tiểu luận xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới, cơ hội và thách thức cho việt nam - Pdf 15

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN KINH TẾ QUỐC TẾ
Đề tài: Tác động của các xu hướng vận động của nền kinh tế thế
giới đến Việt Nam đưa lại cho Việt Nam những cơ hội, thách thức
như thế nào trong việc hoạch định, tổ chức thực hiện các chính
sách kinh tế của Việt Nam.
Hà Nội – 03/2014
Giáo viên hướng dẫn : GS . TS Đỗ Đức Bình
Nhóm thực hiện
Lớp
: Nhóm 4
: Cao học 22K
Nền kinh tế thế giới ngày nay đang chịu sự tác động của rất nhiều
nhân tố khác nhau, cả nhân tố kinh tế, kỹ thuật, xã hội, chính trị cũng như các
nhân tố tự nhiên. Sự vận động của nền kinh tế thế giới cũng diễn ra với nhiều xu
thế khác nhau, thậm chí chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Từ những năm 80 của thế
kỷ XX cho tới thế kỉ XXI, nền kinh tế thế giới vẫn vận động theo bốn xu thế
chính và ngày càng trở nên đa dạng, sâu sắc hơn. Trong bài tiểu luận này, nhóm
4 sẽ đi đến trình bày những cơ hội cũng như thách thức của Việt Nam dưới tác
động của 4 xu thế trên cũng như đưa ra một số giải pháp kiến nghị.
Xu hướng 1: Cách mạng khoa học & công nghệ diễn ra như vũ
bão làm cho từng quốc gia có những thay đổi đột biến.
Cuộc cách mạng khoa học & công nghệ trên thế giới tiếp tục phát triển với nhịp
độ ngày càng nhanh, có khả năng tạo ra những thành tựu mang tính đột phá, khó
dự báo trước và có ảnh hưởng to lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội loài người.
Nhờ những thành tựu to lớn của khoa học & công nghệ, đặc biệt là công nghệ
thông tin - truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, v.v , xã hội
loài người đang trong quá trình chuyển từ nền văn minh công nghiệp sang thời
đại thông tin, từ nền kinh tế dựa vào các nguồn lực tự nhiên sang nền kinh tế

tri thức khoa học, công nghệ, các nguồn lực và kinh nghiệm tổ chức quản lý tiên
tiến của nước ngoài để nhanh chóng tăng cường năng lực khoa học & công nghệ
quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ hai, tận dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học &
công nghệ hiện đại, nước ta có thể đi thẳng vào những công nghệ hiện đại để rút
ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và khoảng cách phát triển kinh tế
so với các nước đi trước. Với tiềm năng trí tuệ dồi dào, nếu có một chiến lược
phát triển nguồn nhân lực đúng đắn, nước ta có thể sớm đi vào một số lĩnh vực
của kinh tế tri thức.
Thứ ba, quá trình đổi mới đất nước đã tạo ra những tiền đề mới cho
sự phát triển khoa học và công nghệ của nước ta trong thời gian tới. Nền kinh tế
nước ta có tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong thời gian qua là điều kiện thuận
lợi để tăng đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ, đồng thời thúc đẩy đổi
mới công nghệ và ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong nền kinh tế,
nhất là trước sức ép về cạnh tranh trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế.
 Thách thức
Thứ nhất, Việt Nam là nước nghèo, vốn đầu tư hạn hẹp, trình độ phát
triển kinh tế và khoa học và công nghệ còn có khoảng cách khá xa so với nhiều
nước trên thế giới và trong khu vực. Trong khi bối cảnh phát triển năng động và
khó dự báo cả về khoa học & công nghệ và kinh tế của thế giới hiện đại, khả
năng nắm bắt thời cơ và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài tuỳ thuộc nhiều vào
trình độ và năng lực khoa học và công nghệ của quốc gia. Do đó, chúng ta chưa
nâng cao được năng lực và tận dụng được lợi thế của khoa học và công nghệ từ
các nước đi trước.
Thứ hai, nguồn nhân lực giá rẻ, tay nghề thấp. Trong khi xu thế phát
triển của thế giới là nền kinh tế tri thức, lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên,
giá lao động rẻ dần nhường chỗ cho lợi thế về nguồn nhân lực có trình độ
chuyên môn giỏi, có năng lực sáng tạo. Nước ta nếu không sớm chuyển đổi cơ
cấu ngành nghề, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của lực lượng lao
động thì sẽ không có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực về thu hút

hoá thông tin, phản ánh một quá trình mà thông quá đó thị trường và sản xuất ở
nhiều nước khác nhau đang trở nên ngày càng phụ thuộc lẫn nhau. Tác động của
các hành vi kinh tế toàn cầu dẫn tới hệ lụy của hệ thống chính trị thế giới, ngược
lại chính trị có tác động to lớn đối với kinh tế. Toàn cầu hóa ngày nay về bản
chất chính là sự tăng trưởng của hoạt động kinh tế nói chung đã vượt khỏi biên
giới quốc gia và khu vực.
Tác động của toàn cầu hoá hiện nay đến quá trình dân chủ hoá đời sống xã hội
diễn ra cả theo hướng tích cực lẫn theo hướng tiêu cực, vừa tạo cơ hội cho sự
phát triển, sự tiến bộ, vừa làm nảy sinh không ít những thách thức mà thế giới
nói chung và riêng Việt Nam nói riêng phải đối mặt và sớm tìm cách giải quyết
để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
 Cơ hội
Thứ nhất, toàn cầu hoá, khu vực hoá, quốc tế hoá đời sống làm cho
phát triển kinh tế được trọng tâm, mở rộng hội nhập, tăng cường hợp tác, tham
gia vào liên minh khu vực và thế giới. Vì thế mà chúng ta một mặt có thể phát
huy được lợi thế so sánh, thúc đẩy việc tham gia phân công lao động quốc tế,
tranh thủ lợi ích của việc phân bổ nguồn tài lực hợp lý, bên cạnh đó có thể thúc
đẩy quá trình chuyển giao công nghệ, giúp cho nước ta có thể khai thác nguồn
đầu tư khoa học – công nghệ từ các nước khác theo phương châm đi tắt, đón
đầu, rút ngắn thời gian xây dựng và phát triển đất nước.
Thứ hai, nó thúc đẩy sự phát triển kinh tế, thương mại và hoàn thiện
hệ thống pháp luật theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo ra
khả năng thực thi các luật lệ kinh tế khách quan trong một không gian toàn cầu
rộng lớn, thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến với môi trường kinh doanh ở
Việt Nam hơn.
Thứ ba, toàn cầu hoá tạo điều kiện cho việc giao lưu văn hoá và tư
tưởng rộng rãi giữa các nước trong khu vực và trên thế giới, làm cho con người
xích lại gần nhau hơn
Thứ tư, toàn cầu hóa tạo nhiều cơ hội đầu tư mới, tăng nhanh vòng
vốn, tạo điều kiện để đa dạng hóa các loại hình đầu tư, từ đó nâng cao hiệu qua

Ngày nay, phần lớn các quốc gia phụ thuộc vào nước ngoài để bổ
xung nguồn cung ứng nguyên liệu và lương thực, thực phẩm sống còn khác.
Những thoả thuận của GATT: Xem xét lại các hàng rào thuế quan, là những
ranh giới kinh tế của một nước, nó kìm hãm và là trở ngại cho sự phát triển
thương mại quốc tế. Những thách thức chiến lược chủ yếu lâu dài đã dịch
chuyển từ bàn cờ địa lý chính trị sang bàn cờ địa lý kinh tế. Ranh giới về kinh tế
giữa các quốc gia xét về tổng thể mà nói đã bị mờ nhạt. Nhiều quan hệ mới về
kinh tế nổi lên giữa các nước đan xen chặt chẽ với nhau tạo thành tổng thể của
nền kinh tế thế giới. Mọi tranh chấp về lợi ích đều được hoá giải bằng thương
lượng kinh tế.
Các tổ chức kinh tế, tài chính như IMF, WB, G8 (Câu lạc bộ những
nước công nghiệp phát triển), London club, Paris club, đã đứng ra làm người
giúp đỡ trực tiếp hay gián tiếp tác động đến mọi nền kinh tế của các nước để
hướng các quốc gia này về một kiểu kinh tế thị trường toàn cầu nhằm phục vụ
lợi ích cho tất cả các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Các
quan hệ kinh tế nổi cộm lên vẫn là quan hệ giữa các nước phát triển và
đang phát triển. Các nước phát triển vốn có công nghệ và kinh nghiệm
quản lý còn các nước đang phát triển có nguồn nhân lực dồi dào, trẻ, có khả
năng tiếp thu nhanh, Quan hệ này bổ xung cho nhau tạo nên một môi trường
kinh tế thế giới mới. Do đó, xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới chuyển dần
từ đối đầu sang đối thoại, cùng hợp tác phát triển. Điều này đã đem lại nhiều cơ
hội cũng như thách thức cho Việt Nam.
 Cơ hội
Thứ nhất, Nền kinh tế thế giới chuyển từ đối đầu sang đối thoại, từ
tách biệt sang hợp tác chính là cơ hội để Việt Nam thiết lập các mối quan hệ hài
hòa cùng phát triển với các đối tác, bình thường hóa quan hệ với các quốc gia
từng có mối quan hệ căng thẳng với Việt Nam như Mỹ, Trung Quốc.
Thứ hai, Là cơ hội để Việt Nam tìm kiếm các đối tác tin cậy dựa trên
cơ sở hai bên cùng có lợi, tận dụng các mối quan hệ hợp tác để thúc đẩy phát
triển kinh tế.

trưởng kinh tế toàn cầu đi xuống, tổng lượng kinh tế của các quốc gia mới nổi ở
khu vực này lại tăng thêm gần 50%, tỷ trọng trong nền kinh tế thế giới cũng gia
tăng.
Với đặc điểm địa lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và tiềm
năng phát triển to lớn, khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục trở thành
trọng tâm địa chính trị toàn cầu trong thế kỷ 21.
Như vậy, với vị trí địa lý nằm trong khu vực châu Á – Thái Bình
Dương đã đem lại cho Việt Nam nhiều cơ hội cũng như thách thức trong việc
hoạch định và thực thi các chính sách kinh tế.
 Cơ hội
Đặc biệt, vào năm 1998, khi Việt Nam chính thức là thành viên của tổ
chức hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), đã đem lại cho chúng
ta nhiều cơ hội trong phát triển kinh tế.
Thứ nhất, tiếp cận tốt hơn với nhiều nguồn vốn, công nghệ kỹ thuật
hiện đại và kiến thức quản lý khoa học. APEC là khu vực có tổng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài lớn nhất vào Việt Nam với tổng số hơn 75% và cũng là khu
vực có vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam lớn nhất (khoảng
50% dẫn đầu là Nhật Bản). Chính nguồn vốn này đã giúp Việt Nam có những
bước tiến vượt bậc trong tăng trưởng và phát triển kinh tế trong giai đoạn qua
(với mức tăng trưởng trung bình là hơn 7%, tỷ lệ đói nghèo giảm, đời sống nhân
dân được cải thiện đáng kể). Bên cạnh đó, việc nằm trong khu vực châu Á –
Thái Bình Dương – trung tâm văn minh, phát minh trí tuệ, Việt Nam có cơ hội
được tiếp thu và chuyển giao những tiến bộ khoa học kĩ thuật, được học hỏi
những kinh nghiệm quản lý của các cường quốc trên thế giới. Từ đó, đã giúp
Việt Nam nâng cao được chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là lực lượng quản
lý, đem lại hiệu quả cao hơn trong việc hoạch định và thực thi các chính sách
kinh tế. Thể hiện qua các dự án nâng cao kiến thức và kinh nghiệm hội nhập cho
các cán bộ làm công tác hội nhập của Việt Nam thông qua quỹ APEC.
Thứ hai, nâng cao năng lực quản lý kinh doanh, mở rộng quan hệ
thương mại và đầu tư, thâm nhập thị trường. Việc nằm trong khu vực châu Á –

doanh nghiệp của Việt Nam, vốn còn yếu, khả năng quản lý còn nhiều bất cập.
Nếu không có sự chuẩn bị tốt, nhiều ngành sản xuất và dịch vụ có thể sẽ gặp khó
khăn. Tuy nhiên, đây là con đường mà sớm hay muộn Việt Nam cũng phải đi
qua để chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành công, theo hướng nâng cao giá trị gia
tăng, chất lượng và hiệu quả của tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai, cơ chế thị trường ở hầu hết các nước trong khu vực đã hình
thành từ nhiều thập kỷ, trong khi đó cơ chế thị trường ở Việt Nam còn sơ khai,
thị trường thiếu đồng bộ, hệ thống chính sách kinh tế chưa ổn định, môi trường
pháp luật chưa hoàn thiện. Trong quá trình hội nhập với các nước trong khu vực
chúng ta phải cố gắng rất nhiều để điều chỉnh và thích nghi. Ví dụ để thực thi
cam kết trong Hiệp định TPP, Việt Nam có thể sẽ phải điều chỉnh, sửa đổi nhiều
quy định pháp luật về thương mại, đầu tư, đấu thầu, sở hữu trí tuệ…
Thứ ba, khả năng tiếp nhận các nguồn vốn đầu tư trực tiếp và gián
tiếp cũng như công nghệ của Việt Nam còn yếu mặc dù đã có những chuẩn bị từ
trước. Tình hình này dẫn đến việc Việt Nam rất dễ bị thua thiệt, lấn át trong làm
ăn và do đó có nguy cơ rơi vào nợ chồng chất hoặc trở thành thị trường "xuất
khẩu ô nhiễm môi trường" của các nước phát triển hơn. Thể hiện qua việc một
số doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đã gây những tác
động tiêu cực đến môi trường sinh thái Việt Nam, như vụ việc gây ô nhiễm
nước sông Thị Vải của Vedan. Hay một số doanh nghiệp thực hiện hành vi
chuyển giá để trốn thuế tại Việt Nam.
Thứ tư, đòi hỏi trình độ cán bộ quản lý và nguồn nhân lực chất lượng
cao. Với việc tham gia ngày càng sâu và rộng vào khu vực châu Á Thái Bình
Dương, để có thể rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực buộc Việt
Nam phải sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực về con
người. Nếu như trình độ cán bộ quản lý không được nâng cao thì việc hoạch
định, tổ chức thực hiện các chính sách sẽ gặp khó khăn như đường lối chính
sách không hợp lý, quản lý hoạt động kinh tế không minh bạch, công bằng, dẫn
đến việc chúng ta không tận dụng được những lợi thế to lớn khi nằm trong khu
vực châu Á – Thái Bình Dương. Muốn phát triển và có thể tiếp thu được tinh

hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng
cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững. Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, trọng
tâm là cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ phù hợp với các vùng; thúc đẩy cơ
cấu lại doanh nghiệp và điều chỉnh chiến lược thị trường; tăng nhanh giá trị nội
địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền
kinh tế; phát triển kinh tế tri thức. Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường,
phát triển kinh tế xanh.
Thứ ba, Phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là các dịch vụ có giá
trị cao, tiềm năng lớn và có lợi thế cạnh tranh quốc gia. Tập trung phát triển một
số ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao như du lịch,
hàng hải, hàng không, viễn thông, công nghệ thông tin, y tế. Hình thành một số
trung tâm dịch vụ, du lịch có tầm cỡ khu vực và quốc tế. Mở rộng thị trường nội
địa, phát triển mạnh thương mại trong nước; đa dạng hoá thị trường ngoài nước,
khai thác có hiệu quả các thị trường có hiệp định mậu dịch tự do và thị trường
tiềm năng, tăng nhanh xuất khẩu, giảm nhập siêu cả quy mô và tỉ trọng, phấn
đấu cân bằng xuất nhập khẩu. Chủ động tham gia vào mạng phân phối toàn cầu,
phát triển nhanh hệ thống phân phối các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh ở cả
trong và ngoài nước, xây dựng thương hiệu hàng hoá Việt Nam.
Thứ tư, Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập, nâng cao vị
thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại
độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa
quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy
và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; tạo môi trường hòa
bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Tăng cường quan hệ hữu nghị,
hợp tác với các nước láng giềng. Nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế, góp phần
xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và phát triển nhanh, bền vững. Phát huy vai
trò và nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vào phát triển đất
nước. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút
mạnh các nguồn vốn quốc tế; thu hút các nhà đầu tư lớn, có công nghệ cao, công
nghệ nguồn; mở rộng thị trường xuất khẩu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status