BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài: Tỷ giá hối đoái và quản lý tỷ giá hối đoái
ở Việt Nam hiện hay
2. Sự vận động của tỷ giá và chính sách TGHĐ từ tháng 3/1989 đến
nay, thời kì nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường với định
hướng xã hội chủ nghĩa. 24
2.1. Giai đoạn từ 1989-1992. 24
2.2. Giai đoạn cố định tỷ giá 1993-1996 25
2.3. Giai đoạn từ tháng 7/1997 đến ngày 26/2/1999 30
2.4. Giai đoạn từ 26/2/1999 đến nay 33
Chương 3 Một số giải pháp và kiến nghị 34
1.Một số nhận định chung 34
2. Định hướng về điều hành chính sách tỷ giá của NHNNVN. 36
3.Một số giải pháp . 37
Kết luận 41
Tỷ giá hối đoái
LỜI MỞ ĐẦU
Với sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế thế giới , các mối quan hệ
kinh tế trên mọi lĩnh vực của một nước ngày càng được mở rộng ra các nước ,
do đó vấn đề thanh toán ,định giá , so sánh ,phân tích đánh giá về mặt giá trị và
hiệu quả trở nên phức tạp hơn nhiều . Đơn vị thanh toán không chỉ là tiền tệ
trong nước mà còn phải sử dụng các loại ngoại tệ khác nhau liên quan đến việc
trao đổi tiền của nước khác . Tiền của mỗi nước được quy định theo pháp luật
của nước đó và đặc điểm riêng của nó ,vì vậy phát sinh nhu cầu tất yếu là phải
so sánh giá trị ,sức mua của đồng tiền trong nước với ngoại tệ và giữa các
ngoại tệ với nhau . Hoạt động chuyển đổi đồng tiền này thành đồng tiền khác
trong quá trình quan hệ giữa các nước nhóm nước với nhau đã làm nảy sinh
phạm trù tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế nhạy cảm và rất phức tạp . Kinh tế Tỷ giá hối đoái
NỘI DUNG
Chương 1
TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TỶ
GIÁ HỐI ĐOÁI.
1. Tỷ giá hối đoái.
1.1 Tỷ giá hối đoái là gì?
Khái niệm của tỷ giá hối đoái rất phức tạp có thể tiếp cân nó từ những
góc độ khác nhau.
Xét trong phạm vi thị trường của một nước ,các phương tiện thanh toán
quốc tế được mua và bán trên thị trường hối đoái bằng tiền tệ quốc gia của một
nước theo một tỷ giá nhất định .Do đó có thể hiểu tỷ giá là giá cả của một đơn
vị tiền tệ một được biểu hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ của nước khác hay là
bằng số lượng ngoại tệ nhận được khi đổi một đơn vị nội tệ hoặc bằng số lượng
nội tệ nhận được khi đổi một đơn vị ngoại tệ .Các nước có giá trị đồng nội tệ
thấp hơn giá trị ngoại tệ thường sử dụng cách thứ hai .Chẳng hạn ở Việt Nam
người ta thường nói đến số lượng đồng Việt nam nhận được khi đổi một đồng
USD ,DEM hay một FFR …Trong thực tế ,cách sử dụng tỷ giá như vậy thuận
lợi hơn .Tuy nhiên trong nghiên cứu lý thuyết thì cách định nghĩa thứ nhất
khẩu ( không dùng để ổn định giá hàng hoá sản xuất trong nước ) . Tỷ giá hàng
xuất khẩu là lượng tiền trong nước cần thiết để mua một lượng hàng xuất khẩu
tương đưong với một đơn vị ngoại tệ .Tỷ giá hàng nhập khẩu là số lượng tiền
trong nước thu được khi bán một lượng vàng nhập khẩu có giá trị một đơn vị
ngoại tệ.
Tỷ giá là tỷ lệ so sánh giữa các đồng tiền với nhau . Do đó muốn so
sánh giá trị giữa các đồng tiền với nhau ,cần phải có vật ngang giá chung làm
bản vị để so sánh .Tiền tệ là vật ngang giá chung để biểu hiện giá trị của các
hàng hoá ,nhưng giờ đây đến lượt cần so sánh giá cả giữa các đồng tiền với
nhau lại phải tìm một vật ngang giá chung làm bản vị để so sánh.
1.2. Các loại tỷ giá thông dụng trên thị trường
Tỷ giá hối đoái Để nhận biết được tác động của tỷ giá hối đoái đối với các hoạt động
của nền kinh tế nói chung ,hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng ,người ta thường
phân loại tỷ giá theo các tiêu thức sau đây :
* Dựa trên tiêu thức là đối tượng quản lý :
Tỷ giá chính thức : đây là loại tỷ giá được biết dến nhiều nhất và là tỷ
giá được nêu trên các phương tiện thông tin đại chúng do ngân hàng công bố
chính thức trên thị trường để làm cơ sở tham chiếu cho các hoạt động giao
dịch , kinh doanh ,thống kê…
Tỷ giá thị trường : tỷ giá được hình thành thông qua các giao dịch cụ
thể của các thành viên thị trường .
Tỷ giá danh nghĩa : là tỷ lệ giữa giá trị của các đồng tiền so với
nhau ,đồng này đổi được bao nhiêu đồng kia .
Tỷ giá thực: là tỷ giá phản ánh tương quan giá cả hàng hoá của hai
nước được tính theo một trong hai loại tiền của hai nước đó hoặc là giá trị tính
bằng cùng một đồng tiền của hàng xuất khẩu so với giá hàng nhập khẩu v.v
* Dựa trên kỹ thuật giao dịch : cơ bản có hai loại tỷ giá :
hai điểm cơ bản sau :
Thứ nhất, TGHĐ và ngoại thương:Tỷ giá giữa đồng nội tệ và ngoại tệ
là quan trọng đối với mỗi quốc gia vì trước tiên nó tác động trực tiếp tới giá cả
hàng hoá xuất nhập khẩu của chính quốc gia đó.Khi đồng tiền của một quốc gia
tăng giá(Tăng trị giá so với đồng tiền khác)thì hàng hoá nước đó ở nước ngoài
trở thành đắt hơn và hàng hoá nước ngoài tại nước đó trở nên rẻ hơn.Ngược lại
khi đồng tiền một nước sụt giá,hàng hoá của nước đó tại nước ngoài trở nên rẻ
hởn trong khi hàng hoá nước ngoài tại nước đó trở nên đắt hơn(các yếu tố khác
không đổi).Tỷ giá tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu vì vậy nó tác động
tới cán cân thanh toán quốc tế,gây ra thâm hụt hoặc thặng dư cán cân.
Thứ hai,TGHĐ và sản lượng, công ăn việc làm, lạm phát.Tỷ giá hối
đoái không chỉ quan trọng là vì tác động đến ngoại thương ,mà thông qua đó tỷ
giá sẽ có tác động đến các khía cạnh khác của nền kinh tế như mặt bằng giá cả
trong nước ,lạm phát khả năng sản xuất , công ăn việc làm hay thất nghiệp…
Với mức tỷ giá hối đoái 1USD =10500VND của năm 1994 thấp hơn
mức 1USD = 13500VND của năm 1998 ,tức tiền Việt Nam sụt giá và nếu
giả định mặt bằng giá thế giới không đổi ,thì không chỉ có xe con khi nhập
khẩu tính thành tiền Việt Nam tăng giá mà còn làm tất cả các sản phẩm nhập
khẩu đều rơi vào tình trạng tương tự và trong đó có cả nguyên vật liệu ,máy
móc cho sản xuất . Nếu các yếu tố khác trong nền kinh tế là không đổi,thì điều
Tỷ giá hối đoái này tất yếu sẽ làm mặt bằng giá cả trong nước tăng lên . Nếu tỷ giá hối đoái
tiếp tục có sự gia tăng liên tục qua các năm ( đồng nội tệ Việt Nam liên tục mất
giá ) có nghĩa lạm phát đã tăng . Nhưng bên cạnh đó , đối với lĩnh vực sản xuất
chủ yếu dựa trên nguồn lực trong nước ,thì sự tăng giá của hàng nhập khẩu sẽ
giúp tăng khả năng cạnh tranh cho các lĩnh vực này , giúp phát triển sản xuất
và từ đó có thể tạo thêm công ăn việc làm , giảm thất nghiệp ,sản lượng quốc
gia có thể tăng lên . Ngược lại , nếu các yếu tố khác không đổi thì lạm phát sẽ
trong nước.Những công cụ mà nhà nước dùng để hạn chế nhập khẩu sẽ ảnh
hưởng và làm cho tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ có xu hướng giảm về lâu dài.
- Ưa thích hàng nội so với hàng ngoại. Nếu sự ham thích của người
nước ngoài về mặt hàng trong nước tăng lên thì cầu về hàng nội sẽ tăng lên làm
đồng nội tệ tăng giá,bởi hàng nội địa vẫn bán được nhiều ngay cả với giá cao
hơn của đồng nội tệ.Cầu đối với hàng xuất của một nước tăng lên làm cho đồng
tiền nước đó giảm giá.
1.5. Tầm quan trọng của tỷ giá.
Tỷ giá hối đoái Bất kì một quốc gia nào cũng luôn luôn tìm cách để đạt được
hai mục tiêu lớn của nền kinh tế : Đó là mục tiêu cân bằng ngoại
(cân băng ngoại thương) và mục tiêu cân bằng nội(cân bằng sản
lượng,công ăn việc làm và lạm phát)
Ta biết rằng, tỷ giá tác động đến giá cả tương đối của hàng hoá trong
nước và hàng hoá nước ngoài . Khi đồng tiền của một nước tăng giá ( Tăng giá
trị so với đồng tiền khác ) thì hàng hoá nước đó tại nước ngoài trở lên đắt hơn
và hàng hoá nước ngoài trở lên rẻ hơn(giá nội địa tại hai nước giữ nguyên ) .
Ngược lại, khi đồng tiền của một nước sụt giá , hàng hoá nước đó tại nước
ngoài trở lên rẻ hơn trong khi hàng hoá nước ngoài tại nước đó trở lên đắt hơn.
Từ đó tỷ giá ảnh hưởng tới quá trình sản xuất và xuất nhập khẩu của
các quốc gia và trở thành yếu tố chính ảnh hưởng tới việc thực hiện 2 mục tiêu
lớn của nền kinh tế . Điều này có thể nhận thấy một cách rõ ràng khi xem xét
nền kinh tế Việt Nam. Hiện nay,đồng VND đang được coi là tăng giá tương đối
so với các đồng tiền trong khu vực ( do đồng tiền của các nước này giảm giá so
với đồng USD ) nên giá cả của hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế đang cao
hơn so với hàng hoá cùng chủng loại của các nước trong khu vực dẫn đến bị
cạnh tranh một cách gay gắt và thực tế là tổng kim ngạch xuất khẩu của nước
ta trong năm 2000 và mấy tháng đầu năm 2001 là không tăng mà có tăng thì
cả ổn định. Mức giá biến động bất ngờ có tác động xấu đến các khoản tín dụng
và đầu tư. Chính phủ cần ngăn chặn các đợt lên hay xuống phát triển đột ngột
của tổng cầu để duy trì một mức giá cả ổn định, có thể dự kiến trước được. Vì
vậy, tỷ giá hối đoái được xem như là một công cụ đắc lực, hỗ trợ hiệu quả cho
Chính phủ trong việc điều chỉnh giá cả, đặc biệt là trong nền kinh tế, xu thế hội
nhập quốc tế như hiện nay.
* Mục tiêu cân bằng ngoại : Khái niệm "cân bằng ngoại" khó xác
định hơn nhiều so với "cân bằng nội", nó chủ yếu là sự cân đối trong "tài khoản
vãng lai". Trên thực tế người ta không thể xác định được "tài khoản vãng lai"
nên cân bằng, thâm hụt hay thặng dư bao nhiêu chỉ có thể thống nhất rằng:
không nên có một sự thâm hụt hay thặng dư quá lớn mà thôi. Tuỳ thuộc vào
điều kiện kinh tế, chính trị xã hội của một quốc gia mà Chính phủ phải có cách
để điều chỉnh tỷ giá hối đoái của họ cho phù hợp, hiệu quả, chủ yếu tác động
vào các hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư xuyên quốc gia.
2.1.3. Các công cụ của chính sách tỷ giá hối đoái.
- Phương pháp lãi suất chiết khấu : Đây là phương pháp thường sử dụng
để điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị trường.Với phương pháp này, khi tỷ giá
Tỷ giá hối đoái hối đoái đạt đén mức báo động cần phải can thiệp thì NHTƯ nâng cao lãi suất
chiết khấu . Do lãi suất chiết khấu tăng nên lãi suất trên thị trường cũng tăng
lên . Kết quả là vốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ dồn vào để thu lãi
suất cao hơn . Nhờ thế mà sự căng thẳng về nhu cầu về ngoại tệ sẽ bớt đi , làm
cho tỷ giá không có cơ hội tăng nữa. Lãi suất do quan hệ cung cầu của vốn vay
quyết định . Còn tỷ giá thì do quan hệ cung cầu về ngoại tệ quyết định . Điều
này có nghĩa là những yếu tố để hình thành tỷ giá và lãi suất là không giống
nhau , do vậy mà biến động của lãi suất không nhất thiết kéo theo sự biến động
của tỷ giá.
- Các nghiệp vụ của thị trường hối đoái : Thông qua các nghiệp vụ mua
(gold parity).
Ví dụ: 1 GBP = 5 USD có nghĩa là: 1GBP có chứa "một hàm lượng
vàng" tương đương với 5 lần hàm lượng vàng của 1 USD. Nói cách khác,
ngang giá vàng của GBP so với USD là: GBP/USD = 5.
Trong chế độ bản vị vàng, khi việc đúc tiền vàng , đổi tiền ra vàng và xuất
nhập khẩu vàng được thực hiện tự do thì tỷ giá hối đoái tách khỏi ngang giá
vàng là rất ít vì nó bị giới hạn bởi các điểm vàng. Thực hiện xuất nhập khẩu
vàng sẽ quay quanh "điểm vàng". Giới hạn lên xuống của tỷ giá hối đoái là
ngang giá vàng cộng (hoặc trừ) chi phí vận chuyển vàng giữa các nước hữu
quan. Điểm cao nhất của tỷ giá hối đoái gọi là "điểm xuất vàng" vì vượt quá
giới hạn này, vàng bắt đầu "chảy ra khỏi nước". Điểm thấp nhất của tỷ giá hối
đoái là "điểm nhập vàng" vì xuống dưới giới hạn này, vàng bắt đầu "chảy vào
trong nước".
Nhờ có đặc điểm trên, chế độ bản vị vàng có tính ổn định cao, tiền tệ
không bị mất giá, tỷ giá ít biến động, cán cân thương mại tự động cân bằng.
Chế độ này có khả năng tự điều tiết khối lượng tiền tệ trong lưu thông mà
không cần đến sự can thiệp của Nhà nước, do đó nó có tác động tích cực đối
với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trong giai đoạn đầu phát triển. Đây cũng là
thời kỳ phát triển rực rỡ của thương mại quốc tế.
Tuy nhiên chế độ bản vị vàng tồn tại không lâu, đến 1914 nó sụp đổ do
hàng loạt các nguyên nhân sau:
- Do xu thế phát triển kinh tế thế giới không đồng đều khiến cho một số
nước công nghiệp phát triển ngày càng giàu lên, dự trữ vàng lớn do xuất khẩu
được nhiều hàng hoá. Còn ở các nước kém phát triển kho vàng ngày càng cạn
kiệt do phải nhập khẩu hàng hoá. Do đó, thế giới được chia thành hai khối: các
nước kinh tế phát triển và các nước kinh tế kém phát triển.
Tỷ giá hối đoái - Lạm hành việc phát hành tiền vàng, các Chính phủ đã chi tiêu quá lớn
nghị tại Bretton Woods (Mỹ) tháng 7/1944 để bàn bạc xây dựng hệ thống tiền
tệ và thanh toán chung. Hội nghị được đánh giá là hội nghị thành công nhất thế
Tỷ giá hối đoái kỷ. Tại đây 56 nước ký tên hiệp định chấp nhận thành lập Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và một chế độ tỷ giá hối đoái mới. Theo chế
độ này, các nước cam kết duy trì giá trị đồng tiền của mình theo đồng USD
hoặc theo nội dung vàng trong phạm vi biến động không quá 1% tỷ giá đăng
ký chính thức tại quỹ. Nếu các nước tự thay đổi tỷ giá mà không được sự đồng
ý của IMF thì sẽ bị phạt cấm vận. NHTW các nước phải can thiệp vào thị
trường tiền tệ nước mình để giữ cho tỷ giá nước mình không thay đổi bằng
cách mua bán đồng USD. Điều này cũng có nghĩa là các nước phải cùng nhau
bảo vệ giá trị cho đồng USD. Đổi lại, Mỹ cam kết ổn định giá vàng ở mức
35USD/ounce vàng ( biến động giá cả không quá 24 cent/ounce). USD là đồng
tiền chủ chốt số 1 với tiêu chuẩn giá cả 1USD = 0,88714 gram vàng.
Ví dụ: Trên cơ sở so sánh hàm lượng vàng: 1USD = 5,55 FRF thì
NHTW Pháp phải duy trì tỷ giá ở mức 1USD = 5,4945 FRF (5,55*99%) đến
1USD = 5,6055 FRF (5,5*101%).
Trong thời kỳ đầu cứ 1USD giấy phát hành ra đã có từ 4 đến 8 USD vàng
bảo đảm. Lượng vàng đảm bảo đồ sộ như vậy nên cả thế giới tư bản chỉ lo có
vàng để đổi lấy USD mà mua hàng Mỹ chứ không quan tâm đến việc USD có
đổi lấy vàng được không. Chính vì vậy, các nước có xu hướng chuyển đổi từ
dự trữ vàng sang dự trữ USD để tiết kiệm chi phí. USD đã trở thành tài sản dự
trữ quốc tế của các nước vì Mỹ cam kết với các NHTW rằng sẽ chuyển đổi
không hạn chế USD ra vàng. Các nước ngày càng mở rộng thương mại với Mỹ,
gia tăng dự trữ USD của họ, khiến cho sức hút USD ra ngoài ngày càng tăng.
Tổng khối lượng USD trên toàn thế giới vào cuối năm 1944là 28,5 tỷ USD, thì
đến cuối năm 1968 đã lên đến gần 100 tỷ USD. Trong 25 năm độc quyền phát
hành tiền tệ, Mỹ đã lợi dụng đồng USD để thu hút của cải các nơi trên thế giới
nhanh chóng. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình trong nước và thế
giới, tổng thống Mỹ Nixon sau 2 lần tuyên bố phá giá: Lần 1(tháng8/1971)
1USD = 0,81gram vàng ròng và 42 USD = 1ounce vàng, lần 2 (tháng 3/1973)
1USD = 0,7369 gram vàng ròng và 45 USD = 1 ounce vàng. Đồng USD bị phá
giá (-10%) thì chế độ tỷ giá hối đoái cố định Bretton Woods hoàn toàn sụp đổ.
2.2.1.1.3. Nhận định chung về chế độ tỷ giá cố định:
Đây là chế độ tỷ giá hối đoái mà ở đó Nhà nước, cụ thể là NHTW tuyên
bố sẽ duy trì tỷ giá giữa đồng tiền của quốc gia mình với một hoặc một số đồng
tiền nào đó ở một mức độ nhất định. ở đây, NHTW đóng vai trò điều tiết lượng
dư cầu hoặc dư cung về ngoại tệ để giữ tỷ giá hối đoái cố định bằng cách bán
ra hoặc mua vào số dư đó.
- Ưu điểm của chế độ tỷ giá cố định:
Tỷ giá hối đoái + Thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế vì nó mang lại một môi
trường ổn định, thuận lợi, ít rủi ro cho các hoạt động kinh doanh.
+ Buộc các chính phủ phải hoạch định và thực thi các chính sách vĩ mô.
+ Thúc đẩy các hoạt động hợp tác quốc tế nhằm tránh những xung đột
về mục tiêu chính sách và những biến động về tỷ giá.
- Hạn chế của chế độ tỷ giá cố định:
+ Thường chịu sức ép lớn mỗi khi xảy ra các cơn sốc từ bên ngoài hoặc
từ thi trường hàng hoá trong nước, bởi khi đó mức chênh lệch thực tế quá lớn
về giá trị giữa nội tệ và ngoại tệ sẽ dẫn đến phá vỡ mức cân bằng tỷ giá.
+ Chế độ tỷ giá cố định làm mất tính chủ động của chính sách tiền tệ,
khiến cho NHTW gặp khó khăn trong việc thay đổi lượng tiền cung ứng.
+ Đặc biệt, nó làm cho các quốc gia dễ rơi vào tình trạng "nhập khẩu
lạm phát" không mong muốn.
2.2.1.2. Chế độ tỷ giá thả nổi (từ năm 1973 đến nay):
can thiệp của Chính phủ vào thị trường ngoại hối làm cho tỷ giá hối đoái có
những diễn biến thuận lợi hơn nên chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý ngày càng
được nhiều quốc gia lựa chọn đặc biệt là các nước đang phát triển.
Tỷ giá hối đoái 2.2.1.3. Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý (bán thả nổi):
Đây là chế độ tỷ giá hối đoái có sự can thiệp của hai chế độ cố định
và thả nổi. ở đó, tỷ giá được xác định và hoạt động theo quy luật thị trường,
chính phủ chỉ can thiệp khi có những biến động mạnh vượt quá mức độ cho
phép.
Có 3 kiểu can thiệp của chính phủ:
- Kiểu can thiệp vùng mục tiêu: Chính phủ quy định tỷ giá tối đa, tối
thiểu và sẽ can thiệp nếu tỷ giá vượt quá các giới hạn đó.
- Kiểu can thiệp tỷ giá chính thức kết hợp với biên độ dao động: Tỷ giá
chính thức có vai trò dẫn đường, chính phủ sẽ thay đổi biên độ dao động cho
phù hợp với từng thời kỳ.
- Kiểu tỷ giá đeo bám: Chính phủ lấy tỷ giá đóng cửa ngày hôm trước
làm tỷ giá mở cửa ngày hôm sau và cho phép tỷ giá dao động với biên độ hẹp.
Hiện nay, chế độ tỷ giá "bán thả nổi" hay "cố định bò trườn" có nhiều
tính ưu việt hơn và được nhiều nước sử dụng, đặc biệt là các nước đang phát
triển. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là "thả nổi" hay "bò trườn" ở mức độ bao nhiêu
nên gần với thả nổi hay gần với cố định hơn? biên độ dao động là bao nhiêu?
Rất khó để đưa ra một câu trả lời chung cho mọi quốc gia mà phải tuỳ thuộc
vào điều kiện thực tiễn và mục tiêu của từng quốc gia theo đuổi. Nhìn chung,
đối với các nước kinh tế đang phát triển trong đó có Việt Nam, với một hệ
thống công cụ tài chính còn nhiều yếu kém, sự phối hợp giữa các chính sách
còn thiếu đồng bộ, đồng tiền yếu và dự trữ ngoại tệ còn hạn hẹp thì tỷ giá hối
đoái thả nổi có quản lý tỏ ra là một chính sách hợp lý nhất.
2.2.2 Cơ sở lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái
có thể sử dụng để giữ cho các hoạt động kinh tế của hệ thống quốc
tế không ảnh hưởng tới các chính sách quốc gia.Vì vậy có thể theo
đuổi các chính sách quốc gia mà không cần quan tâm đến thế giới
bên ngoài và như vậy đặc thù của chúng là hệ thống đóng.
Tỷ giá hối đoái
Chương 2
SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI
ĐOÁI TỚI TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA
VIỆT NAM
1. Sự hình thành và vận động của tỷ giá cùng chính sách TGHĐ
trong giai đoạn trước tháng 3/1989 thời kế hoạch hoá , tập trung kinh tế.
Năm 1950 được coi như là một cái mốc khi mà Trung Quốc ,
Liên Xô và các nước chủ nghĩa xã hội Đông Âu thiết lập quan hệ
ngoại giao với Việt Nam , đặt nền móng đầu tiên cho việc hình
thành các quan hệ kinh tế - thương mại giữa Việt Nam và các
nước.Trong hai năm liên tiếp,1952-1953,Việt Nam lần lượt kí hiệp
định thương mại và nghị định thư mậu dịch tiểu nghạch với Trung
Quốc.Từ ngày 25 tháng 11 năm 1955, tỷ giá chính thức được quy
định giữa đồng Việt Nam(VND) và nhân dân tệ Trung Quốc(CNY)
là 1 CNY=1470 VND. Tỷ giá giá này được xác định dựa trên việc
so sánh giá bán lẻ của 34 mặt hàng tiêu dùng tại một số tỉnh lớn của
hai nước. Vào thời điểm này, tỷ giá Rúp của Liên Xô (SUR) và
nhân dân tệ của Trung Quốc (CNY) là 1 CNY = 2SUR. Từ đó,tỷ
đã được xác định một cách chủ quan theo tỷ giá hiện tại giữa đồng Việt Nam
và đồng Rup ( năm 1985: 1SUR=18VND và mối tương quan Dola-Rup xem
như tương đương 1:1.Do đó, TGHD chính thức giữa đồng Việt Nam và Dola
Mỹ vào năm 1985 là 1USD=18VND ) . Cũng bắt đầu từ năm này, thị trường
ngoại tệ chợ đen mà chủ yếu là thị trường Dola Mỹ bắt đầu bột phát một cách
mạnh mẽ vơí sự trợ lực của ba dòng chảy là: dòng kiều hối của kiều bào đổ về
thay thế dân cho những kiện hàng quà biếu mà một phần đáng kể là dưới hình
thức bất hợp pháp. Những lượng lớn Dola Mỹ được cất trữ từ khi miền Nam
được giải phóng bởi các tiểu tư sản Sài Gòn cũ cũng bắt đầu được tung ra ít
nhiều.Thứ ba, cùng với việc xoá bỏ ngăn sông cấm chợ thì dòng chảy hàng
buôn lậu qua biên giới cũng gia tăng theo. Mức TGHD trên thị trường chợ đen
được hình thành và vận động theo những tín hiệu quy luật thị trựờng đã có một
sự chệnh lệch lớn so với tỷ giá chính thức, sự bất hợp lý trong việc xác lập
TGHD ở giai đoạn này thực chất không quan trọng đối với cả nền kinh tế nói
chung vì tỷ giá là một loại giá cả, mà bản thân phạm trù giá cả cơ bản là không
Tỷ giá hối đoái tồn tại trong nền kinh tế tập trung, bao cấp ngoại trừ việc có ảnh hưởng xấu đến
ngân sách Nhà nước.
Với việc thực hiện tỷ giá kết toán nội bộ, mức tỷ giá chính thức
thường cố định trong thời gian tương đối dài và thấp hơn rất nhiều so với mức
tỷ giá trên thị trường.VD:giai đoạn từ năm 1985 đến 1988, 1 Rup có giá vào
khoảng 1500 VND, 1 Dola có giá vào khoảng 3000 VND . Trong khi đó, tỷ giá
kết toán nội bộ trong thanh toán quan hệ xuất nhập khẩu ở mức khoảng
1SUR=150VND và 1USD=225VND. Từ đó, 1 Rup nhập khẩu Nhà nước phải
bù lỗ một số tiền là 1350 đồng và 1 Dola phải bù lỗ 2775 đồng. Như vậy, nếu
kim ngạch trong năm 1987 là 650 triệu SUR-USD , trong đó khu vực đồng
Rup là 500 triệu và khu vực Dola là 150 triệu thì số tiền phải bù lỗ lên đến 900
tỷ VND . Tình hình này dẫn đến một thực trạng là những địa phương, những
2.1. Giai đoạn từ 1989-1992.
Giai đoạn này có thể được coi là cái mốc quan trọng trong phát triển
TGHĐ ở nước ta khi quan hệ ngoại thương được bao cấp với các thị trường
truyền thống Đông Âu và Liên Xô(cũ) bị gián đoạn , khiến chúnh ta phải
chuyển sang buôn bán với khu vực thanh toán bằng dola Mỹ.Kể từ đó cơ chế tỷ
giá ổn định đã được thay thế dần bằng cơ chế Nhà nước điều tiết theo quan hệ
thị trường.Để đi tới một chính sách TGHĐ tự chủ như ngày nay,cơ chế quản lý
ngoại tệ nói chung , quản lý hối đoái nói riêng đã trải qua những diều chỉnh lớn.
Chính trong giai đoạn này nền kinh tế chịu tác động của chính sách thả
nổi tỷ giá.Tỷ giá hối đoái VND/USD biến động mạnh theo xu hướng giá trị
đồng dola Mỹ tăng liên tục kèm theo các cơn “sốt”, các đột biến với biên độ rất
lớn ( Từ cuối năm 1990 trở đi ) . Đỉnh cao của mức tăng tỷ giá USD là cuối
năm 1991 . Ngày 4/12/1991 giá dola Mỹ trên thị trường tư nhân tại Hà nội và
Thành phố Hồ Chí Minh là 14.450 VND/USD . Giá dola trong tháng 12/1990
đã tăng từ 60 đến 80% so với mức giá đầu năm.
Mặc dù trong giai đoạn 1989-1992 chính sách quản lý ngoại tệ của Nhà
Nước đã có nhiều thay đổi , như chuyển từ hình thức quản lý theo tỷ giá kết
toán nội bộ bình quân cho tất cả các nhóm hàng hoá và duy trì tương đối ổn
định các tỷ giá này , hoặc nếu có thay đổi thì cũng chỉ ở mức nhỏ nhằm ổn định
hệ thống giá vật tư và xuất khẩu , nhập khẩu , nên tỷ giá công bố vẫn cách xa
mức giá hình thành trên thị trường.
Diễn biến tỷ giá hối đoái từ năm1989 đến năm 1992 không những nói
nên khoảng cách giữa tỷ giá của nhà nước với tỷ giá hình thành trên thị trường
tự do mà còn phản ánh xu hướng tăng nhanh của giá trị đồng dola ở cả khu vực
nhà nước lẫn thị trường . Năm 1990,giá trị đồng dola vào thời điểm cuối năm
đã tăng tới 50% so với đầu năm . Mức tăng giá USD trong 1991 còn cao
hơn .Tình trạng leo thang của giá đồng dola đã kích thích tâm lý nắm giữ đồng