng cá c công trình tiệ n ích và cá c dịch vụ
c) Giớ i thiệ u cá c công ty tư vấ n luậ t chuyên nghiệ p , các luật sư, kế toá n bấ t cứ khi nà o
cầ n
d) Tiế n hà nh cá c hà nh độ ng cầ n thiế t để yêu cầ u cá c tổ chứ c chị u trá ch nhiệ m giả i
quyế t nhữ ng kiế n nghị từ phí a nhà đầ u tư /nhà thuế đất
4 văn bản nêu tại phần thực trạng 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Hoạt động đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đã và đang đóng vai trò hết sức
quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Thời gian qua hoạt động này đã gặp
một số khó khăn, đặc biệt là từ sau cuộc khủng hoảng tài chính. Để đẩy mạnh
được hoạt động đầu tư nước ngoài, Việt Nam cần có nhiều biện pháp tích cực
hơn nữa, đặc biệt là trong việc giảm bớt các thủ tục hành chính, một trong
những vấn đề mà các nhà đầu tư nước ngoài vẫn rất lo ngại khi đầu tư tại Việt
Nam. Việc thực hiện “dịch vụ một cửa” là một trong những biện pháp đang
được khuyến khích thực hiện để cải thiện thủ tục hành chính và hỗ trợ hoạt
động của nhà đầu tư nước ngoài.
Mặc dù vậy, thực tế tiến hành dịch vụ một cửa cho các nhà đầu tư nước
ngoài ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều vướng mắc. Vì vậy, cần có một cái
nhìn tổng quan về hoạt động này để đưa ra các khuyến nghị cần thiết nhằm
nâng cao chất lượng của dịch vụ, qua đó góp phần đẩy mạnh hoạt động đầu tư
nước ngoài.
2. Tình hình nghiên cứu:
Ngày 17/9/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
136/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt chương trình tổng thể cải cách nền hành
chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 mở đầu cho các hoạt động cải cách đơn
giản hóa thủ tục hành chính. Tiếp sau đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký
quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04/9/2003 về việc ban hành quy chế
thực hiện cơ chế một cửa tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Đây là những văn bản pháp luật có ý nghĩa lớn đối với sự hình thành và phát
triển của cơ chế một cửa tại Việt Nam.
Cho đến nay, rất nhiều ý tưởng và các văn bản hướng dẫn về cơ chế
3
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện việc thực hiện “dịch vụ
một cửa” trong hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
Việc thực hiện dịch vụ một cửa, đặc biệt là cho những nhà đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam hiện nay chủ yếu được thực hiện tại những thành phố lớn,
thu hút một lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài hàng năm, như Hà Nội, TP Hồ
Chí Minh, Đà Nẵng, Bình Dương. Tuy nhiên trên thực tế việc triển khai dịch
vụ này là chưa đồng đều, chỉ tập trung vào một số đơn vị điển hình tại từng
địa phương. Do đó, phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu của đề tài
như sau:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các đơn vị thực hiện “dịch vụ một
cửa” trong hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, bao gồmSở Kế hoạch
và Đầu tư Hà Nội, Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Kế
hoạch và Đầu tư Thành phố Đà Nẵng, Khu Công nghiệp Việt Nam –
Singapore, Khu Công nghệ cao Hòa Lạc và Khu Công nghệ cao Thành phố
Hồ Chí Minh.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: về mặt không gian, phạm vi nghiên cứu
của đề tài là các thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đà Nẵng.
Về mặt thời gian, phạm vi nghiên cứu của đề tài là từ năm 1997 đến nay.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu
sau: phương pháp duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, phương
pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp tra
cứu tài liệu.
7. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
chính của luận văn bao gồm 3 chương như sau.
nhiều ưu điểm của mô hình này, và dần dần khái niệm về “one stop shop” chỉ
còn nhìn nhận như là một loại hình dịch vụ trong đó chỉ cần một đầu mối liên
hệ mà có thể giải quyết được nhiều công việc.
Hiện nay, khái niệm “dịch vụ một cửa” đã được phát triển rộng hơn rất
nhiều. Theo định nghĩa của Từ điển Thuật ngữ Tài chính – Đầu tư, một ấn
phẩm online của tạp chí Forbes thì “one stop shop” là một công ty hay một
địa điểm cung cấp nhiều loại hình dịch vụ cho khác hàng. Mục đích của nó là
đưa ra dịch vụ thuận tiện và hiệu quả, đồng thời cũng tạo ra cơ hội có thể
cung cấp được nhiều sản phẩm hơn tới khách hàng. Ví dụ, một ngân hàng có
thể cung cấp không chỉ các dịch vụ ngân hàng và các khoản vay cá nhân, mà 6
còn có thể tư vấn đầu tư, cung cấp các phương tiện đầu tư cũng như các chính
sách bảo hiểm. Nếu so sánh với việc phải đi lại đến từng địa điểm cho từng
lĩnh vực riêng biệt thì có thể thấy rằng “dịch vụ một cửa” giúp khách hàng tiết
kiệm rất nhiều thời gian và công sức.
Như vậy, khái niệm “dịch vụ một cửa” xuất phát từ lĩnh vực hành chính
công đã được mở rộng sang lĩnh vực dịch vụ đem lại giá trị gia tăng cho
doanh nghiệp. Những đơn vị áp dụng loại hình dịch vụ này cũng không giới
hạn ở các cơ quan công quyền, mà còn mở rộng ra cả đối với các doanh
nghiệp kinh doanh.
Với các nước Châu Á, những nước đang tiếp nhận một lượng lớn vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thì việc thực hiện “dịch vụ một cửa” hiện
nay chủ yếu là dành cho những nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) với việc hỗ
trợ trong các lĩnh vực khác nhau, từ các vấn đề hành chính đến những vấn đề
khác trong suốt quá trình trước và sau khi tiến hành đầu tư. Việc thực hiện
loại hình dịch vụ này tại Việt Nam cũng đang theo xu hướng này.
1.2. Kinh nghiệm tiến hành “dịch vụ một cửa” trên thế giới:
1.2.1. “Dịch vụ một cửa” tại Hồng Kông
hiện bởi Cục Đầu tư trực tiếp nước ngoài - Invest HK. Đây là cơ quan hành
chính mà Chính quyền Đặc khu kinh tế Hồng Kông thành lập để chịu trách
nhiệm khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà ĐTNN bằng cách
hỗ trợ về mọi mặt cho nhà đầu tư khi họ tiến hành đầu tư tại Hồng Kông.
InvestHK được thành lập tháng 6/2000, trực thuộc Phòng Kinh tế và Thương
mại Hồng Kông.
InvestHK có những nhóm nhân viên chuyên nghiệp trong các lĩnh vực
ưu tiên của Hồng Kông và có mạng lưới hoạt động tại nước ngoài với các đại
diện tại 27 trung tâm thương mại lớn trên toàn cầu, chủ yếu được đặt tại các
nước đối tác chính. Các nhân viên của InvestHK hoạt động tích cực tại cả
trong nước và nước ngoài để hỗ trợ các doanh nghiệp đặt tại Hồng Kông. 8
Bảng 1.1 dưới đây cho thấy một số kết quả đạt được của InvestHK trong quá
trình thực hiện dịch vụ này. Có thể thấy số lượng các dự án đã được hoàn
thành với sự hỗ trợ của InvestHK đã không ngừng tăng lên, tuy nhiên mức
tăng chỉ đạt tại thời gian đầu từ năm 2001 đến 2005, và sau đó duy trì ở mức
ổn định tại xấp xỉ 250 dự án/năm. Tuy nhiên số việc làm tạo mới và số vốn
đầu tư đã có sự thay đổi hàng năm. Điều này phụ thuộc vào tính chất và quy
mô của các dự án. Đặc biệt là số vốn đầu tư trong thời gian qua đang có xu
hướng giảm.
Bảng 1.1. Một số kết quả đạt đƣợc của InvestHK
Năm
2001
2002
2003
2004
2005
2006
Nguồn: [InvestHKNews February 2009]
Phương châm tiến hành dịch vụ của Invest HK là hỗ trợ càng nhiều nhà
đầu tư càng tốt, không phân biệt quy mô hay lĩnh vực đầu tư. Dịch vụ của
Invest HK rất đa dạng, bao gồm các hoạt động chủ yếu như sau:
- Cung cấp các thông tin cập nhật về môi trường kinh doanh và chế độ
đầu tư của Hồng Kông;
- Hỗ trợ các nhà đầu tư trong các vấn đề như liên doanh, đăng ký kinh
doanh, giấy phép kinh doanh, đăng ký thương hiệu, xin visa, tuyển dụng nhân
sự hay chọn địa điểm làm văn phòng;
- Hỗ trợ nhà đầu tư trong quá trình làm việc với các cơ quan chính phủ,
các tổ chức và các phòng thương mại;
- Nhận diện và giới thiệu các nhà đầu tư tiềm năng với các đối tác kinh
doanh tại Hồng Kông và nước ngoài; 9
- Tiến hành các hoạt động quan hệ công chúng và công cộng cho các
dự án mới;
Không ngừng hỗ trợ các nhà đầu tư trước, trong và sau khi tới Hông
Kông.
Tất cả những dịch vụ trên được InvestHK thực hiện trên cơ sở bảo mật
và miễn phí. Các dịch vụ này đều đã được chuẩn hóa và tiến hành theo một
quy trình định sẵn. Ví dụ, đối với những nhà đầu tư bắt đầu tiến hành kinh
doanh tại Hồng Kông thì nhân viên của InvestHK sẽ hỗ trợ nhà đầu tư trong
suốt quá trình tiến hành quy trình được nêu trong hình 1.1. dưới đây.
Ngoài quy trình cơ bản như vậy, một số ngành kinh doanh có điều kiện
cần xin được những giấy phép đặc thù để được tiến hành kinh doanh tại Hồng
Kông. InvestHK có những chuyên gia trong từng lĩnh vực để hỗ trợ doanh
nghiệp thực hiện những thủ tục này. Theo đánh giá của nhiều nhà đầu tư,
InvestHK đã thực hiện dịch vụ của mình một cách khá thành công.
Xin visa cho người nước ngoài
kinh doanh tại Hồng Kông
Thời gian xử lý: 4 – 6 tuần
11
hơn, và cho phép Hồng Kông thu hút đầu tư hơn 60 tỉ đô la Hồng Kông trong
năm 2009, có quy mô lớn thứ 2 tại châu Á.[8],[23]
1.2.2. Dịch vụ một cửa tại Macao
Đặc khu hành chính Macao thuộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là
một vùng lãnh thổ nhỏ bé với diện tích mặt đất tổng cộng chỉ khoảng 21 km²
nằm ở vùng duyên hải phía đông – nam Trung Hoa Đại lục, được bao bọc bởi
tỉnh Quảng Đông của CHND Trung Hoa và biển nam Trung Hoa ở phía nam.
Vùng lãnh thổ Macao có 3 khu vực chính là 27,5 km2 (nhỏ hơn 63 lần so với
Hồng Kông), gồm 3 khu vực chủ yếu là bán đảo Macao, đảo Đàm Tải (Taipa)
và đảo Lộ Hoàn (Coloane) với tổng diện tích 20,96 km2.[9] Đặc khu hành
chính Macao là một trong số các nước, vùng lãnh thổ có nền kinh tế phát triển
trên thế giới. Với GDP theo giá thực tế năm 2008 đạt 391.278 triệu USD và
GNP bình quân đầu người đạt 17.576 USD, [22] Macao là một trong những
nơi có mức sống thuộc hàng cao nhất của Châu Á. Các ngành kinh tế chính
của Macao được phân chia theo tỉ trọng tương đối như sau: Công nghiệp
chiếm 25% GDP, nông nghiệp 0%, dịch vụ 75% GDP. [21]
Trong ngành công nghiệp, dệt là ngành sản xuất và xuất khẩu chính của
Macao, chiếm 75% kim ngạch xuất khẩu của toàn vùng lãnh thổ. Bên cạnh
đó, sản xuất hàng điện tử, đồ chơi và hoa giả cũng góp phần quan trọng vào
cán cân kim ngạch xuất – nhập khẩu của Macao. Cũng giống như Singapore,
Hongkong – Macao không có ngành nông nghiệp, vì lãnh thổ có diện tích quá
nhỏ hẹp và không được bằng phẳng nên các sản phẩm nông nghiệp được nhập
chủ yếu từ Trung hoa Đại lục và một số nước trong khu vực. Tuy nhiên, có
công chứng – hướng dẫn về các thủ tục hành chính liên quan đến việc xin cấp
các loại giấy phép, giấy chứng nhận – theo dõi dự án – hỗ trợ các dự án trong
giai đoạn thực thi; 13
Cung cấp các thông tin kinh tế, thương mại, thống kê, các thông tin
chung và phân tích thị trường để hỗ trợ các khách hàng trong quá trình tìm
hiểu thị trường và mở rộng kinh doanh;
Tổ chức, đồng tổ chức các triển lãm và các sự kiện khác trong nước
để xúc tiến thương mại, tham gia vào các sự kiện như vậy ở nước ngoài và
tài trợ cho các doanh nghiệp trong lãnh thổ tham gia như là một cách để tạo
ra các cơ hội kinh doanh;
Tổ chức các đoàn công tác kinh tế ra nước ngoài để tìm kiếm cơ hội
kinh doanh, đồng thời đón tiếp các đoàn khách nước ngoài đến Macao nhằm
tạo ra các kênh trao đổi thông tin và hợp tác;
Chịu trách nhiệm cấp các giấy phép, hỗ trợ kỹ thuật và giám sát đối
với các tổ chức phi tài chính đặt tại nước ngoài;
Đánh giá các đơn xin tạm trú của nhà đầu tư, giám đốc công ty và
các chuyên gia;
Biên tập và xuất bản các tạp chí thươmg mại và kinh tế nhằm thúc
đẩy môi trường đầu tư của Macao.
Một trong những chức năng quan trọng của IPIM là thực hiện “dịch vụ
một cửa” cho các nhà ĐTNN. Theo Quy chế hoạt động của IPIM, DL 29/99,
Điều 25 khoản 1 (a), khi thực hiện dịch vụ một cửa, nhân viên của IPIM sẽ
cung cấp một số dịch vụ cũng như các thủ tục hành chính cho nhà đầu tư đăng
ký thành lập công ty.
Để thành lập công ty, nhà đầu tư phải trả một số loại phí như phí công
chứng, phí sử dụng dấu, phí đăng ký thành lập công ty, thuế công nghiệp và
các loại phí cho các giấy phép liên quan. Nhà đầu tư được khuyến khích trả
Gặp nhân viên của IPIM để ký kết Chứng thư
thành lập công ty; Công bố thành lập doanh
nghiệp* và đăng ký công ty*
15
InvestHK nhưng những dịch vụ mà IPIM đưa ra rất đầy đủ và rõ ràng, các
mức phí cũng hợp ký và nhà đầu tư gần như chỉ cần ủy thác cho IPIM thực
hiện các thủ tục thay mình.
1.2.3. “Dịch vụ một cửa” tại Đài Loan
Đài Loan là một trong những vùng lãnh thổ có nền kinh tế mạnh nhất
Châu Á, nằm trong 20 nền kinh tế đứng đầu thế giới có mức tăng trưởng liên
tục trong ba thập kỷ gần đây và mức dự trữ ngoại hối hàng đầu thế giới. Được
gọi là một trong “bốn con hổ kinh tế Châu Á”, vùng lãnh thổ Đài Loan thuộc
Trung Quốc phát triển phồn vinh về thương mại, tài chính cùng với nền nông
nghiệp được cơ giới hóa cao và những ngành cơ khí lắp ráp có độ kỹ thuật
cao. Với sự hình thành của Khu Công nghệ cao Tân Trúc, KCNC thành công
nhất trên thế giới hiện nay, Đài Loan đã ghi tên mình vào danh sách những
quốc gia phát triển nhất về công nghệ cao, đặc biệt là ngành công nghiệp bán
dẫn, TFT-LCD, năng lượng mặt trời và y sinh học. Năm 2008, KCNC Tân
Trúc có 430 doanh nghiệp công nghệ cao với số lượng nhân viên lên đến
130.577 người. Tổng doanh thu năm 2008 của các doanh nghiệp trong KCNC
Tân Trúc đạt 1.008 tỷ Đài tệ (tương đương khoảng trên 500.000 tỷ VND), với
tổng số vốn đầu tư là 1.140 tỷ Đài tệ. [29]
Là một KCNC nhận được nhiều ưu đãi của chính quyền Đài Loan,
KCNC Tân Trúc ngay từ khi mới thành lập đã có một BQL riêng của mình.
BQL KCNC Tân Trúc là một đơn vị hành chính nhà nước, trực thuộc Ủy ban
Khoa học Đài Loan, được thành lập để điều hành các hoạt động trong KCNC
Thư phản đối
Đánh giá hồ sơ
Hội đồng đánh giá gồm
các chuyên gia và các
học giả
Thư chấp thuận
Thư phản đối
Ủy ban giám sát
Họp đánh giá lại
Trong vòng 4 tuần
Từ 4-6 tuần
Phòng Dịch
vụ đầu tư
Nhà đầu tư
BQL và các đơn vị có liên quan 17
giá của Hội đồng cố vấn và Hội đồng đánh giá, BQL KCNC Tân Trúc có toàn
quyền thẩm định và ra quyết định đối với tất cả các dự án đăng ký, kể cả dự
án có vốn ĐTNN hay do người Trung quốc trên lãnh thổ khác đầu tư.
Như vậy chỉ cần một đầu mối duy nhất là tại BQL KCNC Tân Trúc,
nhà đầu tư đã có thể lấy được giấy phép để tiến hành đầu tư. Nhưng không chỉ
có vậy, BQL KCNC Tân Trúc còn được phép đánh cấp giấy phép xây dựng,
đánh giá tác động môi trường và hỗ trợ cho nhà đầu tư cho đến khi xây dựng
nhà xưởng và đi vào hoạt động.