BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG TRẦN THỊ HỒNG CẢO QUẢN TRỊ CHI NHÁNH TẠI NGÂN HÀNG ĐA
QUỐC GIA – KINH NGHIỆM CỦA NGÂN HÀNG
MUZUHO CORPORATE, LTD VÀ BÀI HỌC CHO
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
thuật hiện đại, đội ngũ nhân lực có trình độ cao mà còn là vấn đề hiệu quả quản trị
chi nhánh, hiệu quả quản trị toàn hệ thống ngân hàng. Với ý nghĩa và tính cấp thiết
về vấn đề quản trị chi nhánh của các ngân hàng, học viên xin đƣợc tìm hiểu và
nghiên cứu về đề tài: "Quản trị chi nhánh tại ngân hàng đa quốc gia: Kinh
nghiệm của Ngân hàng Mizuho Corporate Bank, Ltd và bài học cho các Ngân
hàng Thƣơng mại Việt Nam" với hy vọng góp một phần nhỏ bé vào công cuộc
nâng cao trình độ quản trị chi nhánh của hệ thống Ngân hàng Thƣơng mại Việt
Nam, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nƣớc. Đồng thời, học viên lựa
chọn đề tài này để làm luận văn tốt nghiệp Cao học chuyên ngành Quản trị Kinh
doanh tại trƣờng Đại học Ngoại thƣơng Hà Nội. 2
2. Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến đề tài về các tập đoàn hay công ty đa quốc gia, đã có một số
đề tài đề cập đến nhƣng chỉ tập trung vào các vấn đề chuyển giao công nghệ, vốn
giữa các chi nhánh của tập đoàn đa quốc gia. Hiện tại chƣa có đề tài nào nghiên cứu
về vấn đề tƣơng tự nhƣ đề tài luận văn tiến hành nghiên cứu ở trên. Trên cơ sở phân
tích và kế thừa các công trình nghiên cứu của những ngƣời đi trƣớc, học viên tiến
hành nghiên cứu một cách tổng thể về một số mô hình quản trị chi nhánh cơ bản của
ngân hàng đa quốc gia trong đó đi sâu nghiên cứu hoạt động quản trị chi nhánh của
Ngân hàng Mizuho Corporate Bank, Ltd từ đó rút ra một số kinh nghiệm trong quản
trị chi nhánh có thể áp dụng trong quản trị chi nhánh của các Ngân hàng Thƣơng
mại Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đi sâu tìm hiểu hoạt động quản trị chi
nhánh của Ngân hàng Mizuho Corporate Bank, Ltd từ đó rút ra một số bài học giúp
nâng cao năng lực quản trị chi nhánh của các Ngân hàng Thƣơng mại Việt Nam.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu một số vấn đề cơ bản về quản trị chi nhánh của các ngân hàng đa
góp của Quý Thầy Cô và các bạn thông qua địa chỉ email:
hoặc số điện thoại: 0912 269 585.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 02 tháng 03 năm 2010.
4 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ CHI NHÁNH
TRONG CÁC NGÂN HÀNG ĐA QUỐC GIA
1.1. Một số vấn đề cơ bản về ngân hàng đa quốc gia
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm về công ty đa quốc gia: Ngân hàng đa quốc gia là một thực thể cụ
thể của công ty đa quốc gia nên trƣớc khi tìm hiểu khái niệm cơ bản về ngân hàng
đa quốc gia, chúng ta sẽ tìm hiểu thế nào là công ty đa quốc gia. Theo từ điển
Wipkipedia: "Công ty đa quốc gia, thƣờng viết tắt là MNC (Multinational
Corporation) hoặc MNE (Multinational Enterprises) là công ty sản xuất hoặc cung
cấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia" [7, tr. 10]. Nhiều công ty đa quốc gia lớn có
ngân sách vƣợt cả ngân sách của nhiều quốc gia. Công ty đa quốc gia có thể có ảnh
hƣởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và nền kinh tế của các quốc gia. Chúng
đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hoá. Thông thƣờng các công ty
đa quốc gia thƣờng tạo ra các phiên bản nhỏ của chính nó ở mỗi công ty.
Định nghĩa khác về công ty đa quốc gia:
Công ty đa quốc gia là doanh nghiệp có hoạt động trên khắp thế giới với thị
trƣờng và hoạt động sản xuất ở nƣớc ngoài cộng với triết lý toàn cầu đƣợc hợp nhất
bao gồm cả các hoạt động ở trong nƣớc và ở nƣớc ngoài. Một công ty đa quốc gia
ở các quốc gia khác nhau; ii) Công ty đa quốc gia theo chiều dọc: có các cơ sở sản
xuất ở một số nƣớc nào đó, sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở
một số nƣớc khác; iii) Công ty đa quốc gia nhiều chiều: có các cơ sở sản xuất ở các
nƣớc khác nhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc.
Khái niệm về ngân hàng đa quốc gia: Trong phần trên chúng ta đã có một số
khái niệm cơ bản về công ty đa quốc gia. Trƣớc khi tìm hiểu ngân hàng đa quốc gia,
chúng ta sẽ tìm hiểu về khái niệm ngân hàng. Nói chung, ngân hàng theo nghĩa
truyền thống là một định chế tài chính cung cấp hai loại dịch vụ chính cho công 6
chúng là nhận tiền gửi và cho vay trực tiếp đến các doanh nghiệp, cá nhân và các
định chế tài chính khác nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Ở Anh, ngân hàng đƣợc coi là
một tổ chức bằng hoạt động của mình tiến hành thu nhận vốn dƣới hình thức tiền
gửi và cấp tín dụng cho các cá nhân và doanh nghiệp. Còn tại Việt Nam: "Ngân
hàng là loại hình tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và
các hoạt động khác có liên quan" [30, (điều 20)] trong đó "Tổ chức tín dụng là
doanh nghiệp đƣợc thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của
pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận
tiền gửi và sử dụng tiền gửi cung cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán ".
Tuy có nhiều cách diễn giải khác nhau để làm rõ khái niệm về ngân hàng nhằm
phân biệt ngân hàng với các định chế tài chính khác nhƣng có điểm chung nhất
trong các định nghĩa về ngân hàng đó là chỉ có ngân hàng mới thực hiện các khoản
cho vay và bán ra những tài khoản thanh toán, ngoài những dịch vụ tài chính giống
nhƣ các định chế tài chính khác cũng thực hiện. Nhƣ vậy, có thể hiểu ngân hàng là
một định chế tài chính cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính, trong đó nghiệp vụ
cơ bản và truyền thống là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và thực hiện dịch vụ thanh
toán. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, có loại hình ngân hàng thƣơng mại,
ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tƣ, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và
các loại hình tổ chức ngân hàng khác.
bên ngoài công ty nhƣ các cơ quan quản lý Nhà nƣớc, các đối tác kinh doanh và cả
môi trƣờng, cộng đồng và xã hội. Có thể hiểu QTCT là một quá trình giám sát và
kiểm soát để đảm bảo hoạt động quản trị kinh doanh phù hợp với lợi ích của các cổ
đông. QTCT ở nghĩa rộng còn hƣớng đến đảm bảo quyền lợi của những ngƣời liên
quan không chỉ là cổ đông mà còn bao gồm các nhân viên, khách hàng, nhà cung
cấp, môi trƣờng và các cơ quan nhà nƣớc. QTCT đƣợc đặt trên cơ sở của sự tách
biệt giữa quản lý và sở hữu doanh nghiệp. Chủ sở hữu công ty là nhà đầu tƣ hoặc
các cổ đông nhƣng để công ty tồn tại và phát triển phải có sự điều hành của Hội
đồng Quản trị (HĐQT), Ban giám đốc và những đóng góp của ngƣời lao động mà
những ngƣời này không phải lúc nào cũng có chung ý chí và quyền lợi. Rõ ràng cần
phải có một cơ chế quản lý, điều hành và kiểm soát để nhà đầu tƣ, cổ đông có thể
kiểm soát việc điều hành công ty nhằm đem lại hiệu quả cao nhất. Điểm mấu chốt 8
nhất của QTCT là phải có đƣợc HĐQT có đủ tầm để chỉ đạo và kiểm soát công ty.
Theo thông lệ quốc tế, HĐQT là một cơ quan có quyền lực cao nhất của doanh
nghiệp, nơi vạch ra những chiến lƣợc và giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. QTCT tốt sẽ có tác dụng làm cho các quyết định và hành động
của Ban Giám đốc thể hiện đúng ý chí và đảm bảo lợi ích của nhà đầu tƣ, cổ đông
và những ngƣời có lợi ích liên quan. Nói gọn lại, QTCT là mô hình cân bằng và
kiềm chế quyền lực giữa các bên liên quan của công ty, hƣớng tới sự phát triển dài
hạn của công ty.
Quản trị chi nhánh: Chúng ta đã có một số khái niệm về vấn đề quản trị
trong công ty. Quản trị chi nhánh là hoạt động quản lý của công ty mẹ hoặc hội sở
chính với chi nhánh, đảm bảo sự phát triển bền vững cho các chi nhánh cũng nhƣ
của toàn bộ công ty.
Để hiểu hơn về hoạt động quản trị chi nhánh của ngân hàng đa quốc gia,
chúng ta tìm hiểu một số đặc điểm chung trong việc quản trị chi nhánh của ngân
hàng đa quốc gia nhƣ sau:
Những sự khác biệt cơ bản đó là:
Thứ nhất, đó là sự khác biệt về hệ thống tiền tệ: vấn đề mà các ngân hàng đa
quốc gia rất chú trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh và hoạt động quản trị
chi nhánh trên phạm vi toàn cầu là vấn đề quản lý tài chính giữa các chi nhánh trên
toàn thế giới và vấn đề hợp nhất tài chính giữa các chi nhánh với công ty mẹ. Do
môi trƣờng hoạt động kinh doanh giữa các chi nhánh và Hội sở chính là khác nhau,
các chi nhánh sử dụng các loại tiền tệ khác nhau, áp dụng các hệ thống kế toán khác
nhau Trong vấn đề quản lý tài chính, các chi nhánh hoạt động tại các nƣớc ghi
nhận các dòng lƣu thông tiền tệ luân chuyển vào và ra thông qua các hệ thống hạch
toán kế toán theo quy định cụ thể tại nƣớc sở tại nơi có chi nhánh hoạt động. Các
nghiệp vụ tài chính phát sinh do đó phải hạch toán bằng hệ thống kế toán tại nƣớc
sở tại và tính toán trên tiền bản xứ sau đó qui đổi ra đơn vị tiền tệ thống nhất của
ngân hàng mẹ (đơn vị tiền tệ thống nhất thƣờng là ngoại tệ mạnh hoặc là loại tiền
Hội sở chính sử dụng). Nhƣ vậy, khi phân tích tình hình tài chính của ngân hàng đa 10
quốc gia cần chú ý tới các chỉ tiêu phân tích tỷ giá hối đoái hoặc phân tích ảnh
hƣởng của biến động giá trị tiền tệ hay cơ chế kế toán
Thứ hai, đó là về thể chế chính trị và kinh tế: Mỗi quốc gia có khuôn mẫu và
đặc thù kinh tế và chính trị riêng. Sự khác biệt này là một vấn đề rất quan trọng
trong các đối sách của ngân hàng đa quốc gia trong việc điều hành và quản lý các
ngân hàng con và các chi nhánh trên qui mô toàn thế giới.
Thứ ba là sự khác biệt về ngôn ngữ: Khả năng giao tiếp là yêu cầu hàng đầu
trong mọi giao dịch kinh doanh, trong đó ngôn ngữ đóng vai trò trọng yếu. Vì vậy
các ngân hàng đa quốc gia muốn bành trƣớng việc kinh doanh của mình ra khỏi
biên giới quốc gia thì vấn đề hàng đầu cần quan tâm đó là khả năng ngoại ngữ của
nƣớc sở tại.
Thứ tư là sự khác biệt về văn hoá: Mỗi nƣớc có bản sắc văn hoá riêng và ảnh
hƣởng sâu sắc tới hoạt động kinh doanh trong xã hội. Chính vì vậy, các ngân hàng
chính giữ vai trò quản lý chung, các chi nhánh là những đơn vị hạch toán độc lập
nhƣng tuân thủ các điều lệ, quy định và chính sách phát triển chung của Hội sở, tất
cả hợp thành một chỉnh thể thống nhất. Tuy nhiên, mối liên kết này là một chỉnh thể
nhƣng lại chứa đựng điểm mâu thuẫn. Trong vòng xoáy hoạt động của chúng có cả
những lực hƣớng tâm và ly tâm. Các lực hƣớng tâm liên kết các ngân hàng con,
công ty con, các chi nhánh thành một tổ hợp kinh tế quốc tế thống nhất thông qua
nhiều mối dây liên hệ, mốc nối và phụ thuộc nhau ở các mức độ nhất định. Các lực
ly tâm buộc các công ty con, ngân hàng con, các chi nhánh phải tự xây dựng và
hoạch định các chiến lƣợc kinh doanh nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao năng
lực cạnh tranh tại mỗi nƣớc trên thế giới, hoạt động độc lập với Hội sở chính.
1.1.3. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động quản trị chi nhánh của ngân hàng đa
quốc gia
Từ một số đặc điểm của ngân hàng đa quốc gia trong phần 1.1.2, chúng ta
nhận thấy một số yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến hoạt động quản trị và các quyết
định quản trị chi nhánh của ngân hàng đa quốc gia. 12
Thứ nhất là môi trường hoạt động của Ngân hàng, của Hội sở chính và các
chi nhánh. Môi trƣờng hoạt động của ngân hàng gồm có các yếu tố thuộc môi
trƣờng vĩ mô và môi trƣờng ngành. Môi trƣờng vĩ mô gồm có môi trƣờng kinh tế,
môi trƣờng chính trị, môi trƣờng pháp luật, môi trƣờng công nghệ, môi trƣờng văn
hoá xã hội. Môi trƣờng ngành gồm có các đối thủ cạnh tranh, khách hàng, các sản
phẩm mới thay thế và các đối thủ tiềm ẩn. Đối với các ngân hàng đa quốc gia thì
bên cạnh môi trƣờng vĩ mô và môi trƣờng ngành của nƣớc đặt Hội sở chính thì còn
chịu ảnh hƣởng của môi trƣờng vĩ mô và môi trƣờng ngành của các nƣớc có chi
nhánh hoạt động, có thể hiểu là môi trƣờng vĩ mô và môi trƣờng ngành quốc tế.
Trong môi trƣờng hoạt động kinh doanh với phạm vi quốc tế và chịu sự điều chỉnh
của các luật quốc gia, các điều ƣớc quốc tế, vấn đề quản trị của ngân hàng đa quốc
gia là vấn đề hết sức quan trọng. Do đó, các ngân hàng đa quốc gia, với đặc thù là
hàng đa quốc gia. Quản trị công ty đòi hỏi có những nguyên tắc nhất định thì việc
quản trị chi nhánh càng đòi hỏi phải có những nguyên tắc chặt chẽ và đầy đủ hơn.
Nguyên tắc quản trị chi nhánh của ngân hàng đa quốc gia cũng chính là các nguyên
tắc quản lý chi nhánh của một ngân hàng thƣơng mại trong phạm vi một nƣớc hoặc
cũng chính là các nguyên tắc quản lý các công ty con trong một tập đoàn tài chính.
Tìm hiểu quá trình hình thành, tồn tại, phát triển, liên kết hoặc tích hợp các tập đoàn
trong lịch sử phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới, có thể nhận thấy ở
mỗi nƣớc tuỳ theo đặc thù kinh tế của mình đều có những mô hình và nguyên tắc
quản trị riêng và khác biệt. Nhƣng cũng có thể rút ra đƣợc một số nguyên tắc chung
và mang tính quyết định tới sự thành công của các mô hình quản trị này.
Thứ nhất, trong quá trình quản trị chi nhánh, phải xác định được quy trình
hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng, từ Hội sở tới các chi nhánh, bảo đảm tính
thống nhất và chặt chẽ trong tổ chức. Đó có thể là hệ thống quản lý tài chính rành
mạch trong trƣờng hợp ngân hàng đa quốc gia có các công ty con, ngân hàng, chi
nhánh hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Cũng có thể là Hội sở chính quản 14
lý mọi hoạt động của các công ty con và các chi nhánh: từ các vấn đề nhƣ chiến
lƣợc và định hƣớng phát triển của các chi nhánh cho tới các hoạt động hàng ngày
của các chi nhánh. Nói tóm lại, khi quản trị chi nhánh, các ngân hàng đa quốc gia
phải xác định đƣợc các công ty con, ngân hàng con và các chi nhánh trong hệ thống
ngân hàng sẽ đƣợc quản lý và liên kết với nhau theo nguyên tắc nào.
Thứ hai, đảm bảo tính độc lập và tự chủ trong một thể thống nhất. Với
nguyên tắc này, phải bảo đảm đồng thời tính thống nhất về vấn đề độc lập, tự chủ
trong hoạch toán và các hoạt động kinh doanh của các chi nhánh, công ty con, ngân
hàng con với Hội sở chính. Để làm đƣợc điều này đòi hỏi các ngân hàng đa quốc
gia phải thiết lập mối quan hệ thị trƣờng rạch ròi giữa các chi nhánh trong ngân
hàng, trong vấn đề quản lý tài chính, quản lý vốn đầu tƣ cũng nhƣ vấn đề về quản lý
và điều phối cổ phần.
về mức độ đầy đủ vốn của họ theo danh mục rủi ro và thiết lập các chiến lƣợc đúng
đắn nhằm duy trì mức vốn đó.
Nguyên tắc thứ ba: các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách
thích đáng theo nguyên tắc thị trƣờng. Với nguyên tắc này, Basel II đƣa ra một danh
sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai và minh bạch thông tin từ
những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan
đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trƣờng, rủi ro tác
nghiệp và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này.
Ngoài một số nguyên tắc cơ bản của Basel, trong quá trình quản trị chi nhánh
mỗi ngân hàng đa quốc gia còn xây dựng những nguyên tắc quản lý đặc thù tuỳ theo
mục đích quản trị chiến lƣợc của ngân hàng đó.
1.3. Một số mô hình quản trị chi nhánh cơ bản của ngân hàng đa quốc gia
1.3.1. Định hƣớng tiếp cận về quản trị chi nhánh trong các ngân hàng đa quốc gia
Từ các đặc điểm về ngân hàng đa quốc gia nhƣ đã tìm hiểu trong mục 1.1.2,
chúng ta sẽ đi tới các hƣớng tiếp cận về quản trị chi nhánh trong các ngân hàng đa
quốc gia. Để hiểu hơn về ngân hàng đa quốc gia, chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn về cấu 16
trúc tổ chức và các loại hình ngân hàng đa quốc gia chủ yếu trên thế giới. Hiện nay
trên thế giới, ngân hàng đa quốc gia có các cấu trúc tổ chức chủ yếu sau:
Mô hình ngân hàng đa năng (Universal banking): Mô hình ngân hàng đa năng
là mô hình tập đoàn ngân hàng xuất hiện sớm ở Anh và Mỹ. Ở Mỹ, loại hình tập
đoàn này là sản phẩm của Đạo luật Glass – Steagall Act năm 1933. Các ngân hàng
lớn thƣờng có xu hƣớng hoạt động nhƣ những ngân hàng toàn cầu trong khi một số
tổ chức nhỏ hơn lại tập trung vào phát triển thành những ngân hàng thƣơng mại
chuyên biệt hoặc ngân hàng đầu tƣ. Mô hình ngân hàng đa năng cũng là mô hình
ngân hàng phổ biến nhất ở Châu Âu. Với mô hình này, các cổ đông của ngân hàng
trực tiếp quản lý các hoạt động kinh doanh ngân hàng, kinh doanh chứng khoán,
kinh doanh bảo hiểm và không có sự phân biệt về quản lý vốn giữa các lĩnh vực.
điều kiện cho các cổ đông dễ dàng nắm bắt các hoạt động của ngân hàng. Tuy
nhiên, mô hình này có nhƣợc điểm là không mang lại sự thuận tiện cho khách hàng
và không nắm bắt thông tin nhanh nhƣ mô hình ngân hàng đa năng.
Mô hình công ty mẹ nắm vốn thuần tuý (Holding company): Trong mô hình
này, ngân hàng mẹ sở hữu cổ phần của các công ty con hoặc các chi nhánh. Ngân
hàng mẹ chủ yếu thƣờng chỉ thực hiện hoạt động đầu tƣ tài chính và chịu trách
nhiệm quản lý các chi nhánh hoặc công ty con trên từng lĩnh vực. Mô hình này có
ƣu điểm là có thể giảm thiểu rủi ro cho các chủ sở hữu, cho phép họ sở hữu và kiểm
soát số lƣợng các chi nhánh khác nhau. Mô hình này là mô hình của một số tập
đoàn ngân hàng đa quốc gia nhƣ Citigroup, HSBC Các cổ đông của công ty mẹ
không trực tiếp quản lý hoạt động của các công ty con. Do đó, rủi ro của lĩnh vực
này không ảnh hƣởng đến hoạt động của lĩnh vực khác. Mô hình này rất phổ biến
trong các tập đoàn tài chính quốc tế ở Mỹ và Nhật Bản.
Nhƣ vậy, có ba loại hình ngân hàng đa quốc gia chính đó là ngân hàng hoạt
động trong lĩnh vực ngân hàng đơn ngành, không chịu sự quản lý hay thuộc sở hữu
của công ty hay tập đoàn khác. Loại hình ngân hàng thứ hai là ngân hàng thuộc sở
hữu và chịu sự quản lý của một tập đoàn hay công ty khác. Loại hình thứ ba là ngân
hàng liên kết với các ngân hàng hay công ty khác nhƣng hoạt động độc lập với công 18
ty liên kết. Các chi nhánh của ngân hàng hoạt động tại nhiều nƣớc trên thế giới và
chỉ chịu sự quản lý của ngân hàng này.
1.3.2. Một số mô hình quản trị chi nhánh cơ bản của ngân hàng đa quốc gia
Qua cách tiếp cận trong phần 1.3.1, chúng ta thấy các ngân hàng, công ty
con, chi nhánh trong ngân hàng đa quốc gia có mối quan hệ khác nhau với ngân
hàng mẹ nhƣng có một điểm chung đó là các ngân hàng con, các chi nhánh trong
ngân hàng đa quốc gia luôn nhân danh ngân hàng mẹ để thiết lập các mối quan hệ
kinh doanh với các đối tác bên ngoài. Mặt khác, quan hệ giữa các ngân hàng con,
công ty con và các chi nhánh của ngân hàng đa quốc gia với nhau là dựa trên quan
xuống một cấp trực tiếp, không đầu tƣ xuống cấp xa hơn. Trong đầu tƣ đồng cấp,
các chi nhánh trong cùng một cấp đầu tƣ qua lại. Trong mô hình đa cấp, các chi
nhánh, đặc biệt là ngân hàng mẹ, vừa đầu tƣ trực tiếp vào các chi nhánh con, đồng
thời cũng đầu tƣ trực tiếp vào các chi nhánh “cháu”, “chắt” ở dƣới, không thông qua
chi nhánh trung gian nào. Cuối cùng, mô hình hỗn hợp là mô hình phối hợp nhiều
hình thức đầu tƣ (đơn cấp, đồng cấp, đa cấp) giữa các chi nhánh trong ngân hàng.
2. Theo cơ chế liên kết kinh doanh: Ngân hàng đa quốc gia có thể lựa chọn mô
hình quản trị chi nhánh theo các mô hình: liên kết theo chiều dọc, liên kết theo
chiều ngang và liên kết hỗn hợp. Liên kết theo chiều dọc là mô hình liên kết các chi
nhánh hoạt động trong cùng một chuỗi giá trị ngành. Liên kết theo chiều ngang là
sự kết hợp giữa các chi nhánh có các sản phẩm, dịch vụ liên quan với nhau và có thể
sử dụng cùng một hệ thống phân phối để gia tăng hiệu quả. Mối liên kết này tạo
điều kiện đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, tận dụng hệ thống phân phối để tiết kiệm
chi phí, phân tán rủi ro. Liên kết hỗn hợp là sự kết hợp của cả hai dạng liên kết dọc
và ngang.
3. Theo cơ chế quản lý: Ngân hàng đa quốc gia quản lý chi nhánh theo các mô
hình: quản lý tập trung, quản lý phân tán hoặc quản lý hỗn hợp. Trong mô hình
quản lý tập trung, quyền lực đƣợc tập trung ở cơ quan đầu não, thƣờng là tại ngân
hàng mẹ. Ngân hàng mẹ quản lý tất cả các hoạt động của các chi nhánh. Trong mô
hình quản lý phân tán, ngân hàng mẹ chỉ đƣa ra định hƣớng và kiểm soát lại các
định hƣớng đã đặt ra vào cuối quý hoặc cuối năm tài chính và giao quyền tự chủ 20
hoạt động cho các chi nhánh. Với định hƣớng chung của ngân hàng mẹ, các chi
nhánh đƣợc phép tự chủ trong tất cả các hoạt động kinh doanh của chi nhánh mình
nhƣ việc đƣa ra các mục tiêu phát triển, các quy định, chính sách về tài chính, đầu
tƣ, nhân sự… Trong mô hình quản lý hỗn hợp, ngân hàng mẹ vừa giao quyền tự chủ
cho các chi nhánh, vừa thâu tóm quyền lực tại một số lĩnh vực trọng yếu trong các
hoạt động kinh doanh ngân hàng.
lƣợng. Nghiên cứu định tính thƣờng đƣợc sử dụng trƣớc nghiên cứu định lƣợng để
xác định các biến thích hợp có thể đƣợc đo lƣờng sau đó. Ngƣợc lại, nghiên cứu
định lƣợng dùng để khám phá sự khác nhau giữa các nhóm nghiên cứu thông qua
phân tích dữ liệu bằng các công cụ đo lƣờng hiện đại. Việc quyết định lựa chọn một
trong hai phƣơng pháp trên hoặc cả hai phƣơng pháp tuỳ thuộc vào bản chất vấn đề
nghiên cứu và hiện tƣợng nghiên cứu.
Để đánh giá bất kỳ chỉ tiêu nào, chúng ta đều thực hiện qua bốn bƣớc. Trong
khuôn khổ của luận văn là đánh giá hiệu quả quản trị chi nhánh tại ngân hàng đa
quốc gia, chúng ta có bốn bƣớc nhƣ sau:
Với đối tƣợng nghiên cứu của đề tài thì mục tiêu đánh giá là đánh giá hiệu
quả quản trị chi nhánh tại ngân hàng đa quốc gia. Để xây dựng đƣợc bảng chỉ tiêu
đánh giá hiệu quả quản trị chi nhánh của các ngân hàng đa quốc gia, chúng ta sẽ tiến
hành một số phƣơng pháp định tính và định lƣợng nhằm xác định đƣợc các chỉ tiêu,
với phƣơng pháp này sẽ cho chúng ta kết quả hiệu quả nhất.
Phương pháp thứ nhất: Sử dụng bảng câu hỏi điều tra (questionaires). Bảng
câu hỏi điều tra là một công cụ nghiên cứu bao gồm một loạt các câu hỏi liên quan
đến đề tài nghiên cứu nhằm mục đích thu thập thông tin từ những ngƣời trả lời.
Bảng câu hỏi điều tra trong luận văn này là một bảng câu hỏi nghiên cứu định
Xác định mục
tiêu đánh giá
Xây dựng các
tiêu chí đánh giá
Triển khai đánh
giá các tiêu chí Đánh giá kết
quả đạt đƣợc
các chuyên gia dẫn tới việc đánh giá trở nên khó khăn hơn. 23
Phương pháp thứ tư: Phương pháp xử lý số liệu. Thông tin thu thập từ bảng
câu hỏi điều tra là các thông tin sơ cấp (tức là thông tin chƣa hiện hữu), tồn tại ở hai
dạng chính đó là thông tin định tính và thông tin định lƣợng. Thông tin trong nghiên
cứu định tính không có ý nghĩa về mặt thống kê còn quá trình phân tích và xử lý chỉ
dừng ở chỗ phân tổ hợp, phân nhóm những ý tƣởng quan điểm khác biệt và không
đòi hỏi nhiều sự hỗ trợ của các công cụ và kiến thức thống kê. Ngƣợc lại với các
thông tin nghiên cứu định lƣợng lại đòi hỏi nhiều kỹ năng và kiến thức phân tích
thống kê để tổ chức và phân tích. Phần mềm SPSS (Statistical Package for Social
Science - Phƣơng pháp phân tích số liệu khoa học) là một công cụ hữu hiệu để xử lý
và phân tích các thông tin định lƣợng này. Phần mềm SPSS là phần mềm chuyên
dụng xử lý thông tin sơ cấp (thông tin thu đƣợc trực tiếp từ đối tƣợng nghiên cứu
(ngƣời trả lời bằng câu hỏi thông qua một bảng câu hỏi đƣợc thiết kế sẵn). Thông
tin đƣợc xử lý là thông tin định lƣợng, có ý nghĩa về mặt thống kê. Nhƣ vậy, số liệu
thu thập đƣợc từ bảng câu hỏi điều tra của luận văn này sẽ đƣợc xử lý và phân tích
qua phần mềm SPSS phiên bản 17 dành cho Windows.
Thông qua một số phƣơng pháp ở trên, ngƣời viết đã thu thập đƣợc một số
chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản trị chi nhánh của ngân hàng đa quốc gia. Hiệu quả
quản trị chi nhánh ngân hàng đa quốc gia đƣợc thể hiện thông qua hiệu quả quản trị
tổng hợp của toàn bộ ngân hàng đa quốc gia đó. Mỗi ngân hàng đa quốc gia có các
mô hình và quy trình quản trị chi nhánh khác nhau, có hệ thống quy định điều hành
chi nhánh khác nhau. Tuy nhiên, các mô hình và quy trình quản trị chi nhánh tại các
ngân hàng đa quốc gia đều tập trung vào các vấn đề quản trị cốt lõi của ngân hàng
nhƣ quản trị hoạt động chung, quản trị tài chính, quản trị sản phẩm và dịch vụ, quản
trị nhân sự, quản trị công nghệ và quản trị rủi ro đối với các chi nhánh. Cụ thể:
1.4.1. Chỉ tiêu đánh giá về hoạt động quản trị chung đối với các chi nhánh
Môi trƣờng kinh doanh của ngân hàng đa quốc gia là môi trƣờng kinh doanh
huống diễn biến của thị trƣờng
Nhƣ vậy, có thể tóm lƣợc lại một số tiêu chí đánh giá hoạt động quản trị
chung trong Bảng 1.1 dƣới đây.