Bệnh loãng xương là gì?
1. ĐẠI CƯƠNG
Khái niệm về bệnh loãng xương đã được nhà giải phẫu học
J. Martin Lostein đề cập đến từ nửa đầu thế kỷ XVIII .
Ảnh minh họa.
Loãng xương ngày nay đã trở thành vấn đề mang tính
thời sự, được nhiều người quan tâm đến. Loãng xương thực
chất chính là hậu quả của sự rối loạn trong cân bằng tạo và
hủy xương, trong đó quá trình hủy xương chiếm ưu thế. Hậu
quả nặng nhất của loãng xương là gãy xương. Tuổi thọ
trung bình càng cao, số người mắc bệnh ngày càng nhiều.
Ở những người trên 60 tuổi có khoảng 20% phụ nữ, 10%
nam giới bị loãng xương. Theo ước tính của Tổ chức Y tế
Thế giới, tỷ lệ gãy cổ xương đùi do loãng xương trên thế giới
sẽ tăng từ 1,7 triệu người năm 1990 lên 6,3 triệu người vào
năm 2050. Ở Thái Lan, tỷ lệ gãy cổ xương đùi ở nam giới
trên 60 tuổi khoảng 99/100.000 dân (ở nữ là 202/100.000
dân).
Tại Mỹ, có khoảng 25 triệu người có mật độ xương thấp và
13 triệu người gãy xương do loãng xương. Hàng năm, nước
Mỹ chi phí tới hơn 14 tỷ đô la cho điều trị loãng xương và
gãy xương .
Tại Pháp, số phụ nữ bị loãng xương sau mãn kinh khoảng
4,5 triệu người, nam giới khoảng 1,4 triệu người, trong đó
10% bị tàn phế với 3 – 5 nghìn trường hợp gãy cổ xương đùi
hàng năm, chi phí nằm viện lên đến 1,350 tỷ Francs.
Loãng xương thường diễn biến âm thầm, không có triệu
chứng gì đặc biệt, cho nên rất khó phát hiện. Thường chỉ
được chẩn đoán khi bệnh đã nặng hoặc có biến chứng gãy
xương. Lúc này việc điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng
và điều trị hậu quả do loãng xương gây ra, việc điều trị cũng
lệch chuẩn so với giá trị trung bình của người trưởng thành
trẻ tuổi, ở bất kỳ vị trí nào của xương.
+ Loãng xương nặng khi T-score < 2,5 và kèm theo gãy
xương. Vị trí gãy hay gặp là cổ xương đùi, đốt sống cổ, đầu
dưới xương cẳng tay.
- Định nghĩa của WHO 2001: Loãng xương được đặc trưng
bởi sự thay đổi sức mạnh của xương. Sức mạnh này được
đặc trưng bởi mật độ xương và chất lượng xương. Chất
lượng xương được đánh giá bởi cấu trúc của xương, chu
chuyển xương, độ khoáng hóa, tổn thương tích lũy, tính chất
của các chất cơ bản của xương. Trong đó, chu chuyển xương
đóng một vai trò quan trọng.
Chúng ta đều biết, quá trình hủy và tạo xương luôn liên tục
diễn ra trong cơ thể, nếu quá trình này cân bằng thì mật độ
xương sẽ bình thường. Nếu quá trình hủy xương lớn hơn tạo
xương sẽ dẫn đến loãng xương. Tuy nhiên, nếu quá trình hủy
và tạo xương cân bằng nhưng diễn ra quá nhanh (chu chuyển
xương nhanh) thì gây ra giảm sức mạnh của xương. Do vậy,
sức mạnh của xương là một thông số rất quan trọng, thậm
chí còn quan trọng hơn cả mật độ xương. Các thông số về
sức mạnh của xương hiện đang được nghiên cứu trong
phòng thí nghiệm để tìm ra các chỉ số có thể ứng dụng trên
lâm sàng. Hiên nay, mật độ xương vẫn là tiêu chuẩn vàng để
đánh giá sớm nhất tình trạng loãng xương và dự đoán gãy
xương trên lâm sàng.
Bệnh loãng xương.
Loãng xương là bệnh rất hay gặp ở người
có tuổi, đặc biệt ở phụ nữ. Người bị loãng
xươngthường xuyên bị đau nhức cơ thể, xương
rất giòn và dễ gãy làm ảnh hưởng nhiều đến
này kéo dài làm cho kết cấu xương bị thưa loãng.
Thiếu các vi chất dinh dưỡng như: calci, phospho, magie,
albumin dạng keo, acid amin… Sự suy giảm miễn dịch cũng
góp phần gây chứng loãng xương.
Các yếu tố nguy cơ
Tuổi, giới: nữ trên 50 tuổi (cứ 5 người thì một người loãng
xương); nam trên 60 (cứ 5 người có 1 ngườiloãng xương).
Tuổi càng cao thì hoạt động của tạo cốt bào càng giảm và
hoạt động của hủy cốt bào càng tăng, trong khi sự hấp thu
calci ở ruột giảm đi và sự tái hấp thu calci ở ống thận cũng
giảm. Ngoài ra ở người cao tuổi, các nội tiết tố giảm, hấp thu
vitamin D cũng giảm
Di truyền: có một số gen liên quan đến giảm mật độ xương
và loãng xương.
Yếu tố gia đình: người có mẹ và chị gái bị loãng xương thì
nguy cơ cao bị loãng xương.
Dinh dưỡng và thể chất: thấp bé nhẹ cân, chế độ ăn thiếu
dinh dưỡng, thiếu calci, thiếu vitamin D. Lối sống tĩnh tại ít
vận động, hút thuốc, uống rượu nhiều.
Bệnh lý: Các tình trạng gây giảm hormon sinh dục: mãn
kinh, cắt buồng trứng, mất kinh kéo dài, không sinh đẻ ;
cường cận giáp, cường tuyến giáp, đái tháo đường phụ thuộc
insulin; viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, biến
dạng cột sống; hội chứng Cushing, đa u tủy xương; bệnh dạ
dày ruột gây rối loạn hấp thu, chán ăn, bệnh gan mật, suy
thận, tăng calci máu, suy tủy, sau ghép phủ tạng, bất động
kéo dài, ung thư, thiếu máu huyết tán, bệnh Hemoglobin,
bệnh tạo xương bất toàn
Việc sử dụng một số thuốc cũng là những nguyên nhân gây
loãng xương. Các thuốc có khả năng gây loãng xương:
chế vận động cột sống, cánh chậu, bả vai. Đau làm cho cột
sống cứng đờ, co thắt các cơ cạnh cột sống, gõ ấn vào các
gai sau đốt sống đau tăng và lan tỏa. Đau tăng khi vận động,
đứng, ngồi lâu, đau giảm khi nghỉ ngơi.
Ngoài ra có thể thấy bệnh nhân loãng xương bị tái phát từng
đợt, thường sau khi vận động nhiều, chấn thương nhẹ, thay
đổi thời tiết. Đôi khi có hội chứng rễ thần kinh biểu hiện
bằng đau thần kinh hông to, đau thần kinh liên sườn vùng
ngực bụng. Ở bệnh nhân loãng xương còn có thể thấy cột
sống giảm dần chiều cao, biến dạng đường cong sinh lý dẫn
đến gù vùng lưng hay thắt lưng, chiều cao cơ thể giảm đi rõ
rệt so với khi còn trẻ tuổi. Xương dễ gẫy, đôi khi chỉ một
chấn thương nhẹ cũng làm gẫy cổ xương đùi, gẫy đầu dưới
xương quay, gẫy lún đốt sống.
Điều trị loãng xương thế nào?
Đối với bệnh nhân loãng xương việc dùng thuốc là điều tất
yếu. Nếu bệnh nhân có đau nhiều, thì có thể dùng thuốc
giảm đau và nên dùng nhóm non-steroid, không dùng
corticoid. Tiếp đến, bệnh nhân cần được bổ sung calci đường
uống, vitamin D, fluorur natri… theo chỉ định của thầy
thuốc.
Đối với loãng xương tuổi mãn kinh, typ I có thể bổ sung
bằng nội tiết tố sinh dục bằng cách cho phối hợp cả
oestrogen và progesteron để tránh tai biến ung thư tử cung.
Có thể dùng livial (tibolone), raloxifene có tác dụng chọn lọc
trên xương không tác dụng nội tiết. Với loãng xương người
già, typ II, nên cho bệnh nhân dùng testosteron (Andriol
nang), hoặc Durabulin (Nandrolone phenylpropionat, tiêm
bắp).
Ngoài ra có thể cho bệnh nhân bổ sung thyrocalcitonin
lượng calci cần thiết cho cơ thể.
Ở độ tuổi này, sau khi đã trải qua quá trình sinh đẻ, nuôi
con và lượng estrogen trong cơ thể suy giảm làm giảm khả
năng hấp thụ calci khiến chị em đối mặt với nguy cơ loãng
xương cao.
Chị Cúc (35 tuổi, Trợ lý ngành hàng, Cần Thơ) chia sẻ: “Do
công việc bận rộn và phải đi công tác nhiều nên chế độ ăn
uống, thể dục của tôi cũng thất thường. Dạo này cảm thấy
hay bị nhức lưng/ cột sống, mỏi tay, chân. Vừa rồi đi khám
sức khỏe tổng quát do công ty tổ chứctôi mới biết là do bị
thiếu hụt calci nhiều nên bị bệnh thiếu xương (giai đoạn đầu
của bệnh loãng xương), tôi hết sức lo lắng và tìm giải pháp
bổ sung calci và vitamin D phù hợp với tính chất công việc
của mình.”
Chị Hòa (37tuổi, HCM) cũng cho hay: Sau khi sinh 2 đứa
con cộng với việc vừa phải đi làm ở công ty vừa chăm sóc
chồng con, thời gian gần đây tôi cảm thấy sức khỏe thay đổi
nhanh chóng. Đặc biệt là rất hay bị tê tay chân, đi lại thì
xương khớp kêu răng rắc hoặc bị vọp bẻ (chuột rút) làm cho
mình cảm thấy rất mệt mỏi. Tôi rất lo mình không đủ sức
khỏe để chăm sóc chồng con nên tìm hiểu thông tin và biết
đó là dấu hiệu của bệnh loãng xương do thiếu calci ở độ tuổi
của mình.”
Theo các chuyên gia y tế, loãng xương là căn bệnh âm thầm
chị em phụ nữ ít để ý nhưng lại là nguyên nhân chính gây ra
gãy xương làm ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc
sống và việc chăm sóc gia đình. Vì vậy, phụ nữ chúng ta cần
hành động ngay hôm nay để bảo vệ khung xương của mình
bằng các biện pháp đơn giản sau:
Tập thể dục: Ai cũng biết tác dụng tuyệt vời của các bài tập
vì sản phẩm này thỏa mãn được nhu cầu, mong muốn của
mình.”
Người xưa có câu “Đàn ông xây nhà đàn bà xây tổ ấm” để
có đủ sức vóc xây dựng tổ ấm của mình thật bền vững chị
em đừng quên bảo vệ khung xương của mình ngay từ hôm
nay.
Phòng và chữa trị
bệnh loãng xương
như thế nào?
Bệnh loãng xương có thể gây tàn phế và tử
vong. Bệnh ngày một nhiều do mức sống và
tuổi thọ ngày càng cao. Tuy điều trị có thể thu
được nhiều kết quả nhưng chưa có biện pháp
nào ngăn chặn được sự tiến triển của bệnh. Do
đó việc phòng bệnh càng trở nên cần thiết và
hiệu quả.
Làm thế nào để biết điều trị có kết quả?
Bệnh loãng xương cần được điều trị toàn diện, liên tục và lâu
dài. Có thể đánh giá kết quả điều trị cần dựa vào triệu trứng
lâm sàng và sự cải thiện về tỷ lệ khoáng chất (BMD) và khối
lượng bộ xương (BMC) so với trước khi điều trị
Bệnh loãng xương có chữa được không?
Bệnh loãng xương có thể được cải thiện nhờ một chế độ ăn
uống sinh hoạt và thuốc men hợp lý. Các nghiên cứu theo
dõi dài hạn cho thấy việc điều trị đã làm tăng được khối
lượng khoáng chất của xương, giảm đau đớn, phòng ngừa
được gẫy xương, giảm các nguy cơ gẫy xương cải thiện
chất lượng cuộc sống cho người có tuổi.
Các biện pháp để giảm loãng xương
Tăng thêm thức ăn giàu canxi: việc bổ sung canxi vào thức
vỡ xương hông trên 50 tuổi đã tử vong chỉ sau
có một năm bởi các biến chứng.
Khi bước vào độ tuổi 35, phụ nữ có nguy cơ loãng xương
cao do thói quen ăn uống thiếu cân bằng dinh dưỡng, không
cung cấp đủ lượng calci cần thiết cho cơ thể. Ở độ tuổi này,
sau khi đã trải qua quá trình sinh đẻ, nuôi con và lượng
estrogen trong cơ thể suy giảm làm giảm khả năng hấp thụ
calci khiến chị em đối mặt với nguy cơ loãng xương cao.
Bạn có lo lắng cho khung xương của mình? Bạn có quan tâm
đến giải pháp phòng ngừa loãng xương đơn giản?
InfoGraphic sau đây sẽ cung cấp cho bạn những thông tin
hữu ích giúp bạn chăm sóc cho khung xương chắc khỏe
class="bi x0 ya0 w4 h18"