GVHD: PGS.TS.Lê Thanh Hải
Đồ án tốt nghiệp Th.S Hồ Thị Ngọc Hà
SVTH: Bùi Thị Hòa Viên 1
MSSV: 09B1080181 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT TIÊU CHÍ DÁN NHÃN SINH
THÁI VÀ ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ÁP DỤNG CHO
SẢN PHẨM NGÀNH CHẾ BIẾN HẠT ĐIỀU CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN HẠT VIỆT -TỈNH BÌNH
DƢƠNG
Ngành : MÔI TRƢỜNG
Chuyên ngành : KỸ THUẬT MÔI TRƢỜNG Giảng viên hƣớng dẫn : PGS.TS. LÊ THANH HẢI
Th.S: HỒ THỊ NGỌC HÀ
Sinh viên thực hiện : BÙI THỊ HÕA VIÊN
MSSV: 09B1080181 Lớp: 09HMT03
thái cho những sản phẩm thân thiện với môi trường.
Để quản lý và bảo vệ môi trường, bên cạnh các công cụ pháp luật, truyền
thông, nhiều quốc gia đã sử dụng các công cụ kinh tế mang tính mềm dẻo hơn,
trong đó sử dụng nhãn sinh thái được xem là một biện pháp thuộc nhóm công cụ
kinh tế nhằm khuyến khích người tiêu dùng và nhà sản xuất bảo vệ môi trường
thông qua việc khuyến khích sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi
trường. Việc tiếp cận trên nhiều quốc gia đã có những quy định về nhãn sinh thái
GVHD: PGS.TS.Lê Thanh Hải
Đồ án tốt nghiệp Th.S Hồ Thị Ngọc Hà
SVTH: Bùi Thị Hòa Viên 3
MSSV: 09B1080181
riêng cho mình và trên thực tế, nhãn sinh thái đã trở thành một trong những công cụ
kinh tế quan trọng để quản lý môi trường trong các doanh nghiệp có định hướng sản
phẩm góp phần thực hiện chiến lược phát triển bền vững.
Được biết đến như một vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Bình Dương là một
trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, thu hút nhiều nhà đầu tư trong
và ngoài nước, nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo
hướng phát triển công nghiệp và các dịch vụ đi kèm. Tiếp tục giữ vững tốc độ tăng
trưởng kinh tế, hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo sự
phát triển lâu dài, cân đối, bền vững trong tương lai.
Đề tài “Nghiên cứu đề xuất tiêu chí dán nhãn sinh thái và đánh giá tiềm năng
áp dụng cho sản phẩm ngành chế biến hạt điều của Công ty cổ phần Hạt Việt tỉnh
Bình Dương’’ sẽ góp phần nâng cao uy tín, khẳng định thương hiệu cho Công ty cổ
phần Hạt Việt nói riêng và tạo tiền đề cho việc áp dụng đại trà cho các doanh
nghiệp khác có cùng ngành chế biến hạt điều trên địa bàn tỉnh Bình Dương, đồng
thời góp phần vào công tác bảo vệ môi trường phục vụ mục tiêu phát triển bền vững
kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương nói riêng và Việt Nam nói chung.
2. Mục tiêu đề tài
Nghiên cứu các cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng tiêu chí và đánh giá
của nó đối với môi trường. Phương pháp này được áp dụng để đề xuất các tiêu chí
cụ thể của nhãn sinh thái cho sản phẩm hạt điều.
Phương pháp phân tích tổng hợp: Sau khi tiến hành việc khảo sát thực tế để
thu thập số liệu cụ thể và phân tích tổng hợp các số liệu, tài liệu đã thu thập được từ
đó đánh giá khả năng xây dựng chương trình dán nhãn sinh thái cho sản phẩm.
Phương pháp trao đổi ý kiến với chuyên gia: Trao đổi ý kiến với các chuyên
gia có kinh nghiệm về nhãn sinh thái, tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Sản phẩm ngành chế biến hạt điều được lựa chọn làm đối tượng cho việc
nghiên cứu đánh giá tiềm năng áp dụng nhãn sinh thái vì:
- Đây là loại dản phẩm được khá nhiều người biết đến trên thị trường.
- Thương hiệu được gắn nhãn sinh thái sẽ có nhiều thuận lợi trong việc quảng
bá hình ảnh cho doanh nghiệp và tăng tính cạnh tranh. Dễ dàng hòa nhập thị trường
quốc tế.
GVHD: PGS.TS.Lê Thanh Hải
Đồ án tốt nghiệp Th.S Hồ Thị Ngọc Hà
SVTH: Bùi Thị Hòa Viên 5
MSSV: 09B1080181
6. Ý nghĩa thực tiễn
Việc áp dụng nhãn sinh thái đã được thực hiện từ rất lâu trên thế giới. Tuy
nhiên, tại Việt Nam vấn đề này vẫn còn khá mới mẽ. Cho đến thời điểm này, tại
Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng, việc nghiên cứu xây dựng các
tiêu chí liên quan đến việc áp dụng nhãn sinh thái cho sản phẩm ngành chế biến hạt
điều vẫn chưa được thực hiện.
Đề tài nghiên cứu giúp sản phẩm của các công ty có bước chuẩn bị tốt, đáp
ứng phần nào các yêu cầu của tiêu chuẩn cấp nhãn sinh thái của các cơ quan chức
năng khi ban hành và đánh giá. Các sản phẩm của công ty dễ dàng đạt được tiêu
chuẩn để được cấp nhãn sinh thái cho sản phẩm của mình. Đáp ứng được xu thế
phát triển chung của thế giới. Điều này giúp các doanh nghiệp tăng thị phần tại thị
Nhãn sinh thái (hay cũng gọi là nhãn xanh, nhãn môi trường) có thể được hiểu
là các nhãn mác của sản phẩm, dịch vụ cung cấp thông tin cho người tiêu dùng về
sự thân thiện với môi trường hơn so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại. Nói một
cách khác nhãn sinh thái là sự công bố bằng lời hoặc ký hiệu hay sơ đồ nhằm chỉ rõ
các thuộc tính môi trường của sản phẩm và dịch vụ. Qua đó, người tiêu dùng và
khách hàng nắm bắt được nhiều thông tin hơn về các tác động của sản phẩm hoặc
dịch vụ đối với môi trường và sức khoẻ con người và họ ngày càng có nhận thức
cao hơn đối với những vấn đề môi trường. Những lý do này làm cho ngày càng có
nhiều người tiêu dùng muốn chuyển tải những nhận thức của họ sang sự thay đổi về
ý thức mua hàng cái mà người ta vẫn dùng là “người tiêu dùng xanh”.
Trong những năm gần đây, con người không khỏi lo lắng về những tác động
tiêu cực đối với môi trường trong quá trình tạo sản phẩm như cạn kiệt các nguồn tài
nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm nguồn nước, đất, không khí và các vấn đề tiềm ẩn
mang tính toàn cầu như mưa axit, lỗ thủng tầng ôzôn ngày càng lớn, sự biến đổi lớn
của khí hậu mà con người không thể lường trước được. Các nhân tố này ảnh hưởng
nghiêm trọng đến sức khỏe, sức lao động của con người.
Trong bối cảnh đó, nhiều nhà tiêu dùng đã có những hành động thiết thực để
bảo vệ môi trường, làm giảm các tác động xấu đến môi trường bằng cách đưa ra yêu
cầu và chỉ mua những sản phẩm mà họ cho rằng ít có hại cho môi trường và không
hại đến sức khỏe của họ. Ví dụ như nhãn sinh thái châu Âu với biểu tượng bông hoa
GVHD: PGS.TS.Lê Thanh Hải
Đồ án tốt nghiệp Th.S Hồ Thị Ngọc Hà
SVTH: Bùi Thị Hòa Viên 7
MSSV: 09B1080181
ra đời vào năm 1992, được áp dụng rộng rãi tại 27 nước thành viên liên minh Châu
Âu và một số nước khác, ảnh hưởng đến thói quen tiêu dùng của hơn 340 triệu
người ở châu Âu. Một cuộc nghiên cứu tại Đan Mạch vào năm 2004 cho thấy,
người dân sẵn sàng trả thêm từ 10-17% để mua giấy vệ sinh và bột giặt có dán nhãn
sinh thái thân thiện với môi trường. Một dạng nhãn sinh thái rất phổ biến khác mà
với môi trường trong những giai đoạn khác nhau của chu kỳ sản phẩm: từ giai đoạn
sơ chế, chế biến, gia công, đóng gói, phân phối, sử dụng cho đến khi bị vứt bỏ.
Cũng có trường hợp người ta chỉ quan tâm đến một tiêu chí nhất định đặc trưng
cho sản phẩm, ví dụ mức độ khí thải phát sinh, khả năng tái chế, v.v…
Theo Mạng lưới nhãn sinh thái toàn cầu (GEN) định nghĩa: Nhãn sinh thái là
nhãn chỉ ra tính ưu việt về mặt môi trường của một sản phẩm, dịch vụ so với các
sản phẩm, dịch vụ cùng loại dựa trên các đánh giá vòng đời sản phẩm.
Theo Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO: Nhãn sinh thái là sự khẳng định, biểu
thị thuộc tính môi trường của sản phẩm hoặc dịch vụ có thể dưới dạng một bản
công bố, biểu tượng hoặc biểu đồ trên sản phẩm hoặc nhãn bao gói, trong tài liệu
về sản phẩm, tạp chí, kỹ thuật, quảng cáo các hình thức khác.
Dù hiểu theo phương diện nào, nhãn sinh thái là danh hiệu dành cho các sản
phẩm ít có tác động tiêu cực đến môi trường trong tất cả các giai đoạn hoặc trong
một giai đoạn vòng đời từ lúc khai thác nguyên nhiên liệu, đến sản xuất, đóng gói,
sử dụng và loại bỏ các sản phẩm đó. Về bản chất, nhãn sinh thái là thông điệp
truyền tải tính ưu việt đối với môi trường của sản phẩm nhằm khuyến khích nhu cầu
tiêu thụ và cung cấp các loại sản phẩm, dịch vụ ít gây tác động tiêu cực đến môi
trường, do đó thúc đẩy các quá trình cải thiện chất lượng môi trường.
Mục tiêu chung của nhãn sinh thái là nhằm khuyến khích nhu cầu tiêu thụ và
cung cấp các loại sản phẩm, dịch vụ ít gây tác động xấu đến môi trường, do đó có
vai trò quan trọng trong thúc đẩy việc cải thiện môi trường.
1.3. PHÂN LOẠI NHÃN SINH THÁI
Theo định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế ISO, có thể chia nhãn sinh
thái thành 3 loại gọi tắt là loại I, loại II, loại III với các yêu cầu cụ thể được nêu
trong bộ tiêu chuẩn ISO 14024:1999; ISO 14021: 1999; ISO 14025: 2000.
1.3.1.Chƣơng trình nhãn sinh thái loại I (ISO 14024):
Là chương trình tự nguyện, dựa trên các tiêu chí của bên thứ ba nhằm cấp
chứng nhận uỷ quyền sử dụng nhãn môi trường cho các sản phẩm thể hiện được sự
GVHD: PGS.TS.Lê Thanh Hải
Đồ án tốt nghiệp Th.S Hồ Thị Ngọc Hà
3
Nhật Bản
Nhãn sinh thái
1989
4
Các nước Bắc Âu
Thiên nga trắng
1989
5
Mỹ
Con dấu xanh
1989
6
Thụy Điển
Sự lựa chọn tốt cho môi trường
1990
7
Ấn Độ
Nhãn sinh thái
1991
8
Hàn Quốc
Nhãn sinh thái
1992
9
Liên minh Châu Âu
Bông hoa Châu Âu
1993
Nguồn: www.ecolabelindex.com
Tại 4 nước dẫn đầu là Mỹ, Canada, Nhật và Hàn Quốc, có khoảng 20 - 30% sản
môi trường của sản phẩm còn phải được thông báo rộng rãi trong báo cáo kỹ thuật.
Điểm chung của ba loại này là đều phải tuân thủ các nguyên tắc được nêu
trong tiêu chuẩn ISO 14020: 1998 (TCVN ISO 14020:2000), trong đó kiểm soát
mấu chốt các thông tin đưa ra phải khoa học, chính xác và dựa trên kết quả của quá
GVHD: PGS.TS.Lê Thanh Hải
Đồ án tốt nghiệp Th.S Hồ Thị Ngọc Hà
SVTH: Bùi Thị Hòa Viên 11
MSSV: 09B1080181
trình đánh giá vòng đời sản phẩm, các thủ tục phải không cản trở cho hoạt động
thương mại quốc tế.
Trong cả ba loại nhãn sinh thái trên, thì nhãn sinh thái loại I có ưu thế hơn
cả, do có khả năng phổ biến rộng rãi, minh bạch, và độ tin cậy cao, dễ tạo ra thúc
đẩy việc bảo vệ môi trường. Trong thực tế, nhãn sinh thái loại I ngày càng chiếm ưu
thế và được nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng.
1.4. MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC ÁP NHÃN SINH THÁI
1.4.1. Mục đích chung
Nhằm đảm bảo quyền lợi chung của cộng đồng thế giới, tạo nên môi trường
sinh thái trong sạch, lành mạnh, từ đó tạo đà cho phát triển sản xuất, nâng cao chất
lượng sống cộng đồng.
1.4.2. Mục đích cụ thể
Nhãn sinh thái cung cấp các thông tin rõ ràng về đặc tính môi trường, khía
cạnh môi trường cụ thể của các sản phẩm hoặc dịch vụ. Người tiêu dùng có thể sử
dụng các thông tin trên trong việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ. Bên cạnh đó, từ
những thông tin môi trường giới thiệu, cộng đồng có thể thay đổi nâng cao kiến
thức của mình về môi trường, về sự biến đổi thành phần tính chất môi trường dưới
tác động của con người, đến hoạt động của hệ thống kinh tế, từ đó có những hành
động đúng đắn để bảo vệ môi trường.
Mục đích của việc áp nhãn sinh thái là khuyến khích sản xuất và tiêu dùng
những sản phẩm thân thiện với môi trường, xây dựng ý thức bảo vệ môi trường
phẩm khi công bố.
- Không gây kìm hãm sự đổi mới về việc cải thiện kết quả hoạt động về môi
trường.
- Hạn chế tối thiểu các yêu cầu mang tính hành chính hoặc các đòi hỏi không
hợp lý trong việc sử dụng nhãn.
- Quá trình xây dựng chuẩn cần có sự tham gia của các bên hữu quan.
- Bên đưa ra nhãn môi trường hoặc công bố môi trường phải sẵn có cho khách
hang về khía cạnh môi tường của sản phẩm và dịch vụ tương ứng với nhãn môi
trường hoặc công bố môi trường đó.
1.6. LỢI ÍCH CỦA VIỆC CẤP NHÃN SINH THÁI
1.6.1. Lợi ích đối với môi trƣờng
GVHD: PGS.TS.Lê Thanh Hải
Đồ án tốt nghiệp Th.S Hồ Thị Ngọc Hà
SVTH: Bùi Thị Hòa Viên 13
MSSV: 09B1080181
Việc áp dụng nhãn sinh thái đã phả ánh những lợi ích với môi trường gắn với
quá trình sản xuất phân phối, tiêu dung và loại bỏ sản phẩm. Điều này thể hiện ở
chỗ, nhãn sinh thái cho phép tạo điều kiện phát triển nguyên liệu thân thiện hơn với
môi trường và quá trình phân phối, tiêu dùng sẽ tự loại bỏ những sản phẩm chưa
dán nhãn sinh thái, góp phần làm cho môi trường ngày càng cải thiện hơn.
1.6.2. Lợi ích đối với chính phủ
Chính phủ với tư cách là một chủ thể tiêu dùng, đặc biệt trong nền kinh tế
cũng có những lợi ích do việc dán nhãn sinh thái mang lại. Đối với quy định mua
sắm của chính phủ phải đáp ứng yêu cầu “xanh’’, thì việc áp nhãn sinh thái đối với
các sản phẩm sẽ giúp cho việc thực hiện các chương trình mua sắm của chính phủ
được thực hiện hữu hiệu và dễ dàng hơn.
Trường hợp khác, khi chính phủ với tư cách là một cơ quan hành pháp hay một
cơ quan pháp lý nhà nước, thì việc dãn nhãn có ý nghĩa rất lớn. Giúp chính phủ
quản lý tốt hơn về vấn đề môi trường quốc gia, quản lý tình hình lưu thông phân
nghiệp cùng có lợi. Và như thế, đương nhiên về mặt xã hội thì nền kinh tế quốc gia
được phát triển khi các doanh nghiệp phát triển tốt.
Đặc biệt, trong quá trình hội nhập hiện nay nhãn sinh thái càng có ý nghĩa khi
chúng tham gia vào các thị trường lớn và mạnh trên thế giới với những hàng rào kỹ
thuật chặt chẽ. Nhãn sinh thái làm cho các doanh nghiệp nhận thức ra được yêu cầu
của việc nâng cao chất lượng, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mạnh hơn theo
hướng phát triển bền vững.
1.7. TÌNH HÌNH ÁP DỤNG NHÃN SINH THÁI
1.7.1. Trên thế giới
Vào những năm 90, người tiêu dùng trên thế giới, đặc biệt là người tiêu dùng ở
nước Mỹ và các nước Châu Âu ngày càng quan tâm đến vấn đề môi trường và họ
bắt đầu có nhu cầu về các sản phẩm xanh, sản phẩm được quảng bá là thân thiện với
môi trường. Điều này làm cho các nhà sản xuất quan tâm hơn đến sản phẩm xanh.
Từ đó, sản phẩm xanh phát triển rộng khắp thế giới.
Chương trình nhãn sinh thái ra đời do nhu cầu của người tiêu dùng trong nước
về những sản phẩm thân thiện với môi trường và nhằm cung cấp cho người tiêu
dùng những thông tin về sản phẩm đó. Ví dụ: Chương trình nhãn sinh thái của EU,
“Thiên thần xanh’’ của Đức, “Sự lựa chọn môi trường” của Canada
GVHD: PGS.TS.Lê Thanh Hải
Đồ án tốt nghiệp Th.S Hồ Thị Ngọc Hà
SVTH: Bùi Thị Hòa Viên 15
MSSV: 09B1080181
Tại Đức
Đức được xem là một quốc gia đầu tiên thực hiện dán nhãn sinh thái cấp quốc
gia cho các sản phẩm hàng tiêu dùng.
Chương trình nhãn sinh thái “Thiên thần xanh” tại Đức đã được khởi xướng từ
năm 1977 nhằm khuyến khích người tiêu dùng mua và sử dụng các sản phẩm hàng
hóa. Các sản phẩm nằm trong chương trình được Ban giám khảo độc lập xem xét,
xác nhận về sự phù hợp với môi trường so với các sản phẩm khác.
thúc đẩy những sản phẩm và dịch vụ ít thải ra chất độc hại, tiết kiệm tài nguyên và
bảo vệ môi trường.
Trong những năm 80 của thế kỷ XX, sau nhiều năm không đạt kết quả trong
việc bảo vệ môi trường, các thành viên của chiến dịch trách nhiệm xã hội và cộng
đồng đối với môi trường đã nghiên cứu kinh nghiệm bảo vệ môi trường tại một số
nước như Đức, Canada và đã đưa ra một cách tiếp cận mới trong việc bảo vệ môi
trường. Họ đã khởi xướng một chương trình cấp nhãn sinh thái. Do đó “Con dấu
xanh” được chính thức thành lập vào năm 1989, có chức năng cấp nhãn sinh thái
cho những sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường.
Tại Châu Âu (EU)
Thị trường Châu Âu có tiềm năng rất lớn về sản phẩm xanh, vì họ rất quan
tâm đến việc quảng bá cũng như cung cấp thông tin, kiến thức về môi trường cho
người dân của họ nói chung và người tiêu dùng nói riêng. Theo kết quả nghiên cứu
có khoảng 40% người tiêu dùng tại Châu Âu trung thành với sản phẩm xanh và
75% người tiêu dùng sẵn sàng trả thêm chi phí cho sản phẩm xanh. Cũng giống như
nước Mỹ người tiêu dùng Châu Âu cũng không tin tưởng nhiều vào nhãn sinh thái
hay những nhãn được công bố là thân thiện với môi trường, vì sản phẩm có nhãn
sinh thái tràn ngập trên thị trường mà người tiêu dùng không biết nhãn nào thật sự
là nhãn thân thiện môi trường, không gây tác động xấu đến môi trường.
Tháng 12 năm 1991, Hội đồng Bộ Trưởng môi trường của EU đã thông qua
chương trình cấp nhãn sinh thái EU theo quyết định số 880/92(EEC) của hội đồng
pháp luật để thúc đẩy việc thiết kế, sản xuất, bán và sử dụng sản phẩm xanh là
những sản phẩm có những tác động đến môi trường được giảm nhẹ trong toàn bộ
vòng đời sản phẩm và cung cấp cho người tiêu dùng thông tin về những sản phẩm
xanh này. Chương trình đã thu hút sự tham gia của 18 nước, trong đó có 15 nước là
GVHD: PGS.TS.Lê Thanh Hải
Đồ án tốt nghiệp Th.S Hồ Thị Ngọc Hà
SVTH: Bùi Thị Hòa Viên 17
MSSV: 09B1080181
Đồ án tốt nghiệp Th.S Hồ Thị Ngọc Hà
SVTH: Bùi Thị Hòa Viên 18
MSSV: 09B1080181
mức tối thiểu. Để có được “Biểu trưng sinh thái”, các sản phẩm phải đáp ứng được
các tiêu chuẩn mà chương trình đưa ra.
Tại Öc
Hiệp hội cấp nhãn môi trường Úc đã xây dựng chương trình bao gồm nhãn
môi trường và dịch vụ định giá sản phẩm với xu hướng tăng lợi nhuận thị trường
cho các loại hàng hóa thân thiện môi trường. Khẩu hiệu của chương trình: “Khuyến
khích nhu cầu tiêu thụ và cung cấp hàng hóa nhằm giảm bớt áp lực cho môi trường
cho toàn bộ vòng đời sản phẩm”.
Tại Thái Lan
Chương trình “Nhãn sinh thái xanh” do Hội đồng doanh nghiệp phát triển bền
vững của Thái Lan thành lập năm 1993 đến tháng 4 năm 1994, Viện môi trường
Thái Lan hợp tác với Bộ công nghệ tiến hành thực hiện chương trình.
Chương trình nhãn xanh Thái Lan áp dụng cho những sản phẩm và dịch vụ (
không bao gồm những lĩnh vực thực phẩm, nước uống và dược phẩm) đạt được các
tiêu chuẩn đề ra.
Tại Sigapore
Chương trình nhãn xanh của Singapore do Bộ thương mại Singapore thực
hiện, bắt đầu từ tháng 5 năm 1992. Hiện nay Singapore đã chọn được 21 sản phẩm
để cấp nhãn xanh theo các tiêu chuẩn tương ứng.
Nhãn sinh thái “Green Label’’ là một phần của kế hoạch quản lý môi trường
toàn quốc của Singapore có tên gọi “Green Plan”. Chương trình nhãn sinh thái
“Green Label” là một chương trình dán nhãn tự nguyện và được áp dụng đối với tất
cả những công ty của Singapore và công ty nước đạt được các tiêu chuẩn về sản
phẩm đã công bố.
Theo Bộ Môi trường Singapore: Nhãn sinh thái “Green Label” được thiết kế
để nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về những sản phẩm có tác động tới môi
11
Nordic 5
countries
Thiên
Nga
trắng
2
Ustralia
Sự lựa
chọn của
môi
trƣờng
12
New
Zealand
Sự lựa
chọn của
môi
trƣờng
3
Brazil
Nhãn sinh
thái
13
trƣờng
6
Czech
Republic
Nhãn sinh
thái Sản
phẩm thân
thiện với
môi
trƣờng
16 Taiwan
Nhãn
xanh
7
Union of
Europe
Nhãn hoa
17
Hong
kong
Nhãn
Idian
Nhãn sinh
thái
20 Singapore
Nhãn
xanh
Nguồn: www.ecolabelindex.com
1.7.2. Tại Việt Nam
1.7.2.1. Mức đô quan tâm đến nhãn sinh thái
Ngƣời tiêu dùng
Theo kết quả điều tra của đề tài nghiên cứu khoa học “ Đánh giá hiệu quả của
nhãn sinh thái tại thị trường Thành phố Hồ Chí Minh” cho thấy số người tiêu dùng
chưa từng biết về nhãn sinh thái chiếm 54%, số người tiêu dùng biết nhưng không
nắm rõ lắm về nhãn sinh thái chiếm 34%, số người không quan tâm chiếm 2% và số
người tiêu dùng biết rõ chiếm 10%. Qua kết quả điều tra trên chúng ta có thể thấy
được sự quan tâm của người tiêu dùng đến nhãn sinh thái còn rất ít. Điều này có thể
lý giải là do thị trường Việt Nam các sản phẩm có dán nhãn môi trường hầu hết
được nhâp từ các nước Châu Âu và Châu Mỹ, các sản phẩm được dán nhãn không
được tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng. Mặt khác do mức sống
ở nước ta còn thấp mới được nâng lên trong vài năm gần đây nên khi mua sản phẩm
họ quan tâm về chất lượng và giá cả là trên hết.
GVHD: PGS.TS.Lê Thanh Hải
Đồ án tốt nghiệp Th.S Hồ Thị Ngọc Hà
SVTH: Bùi Thị Hòa Viên 22
MSSV: 09B1080181
GVHD: PGS.TS.Lê Thanh Hải
Đồ án tốt nghiệp Th.S Hồ Thị Ngọc Hà
SVTH: Bùi Thị Hòa Viên 23
MSSV: 09B1080181
Nam. Người tiêu dùng (NTD) hiện đại không chỉ muốn sử dụng sản phẩm chất
lượng tốt mà còn muốn sản phẩm đó an toàn và thân thiện với môi trường. Vì vậy,
ngày càng có nhiều NTD sẵn sàng chi nhiều tiền hơn cho một sản phẩm cùng loại
nhưng được sản xuất bằng công nghệ xanh từ nguồn nguyên liệu xanh. Thực tế cho
thấy, sản phẩm xanh có thể mắc hơn một chút trước mắt nhưng lại rẻ hơn nếu sử
dụng lâu dài và sức khỏe được bảo vệ. Ví dụ như khi mua một chiếc tivi có khả
năng tiết kiệm điện chắc chắn sẽ mắc hơn tivi thường nhưng về lâu dài, số tiền điện
phải đóng hàng tháng cũng sẽ được giảm đáng kể. Hoặc như thay vì chọn nước
uống đóng chai bằng nhựa thì họ cũng dần ưu tiên cho loại đựng trong chai thủy
tinh bởi vừa có thể tái sư dụng vỏ chai, vừa bảo vệ sức khỏe.
Xu hướng “người tiêu dùng xanh” (green consumer) đã hình thành nhận thức
và quan niệm mới trong sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi
trường. Khái niệm “người tiêu dùng xanh” được hiểu là NTD thân thiện với môi
trường và thông qua xu hướng tiêu dùng, họ đang tạo ảnh hưởng tích cực làm thay
đổi nhận thức về môi trường. Ở Việt Nam, các nhà sản xuất và nguời tiêu dùng
cũng đang hướng đến các sản phẩm xanh như: Chiến dịch xanh do Báo Sài Gòn Gải
phóng phối hợp với Sở Công Thương TPHCM, Hợp tác xã Thương mại TPHCM
(Saigon Co.op) thực hiện nhằm khuyến khích cộng đông mua và sử dụng sản phẩm
của doanh nghiệp xanh, qua đó, thể hiện vai trò của mình trong công tác bảo vệ môi
trường đang được triển khai rộng rãi trên khắch thành phố. Đây là một trong những
yếu tố quan trọng giúp NTD tiếp xúc được với các sản phẩm an toàn và chất lượng
hơn từ phía các doanh nghiệp (DN). Ngoài ra, với “Giải thưởng Doanh nghiệp
xanh” (do Bộ Tài nguyên - Môi trường, UBND TPHCM chủ trì, Báo SGGP phối
hợp với Sở Tài nguyên – Môi trường TPHCM tổ chức) sẽ làm cho NTD an tâm khi
sử dụng sản phẩm do DN làm ra. Nếu giữ ổn định và ngày càng làm tốt hơn để
tiêu chuẩn ISO 14001. Đồng thời, 100% sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu và 50%
hàng hóa nội địa được cấp nhãn sinh thái theo tiêu chuẩn ISO 14024.
Nhiều thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam, trong đó có EU đã yêu cầu có
nhãn sinh thái đối với hàng nhập khẩu.
Ngày 5/3/2009, Bộ tài nguyên và Môi trường ra quyết định số 253/QĐ-
BTNMT về chương trình cấp nhãn sinh thái hay chương trình nhãn môi trường
xanh Việt Nam ( gọi tắt là nhãn xanh Việt Nam).
GVHD: PGS.TS.Lê Thanh Hải
Đồ án tốt nghiệp Th.S Hồ Thị Ngọc Hà
SVTH: Bùi Thị Hòa Viên 25
MSSV: 09B1080181
Ngày 13/12/2010, Bộ tài nguyên và Môi trường ra quyết định số 2322/QĐ-
BTNMT về việc phê duyệt tiêu chí nhãn xanh Việt Nam cho nhóm sản phẩm: Bột
giặt (mã tiêu chí : NXVN 01:2010), Bóng đèn huỳnh quang (mã tiêu chí : NXVN
02:2010) và Bao bì nhựa tự phân hủy sinh học dùng gói hàng khi mua sắm (mã tiêu
chí : NXVN 03:2010). Việc ban hành này đã tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp sản
xuất những nhóm sản phẩm này sớm xúc tiến để thực hiện đăng ký và lấy chứng
nhận nhãn xanh Việt Nam, cũng như tạo tiền đề thực hiện cho các nhóm ngành
hàng sản phẩm khác.
Tính đến nay, Việt Nam đã có 02 doanh nghiệp được cấp thí điểm “ Nhãn
xanh Việt Nam”. Đó là sản phẩm: “Bột giặt Tide” của công ty Công ty TNHH
Procter&Gamble Đông Dương và “Bóng đèn Huỳnh quang” của công ty Điện
Quang đã được tổ chức công bố quyết định cấp thí điểm “ Nhãn xanh Việt Nam ’’
vào ngày 27/1/2011 tại Hà Nội.“ Nhãn xanh Việt Nam ’’ của 02 công ty này có giá
trị đến ngày 18/01/2014. Việc cấp thí điểm Nhãn xanh Việt Nam cho hai doanh
nghiệp đầu tiên cho hai doanh nghiệp rất có ý nghĩa vì nó liên quan đến khía cạnh
cuộc sống thông qua sản phẩm thân thiện môi trường.
Sản phẩm được gắn Nhãn xanh Việt Nam Công ty TNHH Procter&Gamble
Đông Dương và công ty Điện Quang đã đáp ứng được các tiêu chuẩn về chất lượng