câu hỏi ôn tập KT thương mại dịch vụ cao học - Pdf 15

CÂU HỎI ÔN TẬP KINH TẾ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ
Câu 1: Luận chứng tính tất yếu của thương mại và lợi ích của thương mại trong
nền kinh tế quốc dân?
Các ngành ra đời và phát triển trong nền kinh tế quốc dân do sự phân công lao động
xã hội, là sự chuyên môn hóa từng ngành nghề trong xã hội để tạo ra sản phẩm. Chính
sự phân công lao động xã hội đã giúp cho việc sắp xếp, bố trí lao động vào các công
đoạn trong quá trình sản xuất phù hợp với kĩ năng, lợi thế của họ, do đó, quá trình sản
xuất diễn ra được hợp lí và đem lại hiệu quả, năng suất cao hơn.
Bên cạnh đó, mỗi ngành, mỗi vùng và mỗi quốc gia thì đều có những lợi thế riêng.
Việc phát huy lợi thế sẽ giúp họ có được kết quả sản xuất tốt hơn, đem lại hiệu quả
cao hơn. Điều này đã được các nhà kinh tế học chứng minh trong quá khứ. Đó là lý
thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, lý thuyết về lợi thế tương đối của David
Ricardo, lý thuyết về lợi thế cạnh tranh và gần nhất là lý thuyết về hội nhập vào mạng
sản xuất, phân phối khu vực và thế giới tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Như vậy, nghĩa là mỗi người, mỗi doanh nghiệp, mỗi vùng, mỗi quốc gia chỉ sản xuất
một loại sản phẩm hoặc một số loại sản phẩm nhất định, trong khi nhu cầu của con
người thì đa dạng nên đã đặt ra sự cần thiết phải trao đổi trong xã hội các sản phẩm
giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Mối quan hệ trao đổi giữa hàng tiền đó chính
là lưu thông hàng hóa. Quá trình lưu thông hàng hóa tất yếu đòi hỏi sự hao phí lao
động nhất định trong quan hệ trao đổi hàng hóa trực tiếp giữa người sản xuất với
người tiêu dùng và cả trong việc thực hiện những hoạt động mua – bán giữa họ với
nhau. Lao động đó là cần thiết, đem lại lợi ích cho xã hội và để đạt được năng suất lao
động cao thì lao động trong lưu thông hàng hóa đòi hỏi được chuyên môn hóa cao. Từ
đó cho thấy sự ra đời của các ngành thương mại dịch vụ là tất yếu.
Thương mại đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, nó
đem lại những lợi ích cơ bản sau:
Thứ nhất, thương mại là điều kiện thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển. Thông qua
quá trình lưu thông thương mại giúp lưu chuyển hàng hóa, tạo nguồn bao tiêu thông
qua hành vi mua và thỏa mãn nhu cầu cho xã hội thông qua nghiệp vụ bán. Điều đó
đã làm cho quá trình tái sản xuất được tiến hành, lưu thông hàng hóa được thông suốt.
Vì vậy, nếu không có hoạt động thương mại phát triển thì sản xuất hàng hóa không

chúng ta thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài trong tất cả các lĩnh vực. Theo
tổng cục thống kê, tổng số vốn FDI vào Việt Nam năm 2006 mới chỉ là 12004.5 triệu
USD thì năm 2007 đã tăng vọt lên gần gấp đôi với 21348.8 triệu USD, năm 2009 là
23107.5 triệu USD. Các năm 2010, 2011 và 2012 mặc dù số vốn của các nhà đầu tư
nước ngoài có giảm nhưng vẫn cao hơn so với thời kì trước khi Việt Nam là thành
viên chính thức của tổ chức WTO. Từ nguồn vốn này mà hoạt động sản xuất kinh
doanh của nước ta trong thời kì qua có nhiều biến chuyển tích cực và đem lại lợi ích
không chỉ cho nền kinh tế mà cho toàn xã hội.
Thứ ba, phát triển mạnh mẽ về thương mại – dịch vụ. Là thành viên chính thức của tổ
chức WTO đã giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hoạt động có
được cơ chế giải quyết tranh chấp có lợi thông qua các công cụ giải quyết của tổ chức
này. Điều này đã giúp các doanh nghiệp Việt Nam giảm bớt những thua thiệt trong
quá trình xuất – nhập khẩu và đem lại doanh thu cao hơn. Theo tổng cục thống kê,
tổng số hàng hóa xuất khẩu tăng từ 39826.2 triệu USD năm 2006 lên 62685.1 triệu
USD năm 2008 và đạt mức 96905.7 triệu USD năm 2011. Tăng trưởng trong lĩnh vực
xuất khẩu đã thúc đẩy các lĩnh vực dịch vụ phân phối, bán lẻ phát triển mạnh. Các
doanh nghiệp đã tích cực mở rộng hệ thống bán lẻ, tăng chất lượng dịch vụ với nhiều
loại hình phong phú. Số lượng siêu thị thành lập mới sau 5 năm gia nhập WTO tăng
trên 20% (303/251) so với giai đoạn 5 năm trước đó. Riêng số lượng trung tâm
thương mại được thành lập mới tăng trên 72%. Bên cạnh sự ra đời của siêu thị, trung
tâm thương mại và hàng trăm cửa hàng tiện lợi theo mô hình hiện đại, đã làm thay
đổi diện mạo của thương mại bán lẻ, thay đổi thói quen mua sắm của người tiêu dùng
Việt Nam theo hướng văn minh, hiện đại và đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh
tế, xã hội.
Về hạn chế
Thứ nhất, Việt Nam có khả năng trở thành bãi rác công nghệ của thế giới. Chúng ta là
một nước nhỏ, nguồn vốn không dồi dào trong khi đó, trình độ của nguồn nhân lực
còn hạn chế, kĩ năng chưa cao. Khi là thành viên của tổ chức WTO, điều này sẽ ảnh
hưởng đến phân công lao động xã hội do khả năng tiếp cận khoa học kĩ thuật yếu dẫn
đến không tận dụng được những lợi thế của nước đi sau. Đặc biệt là các doanh nghiệp

bảo khai thác lợi thế, tạo ra các lợi ích hết sức to lớn, thực hiện mở của tích cực, chủ
động trong quá trình tham gia vào mạng lưới sản xuất và phân phối chuỗi giá trị toàn
cầu.
Thương mại là lĩnh vực mà nhà nước phải quản lý xuất phát từ những lý do sau:
- Là khâu quan trọng của quá trình tái sản xuất, thương mại được coi là một ngành
quốc dân quan trọng, sự phát triển của thương mại góp phần vào việc nâng cao mức
hưởng thụ của người tiêu dùng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Thương mại là hoạt động mang tính liên ngành, là hoạt động có tính xã hội hóa cao,
mà mỗi doanh nhân không thể xử lý các vấn đề một cách tốt đẹp, hơn nữa trong điều
kiện nền kinh tế thị trường, những mặt trái của nó đòi hỏi có sự quản lý can thiệp của
nhà nước.
- Thương mại - dịch vụ là lĩnh vực chứa đựng những mâu thuẫn của đời sống kinh tế
xã hội
- Trong lĩnh vực thương mại – dịch vụ có những hoạt động mà doanh nghiệp, người
lao động không được làm hoặc có những vị trí mà nhà nước cần phải chiếm lĩnh để
điều chỉnh các quan hệ kinh tế.
- Trong hoạt động thương mại - dịch vụ, có cả các doanh nghiệp nhà nước và vốn đầu
tư của nhà nước
Nội dung quản lý nhà nước về thương mại
- Xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật, chính sách thương mại, tạo môi trường và
hành lang pháp lý cho các hoạt động thương mại.
- Định hướng phát triển ngành thương mại thông qua chiến lược, quy hoạch và kế
hoạch phát triển thương mại.
- Kiểm tra, giám sát tình hình chấp hành pháp luật thương mại
- Kiểm tra, kiểm soát thị trường, điều tiết lưu thông hàng hóa và quản lý chất lượng
hàng hóa lưu thông, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
- Quản lý nhà nước về cạnh tranh, chống độc quyền và chống bán phá giá
- Thu thập, tổng hợp, phân tích, xử lý và cung cấp thông tin thương mại trong và
ngoài nước. Quản lý nhà nước các hoạt động thương mại.
- Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về thương mại và đào tạo nguồn nhân lực cho

nghiệp, các Bộ, các ngành và các địa phương. Đây cũng là công cụ duy nhất mà chính
phủ có thể chuyển tải nội dung đường lối chính sách. Kế hoạch hóa có vai trò thúc
đẩy hình thành cơ cấu hợp lý, vì vậy phải bảo đảm tính thống nhất trong cân đối các
nguồn lực, lựa chọn phương hướng phát triển đúng đắn và động viên được sức lực, trí
tuệ của toàn xã hội thực hiện thắng lợi những mục tiêu đề ra.
Trong cơ chế thị trường thì hệ thống kế hoạch hóa định hướng cần phải:
- Nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cũng như các chiến lược
phát triển ngành, vùng, lĩnh vực, đây là cơ sở để các đơn vị xác định phương hướng
phát triển, đầu tư lâu dài.
- Hệ thống thông tin dự báo cần được quan tâm đúng mức, cần tập trung dự báo dài
hạn và các ngành, lĩnh vực quan trọng.
- Nghiên cứu thiết kế các chương trình và dự án phát triển, đây là một phương pháp
kế hoạch hóa, đồng thời cũng là một bộ phận cấu thành của kế hoạch.
- Đổi mới nội dung và phương pháp lập kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm.
Pháp luật là công cụ cưỡng chế hành vi của các doanh nghiệp nếu như hoạt động
sản xuất kinh doanh của họ có thể là tổn hại đến lợi ích của toàn xã hội.
Đồng thời pháp luật cũng là công cụ tạo môi trường tự do kinh doanh, tự do cạnh
tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp bởi vì nhờ có pháp luật mà doanh nghiệp có
thể điều chỉnh hành vi của mình một cách phù hợp.
Các công cụ kinh tế được sử dụng nhằm bảo đảm tốc độ phát triển kinh tế, phân
phối nguồn lực đặc biệt là đầu tư từ ngân sách nhà nước.
- Thuế quan hay thuế xuất nhập khẩu: là loại thuế gián thu đánh vào hàng hóa xuất
nhập khẩu khi qua lĩnh vực thuế quan của một nước. Nhà nước sử dụng công cụ này
nhằm quản lý xuất nhập khẩu, nâng cao hiệu quả hoạt động ngoại thương, góp phần
bảo vệ sản xuất, hướng dẫn tiêu dùng và tăng thu ngân sách. Thuế nhập khẩu giúp
bảo hộ nền sản xuất trong nước nhất là những ngành công nghiệp non trẻ, tăng thu
nhập cho ngân sách và thực hiện chính sách ngoại thương, kích thích sản xuất trong
nước. Tuy nhiên nó cũng hạn chế tự do hóa thương mại.
- Hạn ngạch: là một công cụ kinh tế và công cụ phổ biến của hàng rào phi thuế quan
phục vụ cho công tác điều tiết quản lý nhà nước về xuất nhập khẩu, vừa nhằm bảo hộ

cán cân thanh toán quốc tế ta thấy được thực trạng của nền kinh tế - tài chính của
một đất nước thì qua cán cân thương mại ta sẽ thấu rõ thực trạng về ngoại thương
của một nước, chúng có tác động mạnh đến hối đoái và do đó tác động đến hoạt động
xuất nhập khẩu.
Các công cụ tài chính, tiền tệ như chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính
sách tín dụng… sẽ điều chỉnh vĩ mô nên kinh tế, từ đó tác động đến các doanh nghiệp
trong thị trường.
Các công cụ truyền thông
Câu 5: phân tích mục tiêu và bản chất của kinh doanh hàng hóa trong cơ chế thị
trường
Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu
tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục
đích sinh lợi. Kinh doanh thương mại là sự đầu tư tiền của, công sức của một cá nhân
hay tổ chức kinh tế vào lĩnh vực mua bán hàng hóa nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Như
vậy, bản chất của kinh doanh thương mại là tạo ra lợi nhuận.
Tuy nhiên, mỗi một doanh nghiệp thường có nhiều nhu cầu và không phải lúc nào
cũng thỏa mãn được tất cả các nhu cầu đó, nên đòi hỏi phải có sự lựa chọn mục tiêu.
Đối với doanh nghiệp thương mại hoạt động trong lĩnh vực phân phối và lưu thông
hàng hóa thường có 5 mục tiêu cơ bản: Lợi nhuận, vị thế, an toàn, tăng trưởng kinh
doanh ổn định, tăng thu nhập và cải thiện đời sống. Mỗi doanh nghiệp tùy thuộc vào
khả năng cũng như nhu cầu của mình để lựa chọn mục tiêu phù hợp với từng giai
đoạn phát triển của công ty.
Câu 6: Phân tích đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng hóa của nước ta những
năm gần đây
Tổng số Chia ra Cân đối
(*)
Xuất khẩu Nhập khẩu
Triệu đô la Mỹ
2000 30119.2 14482.7 15636.5 -1153.8
2001 31247.1 15029.2 16217.9 -1188.7

Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu năm 2013 ước đạt 24,4 tỷ USD tăng 20,4 %
(tương đương 4,1 tỷ USD) so với năm 2012. Hoa Kỳ đứng thứ 2 với kim ngạch xuất
khẩu ước tính đạt 23,7 tỷ USD, tăng 20,3% (4 tỷ USD) và tiếp đến là ASEAN đạt
18,5 tỷ USD, tăng 6,3% (1,1 tỷ USD) so với năm 2012.
Hạn chế:
Chất lượng hàng xuất khẩu không cao, giá trị gia tăng thấp. Nguyên liệu đầu vào cho
sản xuất hàng xuất khẩu của nước ta vẫn còn phụ thuộc khá nhiều vào nguồn nguyên
liệu nhập từ nước ngoài do ngành công nghiệp phụ trợ còn quá yếu. Tỷ trọng giá trị
nhập khẩu các mặt hàng phục vụ hoạt động gia công lắp ráp chiếm tỷ trọng khá cao
trong kim ngạch xuất khẩu hàng hóa: Kim ngạch nhập khẩu điện thoại các loại và linh
kiện (trừ điện thoại di động) chiếm 33,3% kim ngạch xuất khẩu điện thoại các loại và
linh kiện; kim ngạch nhập khẩu vải chiếm 48,3% giá trị xuất khẩu hàng dệt may… Do
đó, năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu không cao.
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng cao chủ yếu ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
với các mặt hàng như: Điện tử, máy tính và linh kiện; điện thoại các loại và linh kiện,
hàng dệt may, giày dép Xuất khẩu của khu vực này trong những năm gần đây có xu
hướng tăng mạnh và chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu: Năm 2011
chiếm 56,9% và tăng 41%; năm 2012 chiếm 63,1% và tăng 31,1%; năm 2013 chiếm
61,4% và tăng 22,4%
Xuất khẩu còn manh mún, với những hợp đồng quá lớn chúng ta chủ yếu thu gom
Nguyên nhân
- Việt Nam chưa có chiến lược xuất khẩu bài bản
- Chưa có quy hoạch tổng thể về sản xuất và xuất khẩu
- Sự phối hợp không đồng bộ giữa các cơ quan chức năng
Giải pháp
Nhà nước đầu tư mạnh cho công tác nghiên cứu mẫu mã
Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xây dựng, phát triển thương hiệu
Xây dựng chiến lược quốc gia, quy hoạch xuất khẩu
Thường xuyên rà soát đổi mới cơ chế, chính sách sao cho phù hợp với thực tế
Câu 7: Cho biết thực trạng và các giải pháp tăng cường năng lực và hiệu lực

luật về thương mại.
Khả năng thu thập, tổng hợp, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế thương mại
trong và ngoài nước còn chưa cao
Giải pháp
Câu 8: Cho biết quan điểm và giải pháp về phát triển thương mại bền vững ở
nước ta?
Xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua phát triển chưa bền vững. Giá
trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu còn thấp do chủ yếu dựa vào khai thác các yếu tố
về điều kiện tự nhiên và nguồn lao động rẻ. Mặt khác, việc mở rộng xuất khẩu một số
sản phẩm đang có nguy cơ làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, suy giảm đa dạng sinh
học và ô nhiễm môi trường, sử dụng ngày càng nhiều các yếu tố đầu vào làm gia tăng
áp lực gây ô nhiễm.
Do đó, yêu cầu phát triển xuất, nhập khẩu phục vụ phát triển bền vững đặt ra hết sức
cấp bách đối với nước ta trong giai đoạn 2011-2020, giai đoạn tăng trưởng kinh tế
nhanh và bền vững. Yêu cầu đó càng trở nên cấp bách hơn trong bối cảnh nước ta hội
nhập ngày càng sâu hơn với nền kinh tế thế giới, đặc biệt là hiện nay chúng ta là thành
viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới và đang thực hiện cam kết trong các
hiệp định thương mại tự do ở mức độ rộng hơn và cao hơn.
Việc phát triển xuất, nhập khẩu theo yêu cầu phát triển bền vững đòi hỏi chúng ta cần
có những chính sách đúng đắn và phù hợp, được xây dựng trên cơ sở khoa học, có
tính đến một cách hài hòa giữa mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường. Chính vì vậy, cần
có các tiêu chí khoa học để định hướng, xây dựng, kiểm định, làm căn cứ cho các
chính sách xuất, nhập khẩu theo hướng phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.
Chính sách xuất nhập khẩu thời gian vừa qua được mở rộng cho tất cả các
doanh nghiệp mà không gắn liền với điều kiện cụ thể, điều này làm xuất hiện tình
trạng cạnh tranh không lành mạnh, gây tổn hại đến lợi ích chung. Chính sách xuất
nhập khẩu còn quá chú trọng đến phát triển nhanh mở rộng theo chiều rộng, dẫn đến
chất lượng tăng trưởng thấp, nhập khẩu công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm môi trường và
không tạo được đột phá về tăng năng suất, nhập siêu lớn và kéo dài.
Các nhóm hàng xuất khẩu nước ta có lợi thế như gạo, cà phê, điện tử, dệt

nhiên, vẫn có tác động ngược chiều từ các cơ quản cấp dưới lên cơ quan cấp trên để
tránh tình trạng quan liêu và giúp cho các quyết định hành chính phù hợp với thực
tiễn.
Xác định chức năng, nhiệm vụ rõ ràng của các bộ phận trong hệ thống tổ chức. Khi
quy định chức năng nhiệm vụ cần phải quan tâm đến mối quan hệ giữa các bộ phận
trong tổ chức.
Sử dụng công cụ hành chính pháp chế linh hoạt: pháp luật, các quy định, chỉ thị, mệnh
lệnh, nội quy.
Lưu ý khi áp dụng biện pháp hành chính
Khi đưa ra các quyết định hành chính cần thu thập đầy đủ thông tin cần thiết cũng như
dự kiến được các tình huống phát sinh để có các biện pháp kịp thời, hạn chế tác động
tiêu cực.
Gắn quyền hạn và trách nhiệm của cấp ra quyết định nhằm hạn chế tình trạng tiêu
cực.
Ưu điểm
- Sử dụng mệnh lệnh, quyền lực buộc cấp dưới thực thiện nhiệm vụ nhất định. Giúp
duy trì kỷ cương trật tự cho môi trường tổ chức.
- Khi sử dụng không cần phải đi kèm những phương pháp khác mà vẫn đảm bảo hiệu
quả.
Nhược điểm:
- Tạo ra áp lực, sức ép tâm lý, làm giảm khả năng sáng tạo.
- Lạm dụng quá mức sẽ dẫn đến quan liêu trong tổ chức dẫn đến hậu quả xấu.
- Nhà quản lý phải là những người rất có bản lĩnh để quan sát nắm bắt được đối tượng
để có sự tác động chuẩn xác, phù hợp thì mới có hiệu quả cao.
Phương pháp kinh tế
Khái niệm: là sự tác động tới lợi ích vật chất của tập thể hay cá nhân nhằm làm cho
họ quan tâm tới kết quả hoạt động và chịu trách nhiệm vật chất về hành động của
mình
Nội dung
Tác động vào hệ thống các lợi ích

Giáo dục truyền thống, ý thức và trách nhiệm của người lao động kết hợp chặt chẽ
giữa tuyển dụng, bố trí, sắp xếp và đào thải.
Chăm lo cho sự phát triển toàn diện của con người thông qua việc làm phong phú đời
sống tinh thần, tăng niềm tin của người lao động vào doanh nghiệp.
Ưu điểm:
- Bền vững.
- Không gây sức ép tâm lý cho đối tượng, trái lại đói tượng cảm thấy được quan tâm
nên sẽ tạo ra được sự phấn khởi, hăng hái, không khí làm việc sôi nổi, đôi khi mang
lại những kết quả vượt xa sự mong đợi.
Nhược điểm:
- Tác động chậm, cầu kỳ, không đảm bảo thực hiện chắc chắn, nên khi sử dụng vẫn
cần phải có kết hợp đi kèm các phương pháp khác.
- Phương pháp này yêu cầu cho người quản lý phải là người có đủ uy tín, có điều kiện
và có thời gian quan tâm chăm sóc, động viên cấp dưới.
Câu 10: Chức năng của cạnh tranh và thích nghi với cạnh tranh trong cơ chế
thị trường.
Cạnh tranh tạo ra động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội thông qua các chức
năng sau:
Cạnh tranh đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng
Cạnh tranh đảm bảo cho người tiêu dùng có được cái mà họ muốn với giá cả
hợp lý nhất. Với sự ganh đua của môi trường cạnh tranh, các doanh nghiệp luôn tìm
mọi cách hạ giá thành sản phẩm nhằm lôi kéo khách hàng về với mình. Sự tương tác
giữa nhu cầu của người tiêu dùng và khả năng đáp ứng của doanh nghiệp trong điều
kiện cạnh tranh đã làm cho giá cả hàng hoá và dịch vụ đạt được mức rẻ nhất có thể;
các doanh nghiệp có thể thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng trong khả năng chi
tiêu của họ
Cạnh tranh có vai trò điều phối các hoạt động kinh doanh trên thị trường
Như một quy luật sinh tồn của tự nhiên, cạnh tranh đảm bảo phân phối thu nhập
và các nguồn lực kinh tế tập trung vào tay những doanh nghiệp giỏi, có khả năng và
bản lĩnh trong kinh doanh. Sự tồn tại của cạnh tranh sẽ loại bỏ những khả năng lạm

Thích nghi của cạnh tranh trong cơ chế thị trường
Về bản chất, cơ chế cạnh tranh thị trường là cơ chế tự điều chỉnh. Do vậy, nó còn
được gọi là “bàn tay vô hình”. Cơ chế này giúp nền kinh tế tạo lập sự cân bằng mỗi
khi bị trục trặc.
Cạnh tranh là cơ chế chủ yếu phân bổ các nguồn lực trong nền kinh tế thị trường.
Thông qua cạnh tranh, các nguồn lực được rút ra khỏi những ngành, lĩnh vực và địa
điểm đang hoạt động kém hiệu quả, di chuyển đến những nơi có lợi thế phát triển và
thu được hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận cao hơn. Thực tế xác nhận rằng cho đến nay,
sau khi nền kinh tế đã vượt qua trình độ kinh tế nông dân tự cấp - tự túc, cạnh tranh là
cơ chế phân bổ các nguồn lực hiệu quả nhất.
Để thích nghi với môi trường cạnh tranh thì cần thực hiện các nguyên lý thích
nghi, đó là:
Chiến thắng mà không cần chiến đấu
Trong đó, xây dựng hệ thống hàng rào phòng ngự bằng xây dựng cơ sở vật chất
chuyên dùng, khai thác được lợi thế doanh nghiệp, doanh nhân
Khuếch trương tài sản vô hình như niềm tin, sự nổi tiếng, khả năng chiếm giữ
luồng thông tin, bầu không khí nội bộ, kĩ năng quản trị, quan hệ doanh nghiệp, doanh
nhân, trình độ khoa học công nghệ và che giấu tài sản hữu hình
Cao hơn thì hợp tác, ngang bằng thì liên mình, thấp hơn thì khử bỏ
Tránh đối đầu trực tiếp, vận dụng lý thuyết thích nghi
Câu 11: Đánh giá khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam và giải pháp
nâng cao khả năng cạnh tranh ?
Đánh giá khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam
Nhóm hàng Công nghiệp
Các ngành nông sản chế biến, công nghiệp nhẹ như da giày, may, đồ gỗ tương đối có
khả năng cạnh tranh. Các ngành công nghiệp có nhiều tiềm năng là đồ điện dân dụng,
văn phòng, thiết bị viễn thông và chính xác, và một số ngành công nghiệp phụ trợ,
như: chế biến kim loại, điện tử và máy công nghiệp…, mặc dù những ngành này còn
chưa phát triển đúng mức.
Mặt khác, các ngành công nghiệp nặng hầu hết đều không có khả năng cạnh tranh

số bộ phận chưa đủ sức chế tạo thì nhập của nước ngoài.
Nâng cao trình độ lao động: thiết lập các chương trình đào tạo nghề phù hợp với
thị trường, thường xuyên tổ chức các khóa học cho lao động tiếp cận với công nghệ
hiện đại.
Lựa chọn hệ thống quản lý chất lượng để áp dụng
Hoàn thiện chiến lược hàng hóa của doanh nghiệp: Các doanh nghiệp cần chọn
những hàng hóa có thế mạnh, không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng hàng hóa, đa
dạng hóa hàng hóa theo nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng và nâng cao của xã hội.
Giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm thông qua đổi mới công nghệ sản
xuất, nâng cao ý thức của người lao động
Xây dựng và phát triển thương hiệu hàng hóa
Nhà nước
Đơn giản hóa các thủ tục hành chính và minh bạch hóa thông tin chính sách phát
triển
Hoàn thiện chính sách bảo vệ người tiêu dùng và bảo hộ sản xuất trong nước và
kích thích nhu cầu trong nước
Hoàn thiện chính sách bảo vệ người tiêu dùng và bảo hộ sản xuất trong nước và kích
thích nhu cầu trong nước: sửa đổi, bổ sung, thay thế, hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Tuyên truyền, phổ biến đào tạo về các quy định của Việt Nam và quốc tế. Tạo sự
phối hợp chặt chẽ, liên kết giữa các bộ ngành, trung ương và địa phương.
Kích thích nhu cầu tiêu dùng trong nước: Ðối với những hàng hoá và dịch vụ sản xuất
trong nước đã đảm bảo yêu cầu tiêu dùng (kể cả tiêu dùng cho sản xuất), thì có cơ
chế, chính sách hạn chế nhập khẩu. Ðồng thời phải tăng cường quản lý nhà nước về
nhập khẩu, chống buôn lậu, gian lận thương mại
Câu12: Nội dung của hoạt động kinh doanh hàng hóa theo cơ chế thị trường.
Điều tra nghiên cứu thị trường và khách hàng
Các doanh nghiệp cần nghiên cứu cung, cầu, giá cả, người mua và người bán hiện có
trên thị trường thông qua phương pháp nghiên cứu tại văn phòng và phương pháp
nghiên cứu tại thị trường nhằm trả lời 3 vấn đề cơ bản của kinh doanh hàng hóa: cái
gì, bao nhiêu và cho ai?

trợ.
Thực hiện bốn cho: cho chọn, cho thử, cho đổi và cho trả.
Quản lý và đánh giá hiệu quả kinh doanh
Doanh nghiệp áp dụng các chính sách, công cụ và phương pháp quản lý phù
hợp
Xác định được kết quả và hiệu quả trong kinh doanh
Câu 13: Khái niệm, ưu nhược điểm của từng loại hình kinh doanh : Kinh doanh
tổng hợp; KD chuyên môn hóa; Đa dạng hóa kinh doanh
Loại
hình kinh
doanh
Chuyên môn
hóa
Tổng hợp Đa dạng hóa
Khái
niệm
Doanh nghiệp
chỉ chuyên doanh
một hoặc một số
mặt hàng có cùng
công dụng, trạng
thái hoặc tính chất
nhất định
Doanh nghiệp
kinh doanh nhiều
hàng hóa có công
dụng, trạng thái tính
chất khác nhau
Doanh nghiệp
kinh doanh nhiều mặt

có điều kiện để tăng
năng suất và hiệu
quả của kinh doanh,
hiện đại hóa cơ sở
vật chất kỹ thuật.
- Có khả năng
đào tạo được những
cán bộ quản lý giỏi,
các chuyên gia và
nhân viên giỏi
- Vốn kinh
doanh ít bị ứ đọng
do mua nhanh, bán
nhanh, khả năng
quay vòng nhanh
- Có thị
trường rộng, luôn có
thị trường mới và
cạnh tranh, do đó
kích thích tính năng
động sáng tạo của
người kinh doanh
thông trong sản xuất, sự
am hiểu kỹ thuật,…
- Giảm bớt rủi ro
tài chính
- Dễ dàng thâm
nhập thị trường
- Tiết kiệm chi
phí do đạt được tính

lạc hậu ở thời điểm hiện tại… Vì vậy, ta nên đưa ra một số giải pháp để doanh nghiệp
có thể đổi mới công nghệ như:
o Tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn để họ có khả năng “đổi mới
công nghệ”. Cụ thể là ta nên xây dựng các quỹ đầu tư mạo hiểm để giúp các doanh
nghiệp trong lúc họ cần vốn. Làm cho các doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng với nguồn
vốn vay từ ngân hàng hơn qua việc. Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn có thể phát hành
chứng khoán để huy động vốn.
o Cần xây dựng hệ thống thông tin khoa học công nghệ để cung cấp thông tin cập nhật,
chính xác và chi tiết về các công nghệ hiện đại , qua đó, doanh nghiệp có thể an tâm
lựa chọn công nghệ thích hợp nhất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.
Đồng thời, giúp doanh nghiệp sử dụng hiệu quả và triệt để công nghệ đó, tránh gây
lãng phí.
o Thực hiện cổ phần hóa các trung tâm nghiên cứu công nghệ để có thể hoạt động tốt
hơn, đồng thời triển khai hướng các trung tâm này vào việc phục vụ cho các doanh
nghiệp có hiệu quả hơn, thay vì ta cứ phải nhập công nghệ từ nước ngoài một cách
tràn lan như bây giờ.
o Chú trọng đầu tư vào con người, giúp người lao động lẫn người quản lý có đầy đủ
kiến thức, hiểu biết để khai thác triệt để các công nghệ mới và hiện đại.
Để đẩy mạnh xuất khẩu trước hết các doanh nghiệp cần phải xác định được
chiến lược mặt hàng xuất khẩu và chiến lược thị trường đúng đắn. Trên cơ sở lựa
chọn thị trường và xác định được mặt hàng xuất khẩu chủ lực thì các doanh nghiệp
cần lực chọn phương thức đổi mới công nghệ sản xuất, công nghệ quản lý sao cho
phu hợp. Mặt hàng xuất khẩu phải đảm bảo các tiêu chuẩn theo đúng yêu cầu của
nước nhập khẩu. Phát triển thị trường, tạo bản sắc riêng cho doanh nghiệp để xây
dựng thương hiệu vững chắc nhằm khẳng định vị thế của doanh nghiệp trên trường
quốc tế. Phải tăng cường liên kết hợp tác theo chiều dọc và the chiều ngang để đảm
bảo nguồn cung nguyên liệu và phải luôn nhận thức được tầm quân trọng giữa cạnh
tranh và hợp tác. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn ít cần phải tăng cường hợp tác,
liên kết để giúp đỡ lẫn nhau. Phải hoàn thiện cơ chế quản lý; đào tạo và phát huy năng
lực lãnh đạo của nhà quản trị doanh nghiệp. Các doanh nghiệp xuất khẩu cần nhận


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status