ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SỎI NIỆU QUẢN BẰNG TÁN SỎI NỘI SOI VỚI NGUỒN NĂNG LƯỢNG XUNG HƠI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN - Pdf 15

ĐẶT VẤN ĐỀ
Sỏi tiết niệu đứng thứ 3 trong những bệnh lí hay gặp nhất của
đường tiết niệu, chỉ sau nhiễm trùng niệu và bệnh lí liên quan tiền liệt tuyến.
Trong đó sỏi niệu quản chiếm 20-40%, đứng thứ 2 sau sỏi thận. Sỏi niệu quản
có thể kết hợp với sỏi ở vị trí khác nhau của đường tiết niệu .
Sỏi niệu quản đa số xuất phát từ sỏi thận. Trong quá trình hình thành ,
sỏi di chuyển xuống niệu quản, do sự viêm phù nề niêm mạc khi di chuyển
của sỏi và kích thước của sỏi mà sỏi không trôi được xuống bàng quang và
đái ra ngoài. Sỏi niệu quản là một bệnh lí cần phải điều trị vì niệu quản là con
đường độc đạo dẫn nước tiểu từ thận xuống bàng quang. Nếu niệu quản bị tắc
do sỏi thì thận sẽ giãn dần và ứ nước, ứ mủ, bị hủy hoại dẫn đến nguy cơ suy
thận và mất chức năng thận.
Hiện nay, có nhiều phương pháp điều trị hiệu quả sỏi niệu quản. Theo
khuyến cáo của hội niệu khoa Mỹ (AUA) và Châu Âu (EUA), tán sỏi ngoài
cơ thể là phương tiện được ưu tiên lưạ chọn hàng đầu trong điều trị sỏi niệu
quản không biến chứng.
Tán sỏi nội soi ngược dòng được chỉ định cho những trường hợp sỏi
niệu quản đoạn chậu, không được khuyến cáo cho những sỏi niệu quản đoạn
cao do khó tiếp cận được sỏi và sỏi dễ chạy lên thận, dẫn đến cuộc mổ thất
bại. Gần đây, nhờ những tiến bộ kỹ thuật với ống soi nhỏ và những phương
tiện phá sỏi hiệu quả nhưng ít gây tổn thương thành niệu quản như xung hơi
và laser, nội soi niệu quản tán sỏi được chỉ định rộng rãi hơn. Theo Nguyễn
Kim Tuấn (2013) tại Bệnh viện trung ương Huế trên 1276 bệnh nhân nội soi
1
tán sỏi ngược dòng, tỷ lệ tán thành công 92,55%, thất bại 7,45%, trong đó sỏi
niệu quản đoạn bụng thất bại 4,66%, sỏi tiểu khung thất bại 2,79%. Thất bại
do đặt máy 2,11%, sỏi chạy lên thận khi tán bằng laser 1,83%, khi tán bằng
xung hơi là 24,52%.
Tại bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên đã triển khai tán sỏi nội
soi ngược dòng trong điều trị sỏi niệu quản với nguồn năng lượng xung hơi từ
2002 và dần trở thành phẫu thuật thường quy, giúp bệnh nhân rút ngắn thời

Niệu quản đường kính 4-6mm cấu tạo gồm nhiều lớp.
3
Thành niệu quản dày 1 mm có cấu trúc gồm 3 lớp
- Lớp niêm mạc: Niêm mạc niệu quản liên tục với bể thận ở trên và
bàng quang ở dưới, bao gồm lớp tế bào biểu mô chuyển tiếp được đệm bởi tổ
chức sợi xơ có khả năng co giãn. Cấu tạo lớp niêm mạc cho phép niệu quản
căng và xẹp khi co bóp khi có nhu động. Lớp niêm mạc có độ dày khác nhau,
ở đoạn niệu quản trong thành bàng quang có sáu lớp tế bào và đoạn niệu quản
chỗ nối với bể thận có hai lớp tế bào.
- Lớp cơ: Gồm 3 lớp, lớp trong là lớp cơ dọc, lớp giữa là lớp cơ vòng,
lớp ngoài thô sơ gồm vài bó cơ dọc. Lớp cơ niệu quản sắp xếp theo kiểu vòng xoắn.
- Lớp bao ngoài: Lớp áo vỏ xơ ở trên, liên tiếp với lớp vỏ xơ của thận
và ở dưới tiếp với vỏ xơ của bàng quang. Có nhiều mạch máu nối tiếp nhau,
hệ thống thần kinh và một số tế bào hạch chi phối hoạt động của niệu quản.
Hình 1.2. Cấu tạo vi thể niệu quản .
• Liên quan giải phẫu
- Phẫu thuật tiết niệu đòi hỏi phải hiểu rõ về mối liên quan giải phẫu.
- Niệu quản bắt đầu từ vị trí nối giữa bể thận- niệu quản,nằm sau động
mạch và tĩnh mạch thận. Sau đó đi xuống dưới dọc theo cạnh trước của cơ
4
đáy chậu. Niệu quản phải liên quan đại tràng lên, manh tràng, ruột thừa và
mạc treo. Niệu quản trái liên quan đại tràng xuống, đại tràng sigma và mạc
treo. Đi được 1/3 đoạn từ thận xuống bàng quang, động mạch sinh dục chạy
chéo trước niệu quản. Khi đi vào đoạn chậu, niệu quản chạy trước động mạch
chậu, thường ở đoạn tách của động mạch chậu chung ra các nhánh động mạch
chậu trong, chậu ngoài .
Do nằm gần 1 số đoạn ruột nên khi ruột bị viêm, ác tính từ hồi tràng,
ruột thừa , đại tràng phải, đại tràng trái, đại tràng sigma có thể liên quan đến
niệu quản gây rò hoặc tắc nghẽn niệu quản. Ở nữ ,niệu quản khi vào đáy chậu
nằm sau động mạch tử cung và liên quan gần tới cổ tử cung.vì vậy khi cắt tử

và nữ.
- Nữ giới: niệu quản khi rời thành chậu hông đi vào đáy của dây chằng
rộng tới mặt bên của âm đạo rồi đổ ra trước âm đạo và sau bàng quang. Khi
qua phần giữa dây chằng rộng niệu quản bắt chéo sau động mạch tử cung.
- Nam giới: niệu quản chạy phía trước trực tràng, lách giữa bàng quang
và túi tinh, bắt chéo ống tinh ở phía sau .
6
+ Đoạn bàng quang: Dài từ 1 - 1,5 cm, niệu quản đi vào bàng quang
theo hướng chếch từ trên xuống dưới vào trong và ra trước. Niệu quản trước
khi đổ vào bàng quang đã chạy trong thành bàng quang một đoạn, tạo thành
một van sinh lý có tác dụng tránh trào ngược nước tiểu từ bàng quang lên niệu
quản. Hai lỗ niệu quản cách nhau 2,5 cm khi bàng quang rỗng và 5 cm khi
bàng quang đầy .
Trên lâm sàng, dựa trên phim chụp X-Quang, chia niệu quản ra thành 3
đoạn .
- Niệu quản đoạn trên (upper ureter): Từ khúc nối bể thận - niệu quản
đến bờ trên của xương cùng.
- Niệu quản đoạn giữa (middle ureter): Từ bờ trên xương cùng chạy
xuống bờ dưới xương cùng.
- Niệu quản đoạn dưới (lower ureter): Chạy từ bờ dưới xương cùng
xuống bàng quang.
Hình 1.4. Phân chia niệu quản.
I: Niệu quản đoạn 1/3 trên; II: Niệu quản 1/3 giữa; III: Niệu quản 1/3
dưới; UO( Ureteral orifice): Vị trí lỗ niệu quản
Mũi tên đậm chỉ động, tĩnh mạch chậu chung .
7
• Hệ thống mạch máu và thần kinh của niệu quản
Hình 1.5. Mạch máu nuôi niệu quản và bàng quang .
- Mạch máu cung cấp cho niệu quản từ nhiều nguồn: Nhánh từ động
mạch thận cấp máu cho 1/3 trên niệu quản và bể thận. Các nhánh nhỏ từ động

dàng giãn nở. Niệu quản có 3 chỗ hẹp tự nhiên có thể nhận thấy trong nội soi
là: chỗ nối niệu quản bể thận, đoạn niệu quản chậu bắt chéo động mạch và
niệu quản đổ vào bàng quang. Mức độ hẹp tùy vào từng bệnh nhân khác nhau,
thông thường không ảnh hưởng đến nội soi. Tuy nhiên một số trường hợp hẹp
nhiều không đặt được ống soi niệu quản nếu không tiến hành nong niệu quản.
Đường kính lòng niệu quản nơi nối tiếp bể thận niệu quản trung bình 2mm,
chỗ niệu quản bắt chéo động mạch chậu 4cm, chỗ nối tiếp niệu quản bàng
9
quang, lỗ niệu quản 3- 4mm. Đây chính là giải phẫu của niệu quản ứng dụng
trong nội soi đó là liên quan chặt chẽ đến tư thế đặt máy nội soi niệu quản
ngược dòng. Các đoạn khác của niệu quản có đường kính từ 5- 6mm . Sỏi
niệu quản đoạn bắt chéo động mạch chậu có thể nhìn thấy rõ niệu quản nẩy
theo nhịp đập của động mạch. Tại vị trí này khi tán sỏi đề phòng tai biến
thủng niệu quản có thể gây nên tổn thương động mạch. Trong quá trình soi
niệu quản phải tôn trọng sự mềm mại của niệu quản. Chỉ cần đẩy dây hướng
dẫn vào thành niệu quản đoạn gấp khúc cũng có thể làm thủng niêm mạc niệu
quản. Khi đưa ống soi nếu trong lòng niệu quản không đủ rộng có thể gây trợt
niêm mạc niệu quản tạo thành một nếp gờ làm cản trở quá trình soi, nếu tiếp
tục đẩy máy lên sẽ bong niêm mạc niệu quản khỏi lớp dưới niêm mạc, gây
nên thiếu máu nuôi dưỡng và hậu quả là chảy máu và có thể làm hẹp niệu
quản sau này .
Đường uốn cong và sự di động của niệu quản: nếu nhìn từ trong niệu
quản qua ống soi thì thấy đường đi của niệu quản từ bàng quang lên bể thận
phải thay đổi hướng nhiều lần, làm cho người ta nghĩ khó có thể đưa được
ống soi cứng lên niệu quản. Tuy nhiên, nhiều tác giả đã chứng minh được
rằng có thể đưa được ống soi cứng vào trong niệu quản- bể thận ( Young-
1912, Goodman- 1977, Lyon- 1978, Perez- Castro- 1980). Ống soi sau khi đi
qua lỗ niệu quản phải hướng về phía sau đi sát thành bên khung chậu, rồi
hướng ra trước khi vượt qua động mạch chậu, tiếp tục hướng ra trước để vượt
qua cơ đái chậu và hướng về phía sau khi lên bể thận. Sự ra đời của ống soi

thừa niệu quản
11
Một số tác giả không tán thành cách chia này , vì các dị tật đường niệu
hay rối loạn chuyển hóa chỉ là những điều kiện thuận lợi để hình thành sỏi.
Do vậy, sỏi cơ thể hay sỏi cơ quan chỉ là một.
1.2.2. Thuyết hình thành sỏi tiết niệu
Cơ chế hình thành sỏi tiết niệu nói chung còn là vấn đề chưa được xác
định rõ ràng, một số giả thuyết được đưa ra: Thuyết “Keo-tinh thể’’ hay còn
gọi là thuyết keo che chở của Butt (1952). Theo giả thuyết này, tất cả các loại
dịch trong cơ thể như dịch mật, dịch tụy, nước bọt và nước tiểu đều bao gồm
hai thành phần chính là các tinh thể và chất keo( hay còn gọi là chất keo che
chở). Các tinh thể bao gồm Acid Uric, Acid oxalic, Canxi, Cystin, Xanthin
các tinh thể này luôn có xu hướng lắng đọng và kết tụ với nhau tạo sỏi. Bình
thường các tinh thể này không lắng đọng tạo sỏi được do lưu tốc dòng nước
tiểu, các chất keo che chở luôn chuyển động va chạm và làm cho các tinh thể
cũng chuyển động theo, nếu vì một lý do nào đó, các chất keo che chở giảm đi
về số lượng hay chất lượng (trọng lượng phân tử giảm đi, chuyển động giảm),
thì các tinh thể không bị va chạm có điều kiện lắng đọng tạo sỏi.
Ngoài ra sự hình thành sỏi còn được giải thích bởi thuyết “Hạt nhân”,
thuyết nhiễm khuẩn, giả thuyết Randall (1973), thuyết tác dụng của
Mucoprotein hay thuyết “Khuôn đúc”. Tuy nhiên mỗi thuyết chỉ giải thích
được một khía cạnh nhỏ của qua trình hình thành sỏi phức tạp và đang còn
được tiếp tục nghiên cứu.
1.2.3. Thành phần hoá học của sỏi
Thành phần tinh thể tạo sỏi gồm có 5 loại
+ Calcium oxalate: Hay gặp nhất, chiếm 60-90% các loại sỏi, màu vàng
hoặc đen, sỏi cản quang, bề mặt xù xì và nhiều gai, sỏi rất rắn.
+ Calcium phosphate: Dưới dạng Brushite hayApatite, màu trắng, có
nhiều lớp cản quang, kích thước lớn, dễ vỡ khi tán.
12

• Yếu tố ngoại sinh
- Chế độ ăn, uống: Ở người trưởng thành uống nước ít hơn (< 1200ml/
ngày) là tăng nguy cơ hình thành sỏi, uống nhiều nước làm loãng nước tiểu có
thể làm thay đổi hoạt động ion giúp cho ngăn cản sự hình thành sỏi. Ăn một số
thức ăn mà nước tiểu bài tiết ra nhiều các chất tạo sỏi như: Purine (acid uric),
oxalate, hoặc calcium, phosphate…
- Nghề nghiệp: Sỏi niệu thường gặp ở những nghề nghiệp thường phải
ngồi nhiều, nghề hành chính. Những người làm việc trong môi trường nhiệt
độ cao cũng có nguy cơ bị sỏi niệu.
- Địa lý, khí hậu: Mối liên quan giữa những yếu tố địa dư lý, khí hậu
với nguy cơ mắc bệnh sỏi tiết niệu rất phức tạp, trong khi sỏi thận phổ biến ở
những vùng có khí hậu nóng thì một số nhóm cư dân lại có tỷ lệ mắc thấp
( người da đen, thổ dân châu phi), cũng như cư dân ở nhiều vùng ôn đới lại có
tỷ lệ mắc cao, điều đó có liên quan đến chế độ ăn quá dư thừa mà không cân
đối, ít vận động, uống ít nước của người phương tây. Khí hậu nóng ẩm theo
mùa làm tăng tỷ lệ bệnh sỏi tiết niệu do hiện tượng mất nước nhiều .
1.3. Biến đổi giải phẫu và sinh lí đường tiết niệu trên do sỏi niệu
quản
Khi sỏi mắc tại một vị trí nào của đường tiết niệu, gây nên các thương
tổn niêm mạc đường tiết niệu do cọ sát, gây cản trở lưu thông dòng nước tiểu,
dẫn đến ứ đọng phía trên hòn sỏi, xơ hóa thành niệu quản. Sự ứ đọng của nước
tiểu lâu ngày dẫn đến các biến chứng khác và dần dần phá hủy thận bên có sỏi.
1.3.1. Giai đoạn còn bù
Niêm mạc phù nề, thành niệu quản dày lên, niệu quản tăng nhu động để
tống nước tiểu qua chỗ bế tắc. Nếu tắc nghẽn lâu ngày niệu quản sẽ dài ra
14
thêm, bị xoắn vặn và các dải mô xơ phát triển trong thành niệu quản, chính
các dải mô xơ này sẽ gây tình trạng tắc nghẽn thứ phát ở niệu quản.
1.3.2. Giai đoạn mất bù
Áp lực phía trên niệu quản ngày càng tăng, thành niệu quản ngày càng

nhân thận đơn độc, sỏi niệu quản hai bên, hoặc sỏi niệu quản khi thận bên kia
bệnh lý. Đây là biến chứng nặng, khi nước tiểu < 400ml/24 giờ (thiểu niệu),
hoặc < 100ml /24 giờ (vô niệu).
• Suy thận cấp và mạn
Đây là biến chứng nặng của sỏi niệu quản mà không được giải phóng
niệu quản kịp thời. Sỏi có thể gây tắc niệu quản hoàn toàn cấp tính, ứ đọng
nước tiểu ở thận, trong một số trường hợp gây phản xạ ngừng bài tiết của
thận. Nhiễm khuẩn tác động đến tính chất bệnh lý của sỏi niệu quản làm tăng
nguy cơ suy thận cấp và mạn. Tuỳ theo mức độ nặng nhẹ mà mức độ hồi phục
của thận khác nhau .
Nhìn chung các nghiên cứu đều cho thấy sỏi niệu quản đều gây tổn
thương thận và niệu quản. Bởi vậy cần can thiệp sớm nhằm tránh các biến
cứng nặng nề do sỏi niệu quản gây ra.
1.4. Chẩn đoán sỏi niệu quản
1.4.1. Triệu chứng lâm sàng
• Triệu chứng cơ năng
- Cơn đau quặn thận (điển hình): Đây là cơn đau kịch phát, xuất hiện
đột ngột sau khi bệnh nhân làm các động tác cố gắng hoặc lao động nặng
(gánh vác, chạy nhảy ). Đau dữ dội như nghiền nát phủ tạng, đau nhất là ở
vùng thắt lưng, lan dọc xuống dưới kết thúc ở bộ phận sinh dục ngoài hay mặt
16
trong đùi. Bệnh nhân không thể nằm yên trên giường được. Ấn vào vùng thắt
lưng gây đau dữ dội (phản ứng cơ thắt lưng).
Kèm theo có thể nôn, bụng chướng, bí trung đại tiện, tiểu rắt buốt, tiểu
máu toàn bãi. Cơn đau kéo dài vài chục phút, thậm chí vài ngày .
- Đau quặn thận không điển hình: Đau âm ỉ vùng thắt lưng, tăng lên khi
lao động nặng hoặc đấm nhẹ vào vùng thắt lưng. Đau không có hướng lan .
- Rối loạn tiểu tiện (đái rắt, đái buốt): Gặp trong trường hợp sỏi niệu
quản nằm sát thành bàng quang, kích thích bàng quang gây nên các triệu
chứng như viêm bàng quang.

Xác định vị trí của sỏi trên đường tiết niệu, kể cả sỏi không cản quang
Đánh giá hình dáng của đài bể thận và của cả hệ tiết niệu
Đánh giá sự lưu thông của thận- niệu quản và cả hệ tiết niệu
* Chụp niệu quản bể thận ngược dòng
Phát hiện vị trí sỏi, sự lưu thông của niệu quản, các biến đổi giải phẫu
của niệu quản, phân biệt các trường hợp vôi hóa hạch hoặc tĩnh mạch với sỏi
niệu quản.
* Siêu âm hệ tiết niệu: Siêu âm chẩn đoán các bệnh tiết niệu rất có giá
trị sau chụp X quang. Siêu âm không chỉ đánh giá được tình trạng ứ nước của
18
thận mà còn có thể phát hiện được tất cả các viên sỏi trong đường tiết niệu
trên với điều kiện kích thước sỏi lớn hơn 5mm, bất kể thành phần của sỏi.Độ
nhạy phát hiện sỏi của siêu âm từ 37 đến 64%.
* Chụp cắt lớp vi tính và MSCT: Là phương tiện tốt trong chẩn đoán
sỏi niệu quản, đặc biệt sỏi niệu quản nhỏ, sỏi không cản quang, hoặc các
trường hợp suy thận có creatinin máu tăng không chụp được UIV thì chỉ định
chụp cắt lớp vi tính không tiêm thuốc cản quang.
* Các xét nghiệm máu, sinh hóa, nước tiểu: Đánh giá mức độ thiếu
máu, chức năng thận, tình trạng nhiễm khuẩn tiết niệu kèm theo
Nhìn chung chẩn đoán sỏi niệu quản chủ yếu dựa vào siêu âm và chụp
X quang hệ tiết niệu và chụp niệu đồ tĩnh mạch .
Hình 1.7. Ba vị trí hay gặp của sỏi niệu quản .
1.5. Các phương pháp điều trị sỏi niệu quản
1.5.1. Điều trị nội khoa
Điều trị nội khoa thường được chỉ định khi sỏi niệu quản có kích thước
nhỏ < 5 mm, thận không bị ứ nước, hoặc ứ nước nhẹ, cơn đau quặn thận đáp
ứng với thuốc giảm đau.
19
Điều trị cơn đau quặn thận: Điều trị bằng các thuốc giảm đau, chống
co thắt, giãn cơ trơn, chống phù nề. Nếu kèm theo sốt, cần phối hợp giữa

+ Sỏi nhiễm khuẩn hoặc nhiễm khuẩn tiết niệu.
+ Bệnh nhân nữ mang thai.
+ Những bệnh nhân mắc các bệnh đang tiến triển như suy gan, suy
thận, các bệnh tim mạch, tiểu đường, rối loạn đông máu.
+ Bệnh nhân có thành lưng quá dày như quá béo, gù vẹo.
* Biến chứng
Có thể gặp là cơn đau quặn thận và tắc nghẽn đường tiết niệu do sỏi di
chuyển sau tán sỏi
1.5.4. Tình hình tán sỏi niệu quản qua nội soi trên thế giới
• Lịch sử phẫu thuật nội soi tán sỏi niệu quản .
- Năm 1912, Hugh H. Young là người đầu tiên soi niệu quản bằng ống
soi bàng quang cứng cỡ 9,5F cho một bệnh nhi bị giãn niệu quản bẩm sinh.
Năm 1960 hệ thống ống soi của Hopkin đã phát triển, có khả năng tăng dẫn
truyền ánh sáng, ống soi cứng và mềm có kích thước nhỏ giúp dễ dàng đưa
ống soi lên niệu quản đoạn trên Goodman (1977) và Lyon (1978) lập lại ý
tưởng soi niệu quản với ống soi bàng quang cỡ 11F và chủ động nong niệu
quản trước khi soi. Đến năm 1979, Lyon cùng với Richard Wolf lần đầu tiên
đã cho ra đời ống soi niệu quản cứng có chiều dài 23 cm, cỡ 13 đến 16F, dựa
trên mô hình của ống soi bàng quang, cho phép đưa ống soi lên niệu quản cả
nam và nữ. Sau đó năm 1980 phẫu thuật viên niệu khoa Eerique Perez Castro
phối hợp với công ty Karl Storz đã chế ra ống soi cứng dài 40 cm, cỡ 09 -
11F, bắt đầu đánh dấu cho sự ra đời và phát triển của ống soi niệu quản bể
21
thận hiện đại như ngày nay, cho phép soi và đánh giá được đường tiết niệu
trên.
- Tán sỏi nội soi có một vị trí quan trọng trong điều trị sỏi niệu quản,
việc sử dụng máy nội soi ống mềm có đường kính nhỏ giảm tỷ lệ biến chứng và
tăng tỷ lệ thành công.
- Với các dụng cụ tán sỏi và lấy sỏi ít gây sang chấn cho niêm mạc niệu
quản ngày càng được đưa vào sử dụng rộng rãi. Các viên sỏi to hơn và ở cao

quản đoạn trên kích thước <10 mm, tán sỏi nội soi ngược dòng là lựa chọn
thứ 2 sau tán sỏi ngoài cơ thể. Nếu sỏi >10mm có thể lựa chọn tất cả các
phương pháp điều trị ít xâm lấn trong đó có nội soi tán sỏi ngược dòng.
Do đó, nội soi ngược dòng có thể chỉ định cho sỏi < 1,5cm. Tuy nhiên
sỏi niệu quản đoạn dưới có thể chỉ định kích thước lớn hơn đoạn trên .Sỏi có
kích thước lớn tán sỏi nội soi hiệu quả thấp hơn.
- Sỏi hai bên và suy thận
Tán sỏi nội soi với bệnh nhân sỏi niệu quản hai bên, suy thận là giải
pháp can thiệp ít xâm lấn và hiệu quả cho bệnh nhân . Sau tán phải đặt sonde
JJ nhằm dẫn lưu thận, điều trị suy thận.
Tuy nhiên có thể phải chạy thận nhân tạo trước khi tán sỏi để đảm bảo
an toàn cho bệnh nhân, lấy hết sỏi và đặt thông JJ sau khi tán giúp cho niệu
quản lưu thông tốt.
- Chức năng thận
Nên chỉ định cho trường hợp chức năng thận tốt và trung bình, đây là
điều kiện cho thận có nhiều nước tiểu, đẩy các mảnh vụn sau tán xuống bàng
quang
23
- Các trường hợp khác
Sỏi niệu quản tái phát
Mảnh sỏi sót trên thận rơi xướng niệu quản sau : tán sỏi ngoài cơ thể
,lấy sỏi qua da , phẫu thuật mở.
Sỏi niệu quản sót sau : phẫu thuật mở, lấy sỏi qua nội soi niệu quản.
Bệnh nhân có sỏi thận có các chống chỉ định tương đối của tán sỏi
ngoài cơ thể , bệnh nhân đang đặt máy tạo nhịp hoặc phá rung, béo phì.
Sỏi niệu quản đã điều trị nội khoa thất bại
* Chống chỉ định
- Chống chỉ định tuyệt đối
+ Hẹp niệu đạo không đặt được ống soi niệu quản
+ Bệnh nhân biến dạng khớp háng , cột sống không nằm được tư thế

1988),lạc đường, hẹp niệu quản (1,4%), nhiễm khuẩn tiết niệu và chảy
máu.Thủng niệu quản và lạc đường có thể xảy ra trong khi đặt ống soi và tán
sỏi nội soi. Tai biến này gặp ở những bệnh nhân dính sau kỹ thuật, niệu quản
gấp khúc, có biến đổi giải phẫu. Hẹp niệu quản là hậu quả của tổn thương
niệu quản , thủng niệu quản. Ống soi niệu quản kích thước lớn (> 10F) dễ gây
tổn thương và gây hẹp niệu quản. Sử dụng ống soi có đường kính nhỏ, ống soi
mềm, đặt stent niệu quản, tỷ lệ thủng và hẹp niệu quản được giảm xuống
(1,7% và 0,7%) (Blute 1988; Abdel Razzak & Bagley 1992).
• Tai biến trong tán sỏi
* Tổn thương niêm mạc niệu quản: Khi niêm mạc tổn thương đến lớp
cơ. Biến chứng này xảy ra khi nong niệu quản, đưa máy soi vào lòng niệu
quản hoặc khi gắp các mảnh sỏi nhỏ.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status