BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
TRỊNH THỊ NGÀ
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG
SÀI GÒN – HÀ NỘI (SHB) TRONG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ
THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Thƣơng mại
Mã số : 60.34.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THƢƠNG MẠI
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Đặng Thị Nhàn
Hà Nội - 2010 MỤC LỤC
2.3. Năng lực cạnh tranh trong hoạt động tài trợ thƣơng mại quốc tế của SHB 45
2.3.1 Năng lực tài chính 45
2.3.2 Năng lực phi tài chính 48
2.4 Đánh giá chung về hoạt động tài trợ TMQT của SHB và năng lực cạnh tranh của
SHB trong hoạt động này 52
2.4.1 Những kết quả đạt được 52
2.4.2 Những bất cập, hạn chế và nguyên nhân 54
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÂN HÀNG SÀI GÒN – HÀ NỘI TRONG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ
THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ 63
3.1 Xu hƣớng phát triển hoạt động tài trợ thƣơng mại quốc tế của các Ngân hàng
thƣơng mại tại Việt Nam 63
3.1.1 Bối cảnh kinh tế tài chính quốc tế 63
3.1.2 Xu hướng phát triển hoạt động tài trợ TMQT của các NHTM tại Việt Nam 64
3.2 Định hƣớng phát triển hoạt động tài trợ TMQT tại SHB 66
3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của SHB trong hoạt động
tài trợ TMQT tại Việt Nam 66
3.3.1 Nhóm giải pháp nâng cao năng lực tài chính 66
3.3.2 Nhóm giải pháp về quản trị điều hành 68
3.3.3 Nhóm giải pháp về nghiệp vụ tài trợ TMQT 72
3.3.4 Nhóm giải pháp liên quan đến nhân sự và công nghệ ngân hàng 74
3.3.5 Nhóm giải pháp liên quan đến hoạt động Marketing và chính sách chăm sóc
khách hàng 76
3.4 Đề xuất một số kiến nghị 77
3.4.1 Đối với Chính phủ và các bộ ngành 77
3.4.2 Đối với NHNN Việt Nam 79
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TTR
: Phƣơng thức chuyển tiền
WTO
: Tổ chức thƣơng mại thế giới (World Trade Organization)
UCP 600
: Các quy tắc thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ số 600
(Uniform Custom and Pratice for the Documentary Credit No 600)
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu tổ chức của SHB 30
Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn của SHB giai đoạn 2007-2009 31
trƣởng và phát triển kinh tế, nâng cao vị thế của đất nƣớc trong nền kinh tế toàn cầu.
Việt Nam từ nền kinh tế lạc hậu và kém phát triển chuyển sang xây dựng nền
kinh tế thị trƣờng thì việc mở rộng buôn bán, quan hệ với nƣớc ngoài là hết sức cần
thiết. Vì vậy, Đảng và Nhà nƣớc ta luôn quyết tâm thực hiện công cuộc đổi mới
theo hƣớng "mở cửa" nền kinh tế hƣớng mạnh về xuất khẩu, không ngừng mở rộng
quan hệ hợp tác toàn diện với các nƣớc trên thế giới, phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc. Nhờ vậy,
hoạt động ngoại thƣơng nói chung và hoạt động XNK nói riêng của Việt Nam trong
thời gian qua đã đạt đƣợc những thành tựu đáng kể và ngày càng khẳng định vị trí
của mình trong toàn bộ nền kinh tế.
Để tiếp tục đẩy mạnh hoạt động kinh doanh XNK cần phải nâng cao chất lƣợng
và đa dạng hoá các mặt hàng, muốn vậy có sự đầu tƣ thích đáng cho quá trình sản
xuất, kinh doanh cũng nhƣ đổi mới công nghệ, máy móc, trang thiết bị. Nhƣng trên
thực tế, vốn của các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trên lĩnh vực này còn ít ỏi,
không thể giúp cho các doanh nghiệp tự đổi mới công nghệ nâng cao chất lƣợng.
Xuất phát từ thực tế này và để đạt đƣợc mục tiêu của Đảng và Nhà nƣớc đề ra, các
doanh nghiệp XNK rất cần có sự hỗ trợ của các Ngân hàng thƣơng mại (NHTM)
với tƣ cách là trung tâm cung ứng vốn và tài trợ cho các hoạt động thƣơng mại quốc
tế (TMQT).
Thực tế hiện nay cho thấy các NHTM nói chung và Ngân hàng TMCP Sài Gòn
– Hà Nội (SHB) nói riêng mặc dù đã chú trọng tới hoạt động tài trợ TMQT song
vẫn chƣa thể đáp ứng đƣợc nhu cầu ngày càng tăng về vốn ngắn, trung và dài hạn từ 2
phía các doanh nghiệp XNK. Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Nâng cao năng lực
cạnh tranh của Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) trong hoạt động tài trợ thương
mại quốc tế tại Việt Nam " làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình
2. Tình hình nghiên cứu:
Ở Việt Nam hoạt động tài trợ TMQT tại các NHTM đã đƣợc chọn làm đề tài
6. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đƣợc mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng các phƣơng
pháp nghiên cứu sau đây:
– Các phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết: Phƣơng pháp phân tích và tổng hợp lý
thuyết, phƣơng pháp mô hình hóa.
– Các phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn : Phƣơng pháp điều tra, phƣơng pháp
phân tích.
7. Kết cấu:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng:
Chương 1 - Những vấn đề lý luận về tài trợ thương mại quốc tế của Ngân hàng
thương mại
Chương 2 - Thực trạng năng lực cạnh tranh trong hoạt động tài trợ thương mại
quốc tế của Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội
Chương 3 - Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Sài
Gòn – Hà Nội trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
4
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÀI TRỢ
THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
các hình thức hỗ trợ về mặt tài chính của các NHTM cho các doanh nghiệp tham gia
hoạt động TMQT nhằm mục đích kiếm lời. [1]
Nhƣ vậy, tài trợ thƣơng mại của NHTM về bản chất chính là sự hỗ trợ của
NHTM cho các doanh nghiệp XNK dƣới hình thức cung ứng vốn và các hình thức
khác nhằm giúp các doanh nghiệp này thực hiện thành công các thƣơng vụ và gia
tăng hiệu quả kinh doanh trong TMQT.
1.1.2. Vai trò của Ngân hàng thương mại trong hoạt động tài trợ thương mại
quốc tế
Nhƣ chúng ta biết, hàng hóa dịch vụ đƣợc đƣa vào lƣu thông là kết quả của
cả một quá trình. Trên thực tế, không phải lúc nào các doanh nghiệp XNK cũng đủ
vốn để hoạt động TMQT. Do vậy, muốn có sản phẩm chất lƣợng cao, chi phí rẻ,
hợp với thị hiếu tiêu dùng của xã hội và có khả năng cạnh tranh thì phải tài trợ cho
một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản
phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng. Măt khác, hoạt động kinh doanh
thƣơng mại quốc tế là nhằm vào các thị trƣờng nƣớc ngoài. Phong tục, tập quán,
luật lệ, môi trƣờng đều rất khác với thị trƣờng trong nƣớc, cho nên không thể
tránh khỏi rủi ro, ảnh hƣởng xấu đến kết quả kinh doanh thƣơng mại. Do vây, sự tài
trợ cho các doanh doanh kinh doanh TMQT, cụ thể là các doanh nghiệp XNK là hết
sức cần thiết.
Xác định đƣợc tầm quan trọng của TMQT đối với sự phát triển của nền kinh
tế đất nƣớc, chính phủ cũng đã thực hiện rất nhiều biện pháp cả trực tiếp và gián
tiếp để tài trợ cho hoạt động XNK. Tuy nhiên, với việc trở thành thành viên của
WTO, Việt Nam đang hoạt động trên một sân chơi bình đẳng, đƣợc bảo vệ các
quyền và lợi ích chính đáng của mình nhƣng đồng thời cũng phải có nghĩa vụ thực
hiện đầy đủ các luật chơi của WTO. Các chính sách, hình thức hỗ trợ xuất khẩu mà
Việt Nam áp dụng trong thời gian trƣớc phải nhanh chóng đƣợc thu hẹp và dỡ bỏ
theo các cam kết gia nhập WTO. Chính vì thế, một khi chính phủ không đƣợc can
thiệp sâu vào việc tài trợ TMQT thì sự tham gia của các tổ chức tài chính mà đặc
biệt là NHTM là tất yếu và hết sức cần thiết. Với các dịch vụ thuận tiện và nguồn
- Tài trợ hoạt động xuất khẩu: 7
Tài trợ xuất khẩu là loại hình tài trợ ở khâu lƣu thông, tùy theo loại hàng hóa
xuất khẩu mà thời hạn tín dụng dài ngắn khác nhau, có thể tài trợ bằng đồng Việt
Nam hoặc ngoại tệ. Hoạt động này thƣờng đƣợc chia theo hai công đoạn của quá
trình sản xuất và quá trình lƣu thông: tài trợ xuất khẩu trƣớc khi giao hàng dƣới
hình thức cho vay và tài trợ xuất khẩu sau khi giao hàng dƣới hình thức chiết khấu
bộ chứng từ hoặc cho vay ứng trƣớc tiền hàng.
Tài trợ xuất khẩu trước giao hàng là loại hình tín dụng mà Ngân hàng cấp
cho doanh nghiệp xuất khẩu vay vốn để mua nguyên nhiên vật liệu (đầu vào), sản
xuất, chế biến hàng hóa xuất khẩu; chủ yếu dƣới hình thức cho vay ngắn hạn – tài
trợ vốn lƣu động. Hình thức này thông thƣờng đƣợc áp dụng trong trƣờng hợp Ngân
hàng tài trợ vừa là Ngân hàng thanh toán cho L/C xuất, nhà xuất khẩu xuất trình bộ
chứng từ và đƣợc thanh toán tại ngân hàng.
Tài trợ xuất khẩu sau giao hàng là loại tín dụng cấp cho doanh nghiệp sản
xuất hàng xuất khẩu khi đã có bộ chứng từ gửi hàng. Từ lúc giao hàng, nộp bộ
chứng từ vào ngân hàng thông báo L/C cho đến khi đƣợc ghi Có trên tài khoản phải
trải qua một khoảng thời gian nhất định để xử lý và luân chuyển chứng từ. Nhà xuất
khẩu cần tiền có thể thƣơng lƣợng bộ chứng từ để chiết khấu hoặc ứng trƣớc tiền tại
ngân hàng đã đƣợc chỉ định rõ trong L/C hoặc ở bất kỳ ngân hàng nào. Để đảm bảo
cho khoản tín dụng thu hồi nợ dễ dàng nhanh chóng, NHTM thƣờng yêu cầu các
L/C xuất của khách hàng phải đƣợc thông báo qua ngân hàng, ngân hàng tài trợ vừa
là ngân hàng thông báo hoặc vừa là ngân hàng thanh toán L/C, đƣợc thể hiện qua
các hình thức sau:
- Tài trợ hoạt động nhập khẩu:
NHTM cho các doanh nghiệp vay vốn để thực hiện phƣơng án nhập khẩu máy
móc thiết bị hoặc hàng hóa nhằm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Căn cứ
vào nhu cầu vốn, phƣơng án kinh doanh, khả năng trả nợ và giá trị tài sản đảm bảo
đặc biệt dành cho nhà nhập khẩu. 9
- Theo quy định của UCP 600, sau khi ngân hàng phát hành trả tiền cho nhà
xuất khẩu thì ngân hàng mới đòi lại tiền nhà nhập khẩu, nhƣ vậy ở góc độ này, ngân
hàng đã cho nhà nhập khẩu vay tiền. Với ý nghĩa này, ngân hàng đã trực tiếp tài trợ
chính cho nhà nhập khẩu. [3]
Rõ ràng, đây là hình thức tài trợ của ngân hàng dành cho các nhà nhập khẩu
trong trƣờng hợp Khách hàng không ký quỹ 100% giá trị L/C. Thực tế, rất hiếm
trƣờng hợp Khách hàng chịu ký quỹ 100% giá trị L/C nên chủ yếu các NHTM mở
L/C trên cơ sở cấp hạn mức tín dụng cho khách hàng. Ký quỹ L/C đƣợc coi là một
hình thức bắt buộc tại NHTM nhằm bảo đảm khách hàng nhận hàng và thanh toán
L/C. Thông thƣờng mức ký quỹ cao hay thấp phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Khả năng thanh toán của khách hàng: khả năng thanh toán của khách hàng
càng cao mức ký quỹ càng thấp và ngƣợc lại.
- Đối tƣợng khách hàng: khách hàng có uy tín đối với ngân hàng thì mức ký
quỹ thấp và ngƣợc lại.
- Loại L/C: L/C trả chậm thì mức ký quỹ thƣờng thấp hơn L/C trả ngay, vì
mục đích L/C trả chậm là để vay vốn nƣớc ngoài, thời gian khá dài, mức ký quỹ cao
sẽ làm ứ đọng vốn của khách hàng.
- Loại hàng hoá nhập, khả năng tiêu thụ hàng và tình hình biến động giá cả
hàng hoá trên thị trƣờng. Những mặt hàng dễ tiêu thụ, thị trƣờng ổn định, giá cả ít
biến động thì mức ký quỹ có thể thấp.
1.1.3.3 Tài trợ dưới hình thức Chiết khấu hối phiếu
Theo quy định tại Khoản 14 Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam
(đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2004), chiết khấu là việc tổ chức tín dụng mua thƣơng
phiếu, giấy tờ có giá khác của ngƣời thụ hƣởng trƣớc khi đến hạn thanh toán.
Hối phiếu là một mệnh lệnh đòi tiền vô điều kiện do ngƣời xuất khẩu ký phát
cho ngƣời nhập khẩu hoặc ngân hàng của ngƣời nhập khẩu, yêu cầu ngƣời này khi
khả năng tài chính để thanh toán và mức độ tín nhiệm của nhà nhập khẩu, do vậy 11
nhà xuất khẩu sẽ yêu cầu nhà nhập khẩu phải có một tổ chức thƣờng là ngân hàng
đứng ra bảo lãnh thanh toán. Ngƣợc lại, do không biết rõ hoặc không tin tƣởng
nhau, nhà nhập khẩu có thể yêu cầu nhà xuất khẩu có ngân hàng đứng ra bảo lãnh
giao hàng hoặc bảo lãnh thực hiện hợp đồng Lợi thế của các bên trong nghiệp vụ này:
- Đối với nhà nhập khẩu: đƣợc hƣởng một khoản vốn từ nhà xuất khẩu không
phải trả lãi (thực chất có thể giá bán đã tính vào lãi rồi). Chỉ phải trả một khoản phí
cho ngƣời bảo lãnh.
- Đối với nhà xuất khẩu: hoàn toàn yên tâm đến hạn sẽ đƣợc thanh toán nợ.
Nếu cần tiền, nhà xuất khẩu có thể đem bộ chứng từ chiết khấu tại ngân hàng khác.
- Đối với ngân hàng bảo lãnh: với bất cứ ngân hàng nào khi tiến hành nghiệp
vụ bảo lãnh có nghĩa là có đƣợc sự tín nhiệm về uy tín của bên nhập khẩu và bên
xuất khẩu. Khi bảo lãnh cho khách hàng, ngân hàng không phải bỏ ra một khoản
vốn nào cả mà chỉ lấy uy tín, danh dự của ngân hàng làm cơ sở đảm bảo sẽ thực hiện
nghĩa thay.
1.1.3.5 Tài trợ dưới hình thức Cho thuê tài chính
Theo quy định tại Khoản 11 Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam
(đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2004), cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung
hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính giữa bên cho thuê là tổ chức tín
dụng với khách hàng thuê.
Cụ thể hoá những đặc trƣng của nghiệp vụ cho thuê tài chính, quy định của
pháp luật hiện hành ghi nhận giao dịch cho thuê tài chính phải có một trong những
dấu hiệu sau đây:
- Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê đƣợc chuyển quyền
sở hữu tài sản thuê hoặc đƣợc tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên;
- Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê đƣợc quyền ƣu tiên
mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời
cho thuê có khả năng dịch chuyển về cơ bản tất cả những rủi ro và lợi ích gắn liền
với quyền sở hữu tài sản”.
Cho thuê tài chính quốc tế là một thỏa thuận hợp đồng trong đó bên đi thuê
đƣợc sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê và thực hiện chi trả các 13
khoản tiền định kỳ đƣợc quy định cụ thể trong hợp đồng cho thuê. Bên đi thuê có
thể thuê từ công ty cho thuê nội địa thông qua việc công ty này nhập khẩu đối tƣợng
thuê từ nhà xuất khẩu nƣớc ngoài, hoặc có thể thuê trực tiếp từ công ty cho thuê
nƣớc ngoài.
Điểm mấu chốt của hợp đồng thuê mua tài chính quốc tế là quyền sở hữu về
mặt pháp lý đối với tái sản của công ty cho thuê đƣợc tách khỏi việc sử dụng về mặt
kinh tế của tài sản đó (do bên đi thuê nắm giữ). Công ty cho thuê tập trung xem xét
khả năng của bên đi thuê trong việc tạo ra số thu đủ để chi trả tiền thuê chứ không
dự vào lịch sử tín dụng, tài sản hay số vốn của bên đi thuê. Bên thuê sử dụng tài sản
thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời gian thuê đã đƣợc hai bên thỏa thuận và
không đƣợc hủy bỏ hợp đồng trƣớc hạn. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê có thể
mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp
đồng thuê.
1.1.3.6 Tài trợ dưới hình thức Bao thanh toán
Tại Việt Nam, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 1096/2004/QĐ-
NHNN về Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên
theo quy định của Quy chế, Bao thanh toán chỉ là từ dịch của riêng Factoring, còn
Fofaiting lại chƣa có một tên gọi chuẩn bằng Tiếng Việt. Vì vậy, một số nhà kinh tế
có quan điểm muốn giữ nguyên từ Factoring và Fofaiting, đồng thời Factor và
Fofaiter lần lƣợc đƣợc hiểu là các nhà cung cấp dịch vụ Factoring và Forfaiting nói
trên mà không dịch tƣơng đƣơng sang tiếng Việt. Quan điểm của tác giả là thuật
ngữ Bao thanh toán bao gồm cả Factoring và Fofaiting.
Bao thanh toán Factoring là một cơ chế tài trợ vốn ngắn hạn, là sự thỏa
+ Rủi ro chính trị do chiến tranh, bạo động, đảo chính gây ra khiến ngân
hàng và nhà nhập khẩu mất khả năng thanh toán
+ Rủi ro chuyển tiền khi mà chính phủ ở nƣớc nhập khẩu có thể quy định các
luật lệ hạn chế, ngăn cấm việc chuyển tiền ra nƣớc ngoài [1].
1.1.4 Ý nghĩa hoạt động tài trợ thương mại quốc tế của Ngân hàng thương mại
1.1.4.1 Đối với Ngân hàng thương mại
Đứng trên khía cạnh của ngân hàng, hoạt động tài trợ TMQT chiếm một vị
trí quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của hoạt động kinh doanh ngân
hàng. Bởi lẽ việc tài trợ TMQT không chỉ đơn thuần là cung cấp các dịch vụ và đáp 15
ứng nguồn vốn cho hoạt động XNK mà nó còn liên quan đến nhiều nghiệp vụ quan trọng
khác của ngân hàng nhƣ: thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, huy động vốn…
Ngoài ra, hoạt động tài trợ thƣơng mại quốc tế của NHTM có kỳ hạn gắn liền
với thời gian thực hiện thƣơng vụ, đối tƣợng tài trợ là các doanh nghiệp XNK trực
tiếp hoặc ủy thác. Đây là hình thức tài trợ mang lại hiệu quả cao, an toàn, đảm bảo
sử dụng vốn đúng mục đích và thời gian thu hồi vốn nhanh.
Thời gian tài trợ chủ yếu là ngắn hạn do gắn liền với thời gian thực hiện
thƣơng vụ, thƣờng kể từ lúc gom hàng, xuất hàng cho đến lúc nhận đƣợc tiền thanh
toán của ngƣời mua. Đối với ngƣời nhập khẩu thời gian này kể từ lúc nhận hàng tại
cảng cho đến khi bán hết hàng và thu tiền về. Kỳ hạn tài trợ ngắn phù hợp với kỳ
hạn huy động vốn của các NHTM thƣờng là dƣới một năm. Điều này giúp ngân
hàng tránh đƣợc rủi ro về thanh khoản.
Tài trợ TMQT đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích. Đồng vốn tài trợ gắn
liền với thƣơng vụ. Trong nhiều trƣờng hợp, vốn tài trợ đƣợc thanh toán thẳng cho
bên thứ ba mà không qua bên xin tài trợ nhƣ thanh toán tiền hàng nhập khẩu, thanh
toán tiền nguyên vật liệu cho các đại lý gom hàng cho ngƣời xuất khẩu Rõ ràng
việc làm này tránh đƣợc tình trạng ngƣời xin tài trợ vốn sử dụng vốn sai mục đích,
hạn chế đƣợc rủi ro tín dụng.
doanh nghiệp trƣớc đó đã thông qua ngân hàng về việc tài trợ và thanh toán quốc tế,
có nghĩa là doanh nghiệp đã xác định ngân hàng phục vụ mình thì sẽ tạo đƣợc lợi
thế trong quá trình này. Vì, nhƣ đã rõ, hợp đồng ngoại thƣơng đƣợc thực hiện thông
qua ngân hàng phục vụ ngƣời mua và ngƣời bán, đã thỏa thuận trƣớc với ngân hàng
nghĩa là doanh nghiệp đã xác định đƣợc năng lực thực hiện hợp đồng. Điều này có ý
nghĩa quan trọng trong tiến trình thƣơng lƣợng, đàm phán.
Tài trợ TMQT làm tăng hiệu quả của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện
hợp đồng: thông qua tài trợ của ngân hàng, doanh nghiệp nhận đƣợc vốn để thực
hiện thƣơng vụ. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, vốn tài trợ giúp doanh nghiệp thu
mua hàng đúng thời vụ, gia công chế biến và giao hàng đúng thời điểm. Ngoài ra,
việc tham gia tài trợ các dự án đầu tƣ thay đổi dây chuyền công nghệ, máy móc thiết
bị của ngân hàng cũng tạo điều kiện giúp doanh nghiệp phát triển đƣợc quy mô sản
xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm. 17
Cuối cùng, tài trợ của ngân hàng giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín trên thị
trƣờng quốc tế: thông qua tài trợ của ngân hàng, doanh nghiệp thực hiện đƣợc
những thƣơng vụ lớn trôi chảy, quan hệ đƣợc với khách hàng tầm cỡ trên thế giới,
từ đó nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trƣờng thế giới.
1.1.4.3 Đối với nền kinh tế đất nước
Tài trợ TMQT của NHTM tạo điều kiện cho hàng hóa XNK lƣu thông trôi
chảy, liên tục, góp phần tăng tính năng động của nền kinh tế, ổn định thị trƣờng.
Ngoài ra, tài trợ của ngân hàng còn tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động doanh
nghiệp, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, làm động cơ thúc đẩy sự phát triển của
toàn bộ nền kinh tế.
Nhƣ vậy hoạt động tài trợ TMQT xuất hiện nhƣ là một yêu cầu khách quan
đã thể hiện đƣợc vai trò quan trọng của mình với hoạt động XNK cũng nhƣ đối với
nền kinh tế. Với sự phát triển ngày càng đa dạng và phong phú của các hình thức tài
trợ TMQT mà các NHTM Việt Nam đã cung cấp, các doanh nghiệp XNK có điều
trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
Trên thế giới, trong lĩnh vực ngân hàng, chƣa có một phƣơng pháp luận
chung đƣợc kiểm nghiệm và chứng minh để đánh giá năng lực cạnh tranh của các
ngân hàng hay hệ thống các ngân hàng. Vì vậy, việc nghiên cứu đƣa ra một hệ
thống các chỉ tiêu đáng tin cậy để đánh giá năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân
hàng, cụ thể là trong hoạt động tài trợ TMQT không phải là một việc dễ dàng.
Trong khuôn khổ đề tài này, tác giả mạnh dạn đƣa ra một số chỉ tiêu đánh giá năng
lực cạnh tranh của NHTM trong hoạt động tài trợ TMQT, bao gồm các chỉ tiêu tài
chính và chỉ tiêu phi tài chính.
1.2.2.1. Chỉ tiêu tài chính
Có thể nói, tiềm lực tài chính là thƣớc đo sức mạnh của một ngân hàng tại
một thời điểm nhất định. Tiềm lực tài chính thể hiện qua các chỉ tiêu:
Mức độ an toàn vốn và khả năng huy động vốn: Tiềm lực về vốn thể hiện
qua các chỉ tiêu cụ thể nhƣ: quy mô vốn chủ sở hữu, hệ số an toàn vốn (CAR). Hệ
số CAR đƣợc tính bằng Vốn chủ sở hữu/Tài sản có rủi ro (%), trong đó vốn chủ sở
hữu bao gồm vốn điều lệ và các quỹ, tài sản Có rủi ro bao gồm tài sản nội bảng và
ngoại bảng đƣợc điều chỉnh theo hệ số rủi ro tƣơng ứng. Tiềm lực về vốn chủ sở 19
hữu phản ánh sức mạnh tài chính của một ngân hàng và khả năng chống đỡ rủi ro
của ngân hàng đó. Cách thức mà một ngân hàng có khả năng cơ cấu lại vốn, huy
động thêm vốn cũng là một khía cạnh phản ánh tiềm lực về vốn của một ngân hàng.
Đây là một trong những nguồn lực quan trọng nhất quyết định khả năng cạnh tranh
của một ngân hàng nói chung và của hoạt động tài trợ TMQT của ngân hàng nói riêng.
Chất lượng tài sản Có phản ánh “sức khỏe” của một ngân hàng, thể hiện
thông qua các chỉ tiêu nhƣ tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản có, mức độ lập dự phòng và
khả năng thu hồi các khoản nợ xấu, mức độ tập trung và đa dạng hóa của danh mục
tín dụng, rủi ro tín dụng tiềm ẩn
Mức sinh lời là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của ngân hàng đồng thời
các yếu tố này, yếu tố về khả năng đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng là
quan trọng nhất. Khách hàng có thể sẵn sàng chi trả phí cao hơn cho một dịch vụ tốt
hơn. Hiện nay, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng về chất lƣợng sản phẩm dịch vụ
ngày càng trở nên gay gắt, vì vậy để nâng cao năng lực cạnh tranh đòi hỏi các ngân
hàng phải không ngừng hoàn thiện, nâng cao chất lƣợng sản phẩm dịch vụ hiện có,
đặc biệt là các sản phẩm dịch vụ tài trợ TMQT.
Một ngân hàng có nhiều loại hình dịch vụ cung cấp phù hợp với nhu cầu thị
trƣờng và năng lực quản lý của ngân hàng sẽ là một ngân hàng có lợi thế cạnh tranh
cao. Sự đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ tài trợ TMQT, một mặt tạo cho ngân
hàng sự phát triển ổn định hơn, mặt khác cho phép ngân hàng phát huy lợi thế nhờ
quy mô. Tất nhiên, sự đa dạng hóa cần phải đƣợc thực hiện trong tƣơng quan so với
các nguồn lực hiện có của ngân hàng và phải gắn liền với chất lƣợng và hiệu quả sử
dụng. Nếu không, việc triển khai quá nhiều sản phẩm dịch vụ có thể khiến ngân
hàng kinh doanh không hiệu quả do dàn trải quá mức các nguồn lực.
Thứ hai: Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nguồn lực không thể thiếu của bất kỳ doanh nghiệp cũng
nhƣ ngân hàng nào. Năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực nói chung thể hiện ở
những yếu tố nhƣ trình độ đào tạo, trình độ thành thạo nghiệp vụ, động cơ phấn đấu,
mức độ cam kết gắn bó với doanh nghiệp Nhân sự của một ngân hàng là yếu tố
mang tính kết nối các nguồn lực của ngân hàng đồng thời cũng là cái gốc của mọi
cải tiến hay đổi mới. Nhân lực trong hoạt động tài trợ TMQT có trình độ cao, nhiều
kinh nghiệm, và có tinh thần trách nhiệm với công việc sẽ là những ƣu thế lớn của
một ngân hàng và góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh của hoạt động
tài trợ TMQT của chính ngân hàng đó.