Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh của các tác giả - Pdf 15

Minh triết Việt và minh triết Hồ Chí Minh

Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Trên đại thể, minh triết là “đạo lý đời thường”. Đạo lý này có tính chất
đời thường vì, cũng như tính Phật, nó sẵn có ở mọi người. Nói cách khác, ai
cũng có thể có minh triết.
LTS: Bằng những suy nghĩ có liên quan đến chủ đề minh triết của hai học
giả Việt Nam: Ngô Thời Sĩ (1740-1786) và Kim Định (1914- 1997)[i] độc giả
Hoàng Ngọc Hiến đã có bài luận góp phần định nghĩa minh triết, xác định đa
nguồn minh triết Việt và minh triết Hồ Chí Minh.
Theo tác giả, "minh triết là tính sáng khôn, thiên về diễn ngôn thoáng gọn, chủ
yếu được sống và sống ở bình diện đạo lý đời thường, tuy vậy không xa lạ với
đạo lý thánh hiền, thiên về cảm hóa lòng người hơn là quở trách thói đời".
Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết bốn kỳ của ông để mọi người cùng
suy ngẫm.
Bài 1: Không phải cứ muốn là thành triết gia
Ngô Thời Sĩ có phân biệt "đạo lý thánh hiền" và "đạo lý đời thường":
"Đem đạo thánh hiền để quở trách thói đời không bằng đem đạo đời thường để
cảm hoá lòng người".
Trên đại thể, minh triết là "đạo lý đời thường". Đạo lý này có tính chất đời
thường vì, cũng như tính Phật, nó sẵn có ở mọi người. Nói cách khác, ai cũng có
thể có minh triết. Nhưng triết lý thì khác, triết luận đòi hỏi năng lực tư duy đặc
biệt, không phải cứ muốn thì trở thành triết gia.

NGUỒN />1
Hình minh họa. Nguồn ảnh: fineartamerica.com
Đời thường còn có nghĩa là kinh nghiệm trong cuộc sống thường nhật. Trí
khôn, trí tuệ, trí thức của minh triết bao giờ cũng gắn với kinh nghiệm sống đời
thường, vốn nảy sinh từ những kinh nghiệm này. Đây là một đặc tính quan trọng
của minh triết. Còn triết lý thì thiên về thuần lý và có xu hướng thoát ra khỏi
"tính cục bộ", "tính cụ thể" của kinh nghiệm.

mà những nét tiêu biểu nhất là:
- "Lấy cứu cánh con người làm trọng tâm suy nghĩ, lấy sự thực hiện đến
rốt ráo cái tính bản nhiên con người làm mục tiêu (tận kỳ tính) [réaliser
l'humanité] " (xem tr.3)[iii]
- Những lời huấn đức minh triết được trình bày "tuy vắn tắt kiểu châm
ngôn nhưng có hiệu lực muôn đời như: Pythagore, Khổng Tử, Lão Tử, Thích Ca
v.v. (H.N.H.tô đậm]" (xem tr.2)
- Những nhà hiền triết "lo sống cái minh triết hơn là nghĩ đến viết ra sách
vở (H.N.H.tô đặm)" (xem tr.2); họ cố gắng thực hiện minh triết "không phải
ngoài cõi nhân sinh mà ngay trong đời sống, trong lối cư xử, trong cử chỉ".
- Phương pháp của tư duy minh triết "là thể nghiệm, trực giác, không dùng
đến lý luận, phân tích (H.N.H.tô đậm)", "lý chứng, luận bàn" (xem tr.3), đương
nhiên là không xây dựng hệ thống.
Tư duy triết lý phương Tây thiên về kiểu "tư duy triết học" mà những đặc
điểm chính được Kim Định xác định như sau:
- "Không lấy con người mà lấy thiên nhiên sự vật làm trung tâm suy tư,
con người chỉ được bàn đến một cách phụ thuộc, hay đúng hơn bằng những
phạm trù của sự vật". (xem tr.4)
- "Triết Tây hầu hết là duy niệm, nghĩa là chỉ dùng có ý niệm suông, ngoài
mọi tình cảm, ngoại lý (irrationnel) và tiềm thức. Những khoản này mới được
chú ý đến từ ít chục năm sau đây (H.N.H. tô đậm)". (xem tr.22)
3
- "Phương pháp: theo lối khoa học phê phán và phân tách, cố tìm ra những
ý niệm độc đáo và tích luỹ sự kiện để kết thành những hệ thống mạch lạc chặt
chẽ "
- "Mục tiêu lấy tri thức làm cùng đích."
- Trong khi minh triết "được giấu vào trong cử chỉ, thể hiện vào đời sống
và trong cả sự im lặng " thì những hệ thống triết học "kiểu nhà trường" được
quăng ra, nằm "chình ình bên cạnh đời sống."
Vài thế kỷ gần đây do sự tiếp xúc Đông - Tây ngày càng mở rộng và có


Tiểu luận về "hai nền triết lý Đông - Tây" của Kim Định nêu
nhiều vấn đề đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự.
Tư trào phục hưng minh Triết mới đột khởi ở phương Tây cách đây mươi
năm trong khi Kim Định cách đây nửa thế kỷ (bài tiểu luận được viết trong
những năm 1956-1961) đã khẳng định con đường đế vương của minh triết trong
lịch sử tư tưởng nhân loại thời quá khứ, hiện tại cũng như trong tương lai. Rất
tiếc do phạm vi của chủ đề, trong bài này, chúng tôi chỉ có thể nêu phần nào vài
ba vấn đề.
Kỳ 1: Không phải cứ muốn là thành triết gia
Trong lịch sử tư tưởng phương Tây, ngay từ đầu nguồn của triết học, triết
lý đã được đặt trong tương quan với minh triết[i]. Minh triết là bất cập với con
người, chỉ Thượng đế mới có minh triết (sophia). Triết gia chỉ dám nghĩ đến sự
vươn tới minh triết với tư cách là người quí mến minh triết, cũng có thể đây là
một cách bày tỏ thái độ khiêm nhường, khỏi bị nghi oan là báng bổ, dám sánh
ngang với Thượng đế. Như vậy ở đầu nguồn của triết học, minh triết (sophia) là
trên-triết học (philosophia).
Triết học phương Tây phát triển qua các thời đại. Đặc biệt đến t.k.XVIII,
triết luận trở thành một hoạt động bộ môn quy củ chuyên sâu, đã có thể nói đến
sự hình thành của giới triết gia chuyên nghiệp. Cuối t.k.XVIII, đầu t.k. XIX,
những thành tựu rực rỡ của triết học cổ điển Đức phát huy thanh thế của triết
học. Có sự thay đổi trong tương quan giữa minh triết và triết học.
Không ít triết gia phương Tây xem minh triết là người bà con nghèo của
triết học. Minh triết bị lép vế, không có sức thuyết phục chứng minh của tri thức
khoa học, triết học, cũng không cú sự linh diệu thần khải của tín điều tôn giáo.
So với tư duy triết học có những bay bổng mê hồn thi những lời bàn của
minh triết xem ra tẻ nhạt, u xìu, ngán ngẩm, tủn mủn, không có góc cạnh. "Minh
triết -Wittgenstein, một triết gia Anh gốc Áo (1889-1951) viết: là cái gì đó nguội
lạnh và lẩn thẩn Cũng có thể nói như thế này: minh triết chỉ che đậy cuộc sống,
làm cho ta không thấy được nó. Minh triết giống như tro xám, nguội lạnh phủ lên

Độ (Kinh Upanishad, Đạo Hin đu, Kinh Phật), Trung Đông (Đạo Do Thái, Đạo
Hồi, Kinh Coran), Hy - La (Platon, Epicure, Epictete [chủ nghĩa khắc kỷ] , Boece
[cổ La Mã] )
Điều đáng chú ý là có những văn bản của những triết gia đích thực cũng
được đưa vào bộ Kinh Thánh Minh triết này (có nghĩa là sự phân biệt minh triết
và triết học chỉ có tính chất tương đối).
Định nghĩa Minh triết là gì là một việc rất khó. Một câu nói hóm của một
học giả: "Tìm cách định nghĩa minh triết, đó là bằng chứng của sự thiếu minh
6
triết". Đại học tổng hợp Chicago vừa đưa ra Dự án đề tài: Định nghĩa Minh triết
với kinh phí trợ cấp 2.000.000$, học giả bất cứ nước nào đều có thể tham gia.
Tôi bằng lòng với việc đưa ra một số ví dụ:
- Thời bom Mỹ, trong những láng giềng của tôi, có một cháu bé hơn mười
tuổi, học lớp 3. Một lần đi sơ tán về, cháu nói: "Bác ạ, mình cứ nói người nhà
quê ra Hà Nội thì đần, cháu thấy người Hà Nội về nhà quê cũng đần. Hôm đầu,
cháu chịu không biết làm thế nào để rửa chân, mãi mấy hôm sau cháu mới biết
cách".
Câu nói của cháu làm tôi sửng sốt, đây là một nhận xét minh triết. Có
những công trình học thuật giầy cộp mà không có nổi một nhận xét độc đáo, sâu
sắc như của cậu bé. Thường thì càng cao tuổi người ta càng hiền minh. Nhưng
không nhất thiết vậy. Đối với sự phát huy minh triết, học vấn không phải là thừa.
Nhưng chỉ có trình độ tiểu học vẫn có thể có những suy nghĩ hiền minh. Từ ví dụ
này có thể thấy một sự khác biệt giữa triết học và minh triết: một học sinh lớp ba
một dòng triết học cũng không hiểu nổi vẫn có thể nói một câu minh triết độc
đáo và sâu sắc.
- Tôi có đọc một công trình lý luận tác giả viết những trang rất hay về vấn
đề tư hữu. Nhưng vấn đề chỉ sáng bừng lên khi tôi đọc đến câu của Balzac được
tác giả, trích dẫn: "Người mà không có gì là kẻ không ra gì". Câu của Balzac là
minh triết. Mác đã viết những trang cứ liệu uyên bác, lập luận đanh thép để đi
đến một kết luận quyết liệt: bãi bỏ tư hữu. Giá như Mác có thêm được minh triết

lòng dũng cảm. Mà không hành động là không có gì. Lòng dũng cảm có khi còn
quan trọng hơn sự hoàn thiện trí và nhân. Trí gắn với nhân tức là gằn với những
giá trị đạo đức, tinh thần. Đây là một đặc tính hết sức quan trọng của minh triết.
"Kinh tế trí thức" rất hấp dẫn nhưng hàm chứa nguy cơ trí thức và lý
thuyết một khi "lộng hành" sẽ gạt phăng các giá trị tinh thần, đạo đức. Do đó mới
có sự đề xuất "kinh tế minh triết". "Giáo dục trí thức" cũng rất hấp dẫn nhưng
cũng hàm chứa nguy cơ.
Xu thế càng ngày càng có tính chất áp đảo của giáo dục toàn thế giới là sự
truyền đạt tri thức và kỹ năng hầu như trở thành mục tiêu duy nhất của giáo dục,
làm lu mờ mục tiêu giáo dục những giá trị chi phối người sinh viên sử dụng
những trí thức và kỹ năng đó như thế nào và làm gì. Xu thế này cũng là một nguy
cơ đáng lo ngại đối với nền giáo dục Việt Nam. Hiện nay, hầu như không có
triển vọng nào ngăn ngừa xu thế này. Trên thế giới tiếng nói của những học giả
đòi hỏi cải tạo một cách cơ bản nền giáo dục hiện nay thành nền "giáo dục minh
triết" còn hết sức yếu ớt. Không mấy ai quan tâm đến nguyên lý giáo dục của
Gandhi được đề ra từ đầu thế kỷ trước: "Giáo dục cơ sở phải lấy minh triết và
lòng từ thiện làm nền tảng."
Những biểu hiện của minh triết có tính chất tổng thể: vừa là chân, mỹ,
thiện; vừa là tri thức, kinh nghiệm; vừa là trí tuệ, tâm hồn, ý chí; vừa là vốn sống,
lối sống, phương pháp tư duy Chuẩn bị cho một định nghĩa thấu đáo và đầy đủ
8
hơn về minh triết, tôi thử đưa ra mấy nét đặc biệt của minh triết như là nhận thức
và lối sống:
- Minh triết gắn với nghiệm sinh.
- Minh triết quan tâm đến sự cân bằng, hài hòa
- Minh triết thể hiện trong lối sống.
Minh triết gắn với nghiệm sinh (le vécu). Jerry Ortiz y Pino đã nêu đặc
điểm này thành một yêu cầu tất yếu: Minh triết không phải là cái gì đó bẩm sinh.
Thông minh là bẩm sinh. Linh lợi là bẩm sinh. Năng động cũng vậy. Nhưng
minh triết thì không. Nó chỉ đến từ sự sống, từ sự phạm sai lầm - hoặc giả từ sự

nghiệm này. Cần đề ra những ý niệm, khái niệm của minh triết. François Jullien
từng đề nghị xem ý niệm "mặc hóa" ("biến hóa lặng lẽ", từ của Lão tử) như một
ý niệm đặc thù của minh triết Trung Hoa.
Bàn về cách tư duy của minh triết nhiều học giả nói đến nhu cầu cân bằng.
Robert Sternberg nói đến nhu cầu cân bằng giữa những lợi ích trong bản thân
một cá nhân, giữa cá nhân này và cá nhân kia, giữa cá nhân và tập thể, cộng
đồng; giữa cộng đồng này và cộng đồng kia,"giữa sự thích nghi với môi trường
và sự cải tạo môi trường, sự lựa chọn những môi trường mới "
Joseph W.Meeker nói đến nhu cầu đồng bộ: "có ý thức về chỉnh thể nhưng
không quên những cái cụ thể, những cái đặc biệt; "bán cầu phải" thống nhất với
"bán cầu trái" cũng như tư duy lô-gích thống nhất với tư duy thơ, ý thức về mình
không lủng củng với ý thức về những người khác "
Từ nhu cầu cân bằng tự nhiên có nhu cầu hài hòa: cá nhân hài hòa với xã
hội, với thế giới, Đương nhiên không thể quên sự hài hòa với bản thân mình
mà biểu hiển quan trọng nhất là hài hòa giữa lý và tình, hài hòa giữa trí óc (mind)
và tâm hồn (soul), cùng một gốc nhưng là hai phương diện rất khác nhau: trí óc
thiên về tìm tòi chân lý, hình thức, sự sáng sủa, sự hợp lý, hình mẫu,quy
luật Còn tâm hồn thiên về tìm tòi cái đẹp, sự cân bằng, niềm vui, hạnh phúc, mê
ly, hòa bình, sự thương cảm Trí óc khẳng định chân lý bất chấp nó đẹp hay xấu;
tâm hồn cứ thấy xấu là giãy nảy, thiên về cái đẹp hơn chân lý. Trí óc khẳng định
và chối bỏ; tâm hồn yêu và ghét " (Glenn Shipley).
Nhằm duy trì hoặc lập lại cân bằng, hài hòa minh triết không thể không
quan tâm đến cái Chỉnh thể, cái mà Lão tử gọi là Nhất (Một) hoặc Cao Xuân Huy
gọi là Toàn (quan điểm chủ toàn). Thế giới hiện đại mải mê với sự phân tích, sự
duy lý, sự thực dụng, có cơ mất hút cái toàn. Đồng thời trong mọi lĩnh vực, mọi
bình diện, cân bằng bị phá vỡ, nghiêm trọng nhất là sự mất cân bằng giữa nhu
cầu tiêu dùng của con người tăng lên với một cấp số nhân khủng khiếp và sự bất
lực của con người quản lý việc khai thác hành tinh quả đất dang bị tàn phá một
cách man rợ và chúng ta đều biết hiểm họa: khí hậu quả đất thay đổi.
10

Ngô Đình Diệm, ông là người yêu nước nhưng theo cách của ông ấy…
Aristote có phân biệt “minh triết lý thuyết” và “minh triết thực tiễn”. Minh
triết thực tiễn thể hiện ở chỗ biết “suy tính những gì là tốt, là thiết thực…cho
mình để có được một cuộc sống tốt, nói chung” (ở đây cần hiểu “cuộc sống tốt”

Nguồn: />11
một cách toàn diện:cả về vật chất và tinh thần, không chỉ có tư duy, ứng xử tốt
mà ăn, ở, mặc cũng “tốt”, không những tốt trong việc công mà tốt trong cuộc
sống riêng, với gia đình. bạn bè và… với cả bản thân mình).
“Cuộc sống tốt” được hiểu một cách toàn diện như vậy, thì cái đầu “minh
triết” của Aristote quả là vĩ đại! Chỉ có “minh triết lý thuyết” thì người minh triết
dễ biến thành một kẻ hão huyền, gàn dở, ba hoa, nhảm nhí. Trong tiếng Việt có
một từ hết sức đích đáng để diễn đạt ý niệm “cuộc sống tốt” của Aristote, đó là
từ “hẳn hoi”. Với từ này chúng ta có thể tóm gọn “minh triết” trong một câu:
“Minh triết là biết làm thế nào sống hẳn hoi”.
“Hẳn hoi” không phải là một tiêu chuẩn quá cao: Không phải thật giỏi mới
hẳn hoi, không phải thật đàng hoàng, thật dũng cảm, thật “đạo cao, đức trọng”
mới hẳn hoi…
Và, “Hẳn hoi” là một phẩm chất có thể đặt ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi
bình diện: ăn mặc hẳn hoi, nhà cửa hẳn hoi, lời lẽ hẳn hoi, một người thầy hẳn
hoi, một người cha hẳn hoi, một người lãnh đạo hẳn hoi, học vấn hẳn hoi, làm ăn
hẳn hoi… Xã hội nào cũng có kỷ cương và lễ nghi, người hẳn hoi tiếp nhận tinh
thần của kỷ cương và lễ nghi với/do lòng tự trọng chứ không bị lệ thuộc một
cách mù quáng vào những quy ước của kỷ cương và lễ nghi.
Hình minh họa. Nguồn ảnh: baoanhdatmui
Xã hội nào cũng có tôn ti trật tự, người hẳn hoi không gò mình vào trật tự
này nhưng rất có ý thức về lẽ phải của thứ bậc. Vài mươi năm trước đây với bộ
phim nổi tiếng về người Hà Nôi Trần Văn Thuỷ đã làm sống lại phẩm chất “tử
tế” trong ý thức đạo đức của xã hội. Tuy nhiên, phẩm chất này dường như vẫn
12

Hồ Chí Minh. Chuyện là, hoạ sĩ Dương Bích Liên được cấp trên điều động đến
sống với Hồ chủ tịch một thời gian để vẽ chân dung. Hoạ sĩ vẽ rất nhiều ký hoạ
về bác Hồ. Một vị lãnh đạo xem những ký hoạ của Dương Bích Liên không hài
lòng và quyết định đưa họa sĩ trở về cơ quan chủ quản. Dương Bích Liên ra đi
13
mà Bác không hay. Đến lúc biết việc ra đi đột ngột của người hoạ sĩ, bác liền cho
người đuổi theo và đưa hoạ sĩ trở về. Người mời Dương Bích Liên dùng cơm
thân mật rồi sau đó hai bác cháu mới chia tay (thuật theo lời của Hào Hải, một
bạn vong niên gần gũi với Dương Bích Liên).
Còn sự việc sau đây là một sự kiện lớn: Sau Hiệp định Geneve, trong một
chuyến thăm Ấn Độ, một phóng viên nước ngoài đặt câu hỏi về Ngô Đình Diệm,
cụ Hồ đã trả lời đại ý: Tôi đến đây không phải để nói xấu ông Ngô Đình Diệm,
ông là người yêu nước nhưng theo cách của ông ấy… Trong cách trả lời này, có
sự khôn ngoan, nhưng nổi lên vẫn là sự hẳn hoi của một chính khách lớn.
Bài 4: "Nói đi đôi với làm" là căn cốt minh triết mọi thời

Có một giá trị căn cốt của minh triết mọi nơi và mọi thời: nói đi đôi với
làm". Đây là giá trị của những giá trị: không có nó, tất cả những giá trị khác
khó mà bền vững và dù cao siêu, tốt đẹp đến đâu, dễ trở thành "nói suông",
tức là số không. "Nói đi đôi với làm" là một giá trị hằng hữu của minh triết
Hồ Chí Minh.
Minh triết trong vốn trí tuệ và tâm linh của chúng ta không tách rời minh
triết nhân loại bao gồm minh triết của nhiều nền văn minh, nhiều khu vực văn
hóa, tôn giáo Ngay trong bản thân minh triết lưu hành ở Việt Nam có thể tìm
thấy nhiều vết tích vang vọng của minh triết những nền ván hoá, văn minh khác.
Người Việt không thể không tìm hiểu minh triết của những nền văn hoá khác.
Công việc này giúp chúng ta thấy được rõ hơn, tinh tế hơn bản sắc riêng của
mình. Đồng thời thấy được tính phổ quát của minh triết, thấy dược cái chung
giữa ta và người, Cũng có thể xem đây là một sự chuẩn bị tinh thần đi vào con
đường hội nhập.

Từ năm 1927, trong cuốn Đường cách mệnh của Nguyễn Ái Quốc, trong
23 điều phải có về tư cách của người cách mệnh thì điều thứ 10 là "Nói thì phải
làm". Điều thứ 10 này đã được nhấn mạnh bằng mệnh lệnh thức. Trong cuốn
15
"Sửa đổi lối làm việc" (1947) quan hệ phải có giữa "nói và làm" được khẳng định
thông qua quan hệ phải có giữa " lý luận và thực hành".:
- "Lý luận phài đem ra thực hành "
- "Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích
để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung thì cũng như không có tên"
- "Lý luận cốt áp dụng vào thực tế. Chỉ học thuộc lòng, để đem lòe thiên
hạ thì lý luận ấy cũng vô ích."
Giữa nói và làm Hồ Chí Minh nhấn mạnh vào "làm":
- "miệng nói, tay làm" "Phải thật thà nhúng tay vào việc"
- "Nói ít, làm nhiều"
- "Các việc đáng làm, thì có khó mấy cũng cố chịu quyết làm cho kỳ
được."
- "Nói miệng, ai cũng làm được. Ta cần phải thực hành "
- "Trong Đảng ta, có một số người chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua
giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực không làm được.
Những người như thế cũng không thể dùng vào công việc thực tế "
Bác đã nói thì làm. Và làm thực sự
16
Ngay sau Cách mạng
tháng tám 1945, nạn đói vẫn đe
dọa. " Với cương vị Chủ tịch
nước, Bác kêu gọi: " Tôi xin
đề nghị với đồng bào cả nước,
và tôi xin thực hành trước: cứ
mười ngày nhịn ăn một bữa, mỗi
tháng nhịn ăn 3 bữa. Đem gạo

cuộc đời và những câu nói của Bác. Nhưng không thể quên minh triết Hồ Chí
Minh đương biểu hiện ngời sáng ở ngàn vạn "tấm gương sống"và "người tốt,
việc tốt" đương xuất hiện khắp nơi trên đất nước,không kể trước đây họ từng ở
phía nào của chiến tuyến.
Số đông trưởng thành và được tôi luyện trong thực tiễn của cuộc Cách
mạng mà Hồ Chí Minh là người thiết kế và người đôn đốc gây dựng, họ phải
giải quyết những nhiệm vụ mà lịch sử Việt Nam bốn ngàn năm chưa từng đặt ra,
những hậu quả của những tai họa mà Lịch sử (hay là Số phận?), những nhiệm vụ
mà họ phải chèo chống giữa phong ba bão táp của lịch sử trong khi Người thuyền
trưởng lão luyện không còn nữa Họ giống như những Sisyphus phải vần lên
đỉnh núi những tảng đá nặng gấp ngàn lần sức lực của họ. Hòn đá to. Hòn đá
nặng. Một người không vần nổi thì 3 người , 3 trăm người , 3 vạn người , 3
triệu người Cuối cùng, khác với nhân vật huyền thoại, họ đã hoàn thành nhiệm
vụ. Có khi chính họ là Hồ Chí Minh mà không tự biết.
Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Song Thành
Phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh là sự vận dụng thuần thục
phương pháp biện chứng duy vật macxít
Hồ Chí Minh không có tác phẩm riêng bàn về phương pháp. Nhưng trong
thực tế lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Người đã vận dụng sáng tạo và
nhuần nhuyễn các nguyên lý của phép biện chứng duy vật macxít kết hợp với các
yếu tố biện chứng của triết học phương Đông qua đó tạo nên một hệ thống
phương pháp riêng của mình, rất macxít mà cũng rất Hồ Chí Minh, không trộn
lẫn được. Vì vậy, có thể nói, có phương pháp biện chứng của Hồ Chí Minh,
phương pháp đó vẫn là phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin

Nguồn />18
nhưng đã được vận dụng và chuyển hoá vào thực tiễn cách mạng Việt Nam để xử
lý thành công những vấn đề do thực tiễn cách mạng Việt Nam đặt ra, nó in đậm

vẫn tranh thủ viện trợ kinh tế và quân sự của các nước XHCN anh em, mặt khác,
chúng ta lại đánh theo đường lối và cách đánh Việt Nam, phù hợp với chiến
19
trường Việt Nam, vì vậy ta đã giành được thắng lợi vẻ vang: giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên CHXH.
Khi miền Bắc từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tiền tư bản bước
vào thời kỳ quá độ lên CHXH, Hồ Chí Minh đặt vấn đề: "Chúng ta phải đùng
những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến lên CHXH" và
Người nhắc nhở: "Tuy chúng ta đã có những kinh nghiệm dồi đào của các nước
anh em, nhưng chúng ta cũng không thể áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách
máy móc, bởi vì nước ta có những đặc điểm riêng của ta".
Đó là biện chứng Hồ Chí Minh trong xử lý mối quan hệ giữa thực tiễn và
lý luận, giữa cái riêng và cái chung.
Biện chứng trong xử lý mối quan hệ giữa mâu thuẫn và thống nhất của các
mặt đối lập.
Theo quan điểm macxít, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối
lập là quy luật cơ bản nhất của phép biện chứng duy vật, bởi mâu thuẫn là hiện
tượng phổ biến của mọi sự vật, hiện tượng và đấu tranh để đi tới chuyển hoá giữa
các mặt đối lập của mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động và phát triển.
Hồ Chí Minh cũng thừa nhận tính phổ biến của mâu thuẫn. Người viết:
"Cái gì cũng có mâu thuẫn, vì cái gì cũng có biến âm, dương, có sinh có tử, có
quá khứ, có tương lai, có cũ, có mới. Đó là những mâu thuẫn sẵn có trong mọi sự
vật".
Mâu thuẫn có nhiều loại với bản chất khác nhau: có mâu thuẫn bên trong
và bên ngoài, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu, đối kháng và không
đối kháng. Vì vậy, phân tích mâu thuẫn là điều kiện để nhận thức đúng sự vật.
Hồ Chí Minh chính là một bậc thầy trong nhận thức, phát hiện và xử lý mâu
thuẫn.
Trong đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp có nhận thức, phát hiện đúng
mâu thuẫn mới xác định rõ kẻ thù và bạn đồng minh, mới đề ra được chiến lược,

Hồ Chí Minh cũng là bậc thầy về xử lý mâu thuẫn địch - ta, nêu tấm
gương về nghệ thuật vận dụng mâu thuẫn, khai thác mâu thuẫn trong hàng ngũ
kẻ thù. Theo quyết định của Đồng minh tại Hội nghị Pốtxđam (tháng 7/1945),
gần 20 vạn quân Tưởng đổ vào Bắc Đông Dương (từ vĩ tuyến 16 trở ra) và hàng
vạn quân Anh - Ấn Độ đổ vào Nam Đông Dương với danh nghĩa giải giáp quân
đội Nhật. Núp dưới bóng quân đội Anh, thực dân Pháp cũng đem quân trở lại
nước ta. Nếu kể cả quân đội Nhật tuy đã đầu hàng nhưng chưa bị tước vũ khí, thì
vào lúc đó, có gần nửa triệu quân nước ngoài đóng trên đất nước ta. Cùng một
lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, tình thế cách mạng Việt Nam như đang "nghìn
cân treo sợi tóc". Để bảo vệ thành quả cách mạng, Hồ Chí Minh chủ trương phải
phân hoá kẻ thù, bằng cách khai thác mâu thuẫn trong hàng ngũ của chúng.
Quân đội Tưởng vào miền Bắc có ba thế lực: cánh Lư Hán thuộc Đệ nhất
chiến khu Vân Nam, cánh Tiêu Văn thuộc Đệ tứ chiến khu Quảng Tây, cánh Chu
21
Phúc Thành thuộc quân khu Trung ương Trùng Khánh. Chúng giống nhau về
mục tiêu "diệt cộng, cầm Hồ" để dựng lên chính phủ tay sai, phục vụ cho mưu đồ
lâu dài của chúng, nhưng mâu thuẫn với nhau về lợi ích cá nhân. Biết Lư Hán
vốn có tư thù sâu sắc với Tưởng Giới Thạch và cả với Pháp (vì đã bị Pháp tịch
thu mấy chuyến hàng lớn trên tuyến đường sắt Hải Phòng Côn Minh), Hồ Chí
Minh đã chủ động tới thăm chúng nhằm tranh thủ Lư Hán, đồng thời, nhượng bộ
cho vợ chồng Tiêu Văn một số đặc quyền kinh tế để cô lập cánh Chu Phúc
Thành Nhờ đó, chúng ta buộc họ phải thay đổi thái độ đối với Chính phủ Hồ
Chí Minh, đã sử dụng được lực lượng quân đội Tưởng làm bình phong, ngăn
chặn quân đội Pháp đang lăm le ra miền Bắc.
Trong hàng ngũ tướng lĩnh quân đội Pháp cũng chia thành hai phe: cánh
diều hâu chủ chiến, đứng đầu là Cao ủy Đông Dương Đácgiăngliơ (D'argenlieu),
cánh tương đối hiểu biết, muốn hoà hoãn, tiêu biểu là đại tướng Lơcléc (Leclerc),
tổng chỉ huy quân đội viễn chinh. Hồ Chí Minh đã viết thư gửi Lơcléc: "Ngài là
một đại quân nhân và là một nhà ái quốc. Ngài đã chiến thắng và chiến thắng anh
dũng kẻ xâm lăng nước ngài Lừng danh với những chiến công, ngài lại đi đánh

đồng thuận để khắc phục cái riêng, cái dị biệt. Đó là biện chứng trong cách xử lý
của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giũa mâu thuẫn và thống nhất các mặt đôi lập.
Biện chứng giữa cái "bất biến" và cái “vạn biến".
Đây là một tư tưởng biện chứng hết sức sâu sắc của triết học phương
Đông, xuất phát từ quan niệm vạn vật sinh hoá đều do điều lý (quy luật) chi phối,
nếu nắm được điều lý của vũ trụ thì có thể điều khiển được mọi biến hoá của trời
đất (hiện tượng), nghĩa là có thể lấy cái bất biến chế ngự được cái vạn biến, lấy
tĩnh chế động, lấy nhu thắng cương
Phép biện chứng duy vật macxít cũng đã đề cập đến các cặp mâu thuẫn và
thống nhất, vận động và đứng im, nhưng mối quan hệ giữa bất biên và vạn biên
trong phép biện chứng của Hồ Chí Minh có nguồn gốc chủ yếu từ trong triết học
phương Đông và Việt Nam. Xưa Lý Thánh Tông, khi đi lo việc biên cương ở
phương Nam, có dặn lại nhiếp chính Ỷ Lan một câu: "Vạn biến như lôi, nhất tâm
thiền định", ý nói cứ lấy nhất tâm bất biến (là một lòng lo giữ việc nước) thì có
thể đối phó với vạn biên (dù có dữ dội như sấm sét).
Vậy ta hiểu "dĩ bất biến ứng vạn biến" mà Hồ Chí Minh nói đến là gì?
Theo cách nói của triết học, có thể hiểu "bất biên" là quy luật, vì chỉ có quy luật
(tự nhiên, xã hội, tư duy) là tồn tại lâu đài, là hầu như bất biến, còn "vạn biến" là
hiện tượng, là sự biểu hiện đa dạng của quy luật, cho nên có thể đưa vào quy luật
mà lý giải hiện tượng hay ngược lại, từ phân tích vô vàn hiện tượng có thể tìm ra
quy luật tương ứng.
Phép biện chứng duy vật thường chú trọng nhiều hơn về trình bày sự phát
triển biện chứng của sự vật, coi mâu thuẫn, vận động là tuyệt đối, thông nhất,
đứng im là tương đối. Trong thực tế vận dụng, đôi khi chúng ta lại có phần coi
23
nhẹ, thậm chí bỏ qua cái "bất biến" (tức là cái thống nhất, đứng im vốn là điều
kiện tồn tại của sự vật).
Trong vũ trụ và trong cuộc sống xã hội vốn tồn tại phạm trù "bất biến".
Hoá học được xây đựng trên cơ sở định luật bảo toàn trọng lượng. Công thức có
thể biến hoá, nhưng trị số thì không đổi. Năng lượng học dựa trên định luật bảo

thông yêu nước với sự phân tích macxít đã tạo nên tính chất độc đáo của ông Hồ
Chí Minh".
Cũng xuất phát từ phép biện chứng Đông - Tây kết hợp này, chúng ta thấy
Hồ Chí Minh đã giải quyết rất thành công, vừa khoa học, vừa nhuần nhị các mối
quan hệ biện chứng giữa truyền thông và hiện đại, kế thừa và đổi mới, dân tộc và
giai cấp, nội lực và ngoại lực, lực - thế, thời… mà do phạm vi của bài viết, chúng
tôi không có điều kiện bàn hết ở đây.
Tóm lại, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh được thể hiện một phần quan
trọng trong phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh. Về bản chất, đó là phương
pháp biện chứng duy vật macxít được vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam, có sự
kết hợp với tư duy biện chứng phương Đông, in đậm dấu ấn phương Đông và
Việt Nam, nổi bật lên trong đó là sự kết hợp tính cương nghị về nguyên tắc với
tính mềm dẻo, linh hoạt về sách lược, lấy cái đại đồng để khắc phục cái tiểu dị, đi
từ dân tộc đến giai cấp, nhằm mục tiêu đại đoàn kết dân tộc, phân hoá và cô lập
kẻ thù chính, giành thắng lợi cho độc lập dân tộc để từng bước đi lên CHXH.
Phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh cũng do đó mà có vai trò rất to lớn đối
với công cuộc đổi mới của chúng ta, đặc biệt trong bối cảnh quốc tế đang chuyển
biến nhanh chóng và phức tạp hiện nay.
Tư tưởng về con người, bộ phận cơ bản của tư tưởng triết học Hồ Chí
Minh
Thấm nhuần quan điểm cải tạo thế giới của triết học Mác, vấn đề được Hồ
Chí Minh đặc biệt quan tâm là vấn đề con người và sự nghiệp giải phóng con
người. Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là con người chung
chung, trừu tượng, phi lịch sử, mà là con người hiện thực, cụ thể, sinh động,
trước hết là nhân dân lao động và quần chúng bị áp bức ở khắp mọi nơi, không
phân biệt dân tộc và màu da.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người có thể tóm tắt lại trong ba nội dung
cơ bản:
Con người là vôn quý nhất, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng
Theo Hồ Chí Minh, lịch sử là do quần chúng nhân dân sáng tạo ra, chứ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status