SVTH : NHOM 7
GVHD : Ths-Luật sư : Lê Minh Nhựt 1
Tiểu luận
Vi Phạm Hành Chính và Trách Nhiệm Hành
Chính trong pháp luật Việt Nam hiện nay
SVTH : NHOM 7
GVHD : Ths-Luật sư : Lê Minh Nhựt 2
MỤC LỤC Lời mở đầu 2
PHẦN I: VI PHẠM HÀNH CHÍNH 3
1.1. Khái niệm 3
1.2. Đặc điểm 3
1.3. Các văn bản pháp luật quy định 3
1.4. Các yếu tố cấu thành Vi Phạm Hành Chính 3
1.4.1. Mặt khách quan 3
1.4.2. Mặt chủ quan 5
1.4.3. Chủ thể vi phạm hành chính 6
1.4.4. Khách thể của vi phạm hành chính 7
1.5. Phân biệt giữa vi phạm hành chính và tội phạm 7
1.5.1. Mức độ gây thiệt hại cho xã hội 7
1.5.2. Mức độ tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần 8
1.5.3. Công cụ, phương tiện, thủ đoạn thực hiện hành vi vi phạm 8
quốc gia, Hà Nội; Vi phạm pháp luật và đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong
lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam hiện nay (2003), Luận án tiến sĩ Luật học của Bùi Minh
Thanh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Vi phạm pháp luật hành
chính trong lĩnh vực hải quan và giải pháp xử lý, Luận văn thạc sĩ Luật học của Lê
Nguyễn Nam Ninh (2004), Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội … Hoặc một số
công trình có đề cập nội dung rất nhỏ liên quan đến vi phạm pháp luật nói chung
như: Chính sách đất đai của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của
Tôn Gia Huyên (trong cuốn bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 2002); Về thực trạng chính sách đất đai ở Việt Nam của
Phạm Hữu Nghị, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, 8/2002; Tạp chí Quản lý nhà
nước, 4/2001.
Qua nghiên cứu các tài liệu trên và bài giảng của thầy Nhựt, nhóm sinh viên
xin được giới thiệu khái quát về Vi Phạm Hành Chính và Trách Nhiệm Hành Chính
trong pháp luật Việt Nam hiện nay.
SVTH : NHOM 7
GVHD : Ths-Luật sư : Lê Minh Nhựt 4
1. VI PHẠM HÀNH CHÍNH
1.1. Khái niệm :
Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố
ýhoặc vô ý, vi phạm các quy đinh của pháp luật về quản lý nhà nước mà không
phải là tội phạm và theo quy đinh của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.
1.2. Đặc điểm:
- Vi phạm hành chính là một trong bốn loại vi phạm pháp luật xảy ra phổ
biến trong đời sống xã hội. Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm này
thấp hơn so với tội phạm nhưng vi phạm hành chính gây thiệt hại hoặc đe dọa gây
thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, tập thể, lợi ích của cá nhân cũng như lợi ích
chung của toàn thể cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm tội nảy sinh
trên các lĩnh vực của đời sống xã hội nếu như không được ngăn chặn và xử lý kịp
thời.
- Vi phạm hành chính là hành vi trái với các quy định của pháp luật về quản
- Không được áp dụng “nguyên tắc suy đoán vi phạm” hoặc “áp dụng pháp
luật tương tự” trong việc xác định vi phạm hành chính.
- Đối với một số loại vi phạm hành chính cụ thể, dấu hiệu trong mặt khách
quan có tính chất phức tạp, không đơn thuần chỉ có một dấu hiệu nội dung trái pháp
luật trong hành vi mà còn có thể có sự kết hợp với những yếu tố khác. Thông
thường những yếu tố này có thể là:
a/ Thời gian thực hiện hành vi vi phạm:
Ví dụ: Căn cứ điểm l khoản 1 Điều 8 Nghị định 34/2010/NĐ-CP ngày
02/4/2010 của Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính là: “Bấm còi hoặc
gây ồn ào, tiếng động lớn làm ảnh hưởng đến sự yên tĩnh trong đô thị và khu đông
dân cư trong thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 5 giờ ngày hôm sau, trừ các
xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định”
b/ Địa điểm thực hiện hành vi vi phạm:
Ví dụ:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 16 Nghị định 45/2005/NĐ-CP ngày 06/4/2005
của Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính là: “Hút thuốc lá, thuốc lào ở
nơi công cộng như: trong rạp hát, rạp chiếu phim, phòng họp, phòng làm việc,
bệnh viện, thư viện, phòng đợi của nhà ga, bến xe, sân bay, bến cảng, trên các
phương tiện giao thông công cộng hoặc ở những nơi công cộng khác có quy định
cấm”.
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 19 Nghị định 75/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010
của Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính là: “Kinh doanh trò chơi điện
tử ở địa điểm cách trường học dưới 200 m hoặc quá 22 giờ đêm đến 8 giờ sáng”
c/ Công cụ phương tiện vi phạm:
Một hành vi vi phạm hành chính thường là do một chủ thể gây ra, nhưng bên
cạnh đó người vi phạm có phương tiện công cụ dùng để vi phạm.
Ví dụ: Hành vi điều khiển xe lạng lách hoặc đánh võng trên đường bộ trong,
ngoài đô thị vi phạm điểm b khoản 7 điều 9 nghị định 34/2010/NĐ-CP ngày
SVTH : NHOM 7
GVHD : Ths-Luật sư : Lê Minh Nhựt 6
cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 60.000 đồng đến 100.000 đồng đối với hành vi đổ nước
hoặc để nước chảy ra khu tập thể, lòng đường, vỉa hè, nhà ga, bến xe, nơi công
cộng, trên các phương tiện giao thông hoặc ở những nơi khác làm mất vệ sinh
chung.theo điểm b khoản 01 điều 09 nghị định 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005.
Nhưng nếu nhà người ta bị bể ống nước thì không phạt được, hoặc khi phát hiện ra
hành vi vi phạm đến lúc lập được biên bản thì nước đã khô.
SVTH : NHOM 7
GVHD : Ths-Luật sư : Lê Minh Nhựt 7
- Đối với tổ chức vi phạm hành chính, có ý kiến cho rằng lỗi chỉ là trạng thái
tâm lý của cá nhân trong khi thực hiện hành vi vi phạm nên không đặt ra vấn đề lỗi
đối với tổ chức vi phạm hành chính. Khi xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ
chức, chỉ cần xác định tổ chức đó có hành vi trái pháp luật hành chính và hành vi
đó theo quy định của pháp luật bị xử phạt bằng các biện pháp xử phạt vi phạm hành
chính là đủ. Quan điểm khác lại cho rằng cần phải xác định lỗi của tổ chức khi vi
phạm hành chính thì mới có đầy đủ cơ sở để xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ
chức vi phạm. Theo quan điểm này, lỗi của tổ chức được xác định thông qua lỗi
của các thành viên trong tổ chức đó khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao. Về
phương diện pháp luật, pháp lệnh xử ly vi phạm hành chính hiện hành quy định
chung rằng tổ chức phải chịu trách nhiệm về mọi vi phạm hành chính do mình gây
ra và có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Đồng thời,
còn phải có trách nhiệm xác định lỗi của người thuộc tổ chức của mình trực tiếp
gây ra vi phạm hành chính trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ được giao để truy
cứu trách nhiệm kỷ luật và để bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Ví dụ: xử phạt vi phạm hành chính đối với nhà thầu thi công công trình xây
dựng sai phép hoặc không phép.
1.4.3. Chủ thể vi phạm hành chính :
Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính là các tổ chức, cá nhân có
năng lực chịu trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật hành chính.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính
phải là người không mắc các bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả
phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Vi phạm hành chính có mức độ nguy hiểm thấp hơn so với tội phạm hình
sự.
Trong nhiều trường hợp trên thực tế, ranh giới giữa vi phạm hành chính và
tội phạm hình sự rất khó xác định. Vì vậy, nếu không giải quyết đúng đắn vấn đề
này rất dễ xảy ra tình trạng "để lọt tội phạm" hoặc " xử lý oan người vi phạm chưa
đến mức phạm tội". Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm được đánh
giá ở nhiều yếu tố khác nhau và những yếu tố này thường được ghi nhận trong các
văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Căn cứ vào các quy định
hiện hành, việc đánh giá mức độ nguy hiểm của tội phạm và vi phạm hành chính
thường dựa vào những căn cứ dưới dây:
1.5.1. Mức độ gây thiệt hại cho xã hội :
Mức độ gây thiệt hại có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như
mức độ gây thương tật, giá trị tài sản bị xâm hại, giá trị hàng hóa phạm pháp
Dựa vào dấu hiệu này, ta có thể phân biệt ranh giới giữa vi phạm hành chính
và tội phạm hình sự.
Ví dụ: Khoản 1 Điều 138 Bộ Luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
quy định: " Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng
đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả
nghiêm trọng thì bị ". Như vậy, nếu như giá trị tài sản bị trộm cắp dưới mức
quy định nêu trên thì người vi phạm chỉ bị xử phạt hành chính về hành vi "trộm cắp
SVTH : NHOM 7
GVHD : Ths-Luật sư : Lê Minh Nhựt 9
vặt" theo quy định của khoản 1 Điều 18 Nghị định của Chính phủ số 150/2005/NĐ-
CP ngày 12/12/2005;
1.5.2. Mức độ tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần :
Dấu hiệu này cũng có thể giúp chúng ta xác định được ranh giới giữa tội
phạm và vi phạm hành chính. Trong Bộ Luật hình sự, nhiều loại tội phạm được nhà
làm luật mô tả là “đã bị xử phạt hành chính”. Trong những trường hợp này, nếu
chỉ đánh giá về mặt hành vi thì khó xác định được đó là tội phạm hay vi phạm hành
GVHD : Ths-Luật sư : Lê Minh Nhựt 10
- Vi phạm hành chính được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác
nhau của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như luật, pháp lệnh hoặc nghị định.
- Hai loại vi phạm này cũng khác nhau ở yếu tố chủ thể. Trong khi chủ thể
của vi phạm hành chính có thể là cá nhân hoặc tổ chức, chủ thể của tội phạm theo
quy định của pháp luật hình sự nước ta chỉ có thể là cá nhân.
1.6. Các nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính :
1. Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ
ngay. Việc xử lý vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công minh,
triệt để; mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng
quy định của pháp luật.( Theo điều 03 Pháp lệnh Xử Lý Vi Phạm Hành Chính
2002)
2. Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt hành chính khi có vi phạm hành chính do
pháp luật quy định cụ thể trong các văn bản luật của Quốc hội, pháp lệnh của ủy
ban Thường vụ Quốc hội và nghị định của Chính phủ.
Các văn bản do Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân ban hành để chỉ đạo, hướng dẫn, tổ
chức thực hiện xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền không được quy định
hành vi vi phạm hành chính và hình thức, mức xử phạt;
Cá nhân chỉ bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác nếu thuộc một
trong các đối tượng được quy định tại các điều 23, 24, 25, 26 và 27 của Pháp Lệnh
Vi Phạm Hành Chính .
3. Việc xử lý vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền tiến hành theo
đúng quy định của pháp luật.
4. Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt hành chính một lần, cụ thể:
a) Một hành vi vi phạm đã được người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử
phạt hoặc đã lập biên bản để xử phạt thì không được lập biên bản, ra quyết định xử
phạt lần thứ hai đối với chính hành vi đó nữa. Trong trường hợp hành vi vi phạm
vẫn tiếp tục được thực hiện mặc dù đã bị người có thẩm quyền xử phạt ra lệnh đình
chỉ thì bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 8 Điều 9 của Pháp lệnh;
2.1- Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm hành chính :
2.1.1. Khái niệm :
Trong giao tiếp ngôn ngữ hàng ngày, thuật ngữ “trách nhiệm” được dùng theo
nhiều nghĩa khác nhau, tuỳ theo lĩnh vực và ngữ cảnh cụ thể; như trong lĩnh vực
chính trị đạo đức,“trách nhiệm” được hiểu theo nghĩa bổn phận, vai trò, mang tính
tích cực, xuất phát từ ý thức của con người về vị trí, vai trò của mình đối với xã hội,
đối với những người thân thích… Còn trong lĩnh vực pháp lý, thuật ngữ “trách
nhiệm” được hiểu theo hai nghĩa:
Trách nhiệm là nghĩa vụ (nghĩa tích cực).
Trách nhiệm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi vì đã vi phạm pháp luật,
đó là sự phản ứng, lên án của Nhà nước và xã hội đối với những chủ thể vi
phạm pháp luật gây hậu quả xấu cho xã hội.
Trách nhiệm hành chính mà chúng ta tìm hiểu có thể được hiểu theo nghĩa
thứ hai. Để có căn cứ xác định thế nào là trách nhiệm hành chính, trước tiên chúng
ta cũng cần phải biết thế nào là trách nhiệm pháp lý, vì trách nhiệm hành chính là
một dạng cụ thể của trách nhiệm pháp lý.
Trách nhiệm pháp lý theo lý luận chung, đó là hậu quả bất lợi (sự trừng phạt)
đối với chủ thể vi phạm pháp luật, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa Nhà
nước với chủ thể vi phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật điều
chỉnh; trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả bất lợi,
những biện pháp cưỡng chế được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật.
Như vậy, từ những căn cứ trên ta có thể khẳng định rằng: Trách nhiệm hành
chính là một dạng của trách nhiệm pháp lý được áp dụng trong hoạt động quản lý,
hoạt động hành chính nhà nước theo quy định của pháp luật hành chính. Đó là sự
áp dụng những biện pháp cưỡng chế hành chính mang tính chất xử phạt hoặc khôi
phục lại những quyền và lợi ích bị xâm hại được quy định trong những chế tài của
quy phạm pháp luật hành chính, bởi cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đối
với những chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính.
Trách nhiệm hành chính thể hiện sự phản ứng tiêu cực của cơ quan nhà nước
đối với chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính. Kết quả là chủ thể đó phải
Ví dụ: Căn cứ vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thì tổ chức và cá
nhân đã thực hiện vi phạm hành chính, nhưng vi phạm hành chính đó đã hết
thời hiệu xử phạt theo quy định của pháp luật, do đó, trách nhiệm hành chính
cũng sẽ không đặt ra đối với họ trong trường hợp này.
Việc xác định cụ thể chủ thể vi phạm hành chính (tổ chức, cá nhân) có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng, góp phần giúp ta có thể phân biệt được trách nhiệm hành chính
với trách nhiệm hình sự (cá nhân thực hiện hành vi phạm tội).
b). Trách nhiệm hành chính là trách nhiệm trước Nhà nước:
Đó là việc tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính đã xâm phạm đến trật tự quản lý
nhà nước do Nhà nước thiết lập. Vì thế, Nhà nước buộc các tổ chức, cá nhân trên
phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi để bảo vệ trật tự quản lý hành chính
nhà nướcmà mình đã thiết lập. Việc thực hiện biện pháp chế tài của các tổ chức, cá
SVTH : NHOM 7
GVHD : Ths-Luật sư : Lê Minh Nhựt 14
nhân vi phạm hành chính là trách nhiệm của họ trước Nhà nước chứ không phải
trước các chủ thể khác. Đây là điểm khác biệt giữa trách nhiệm hành chính với
trách nhiệm dân sự (Vì trong trách nhiệm dân sự, việc phải thực hiện các biện pháp
chế tài của tổ chức, cá nhân bị truy cứu trách nhiệm dân sự là nghĩa vụ của họ trước
một tổ chức hay cá nhân cụ thể có quyền và lợi ích bị xâm hại, Nhà nước chỉ là chủ
thể có vai trò đảm bảo việc thực hiện đầy đủ các biện pháp chế tài dân sự của bên
vi phạm đối bên bị vi phạm).
c). Việc truy cứu trách nhiệm hành chính phải được thực hiện trên cơ sở các
quy định của pháp luật hành chính
Cụ thể: Pháp luật hành chính của Nhà nước ta đã quy định cụ thể những người
có thẩm quyền thực hiện hoạt động truy cứu trách nhiệm hành chính đối với các tổ
chức, cá nhân vi phạm hành chính. Hiện nay, thẩm quyền truy cứu trách nhiệm
hành chính được trao cho nhiều cơ quan tổ chức khác nhau, nhưng những người
được trao thẩm quyền này trước hết và chủ yếu vẫn là những người có thẩm quyền
quản lý hành chính nhà nước trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước. Bên
cạnh đó, trong một số trường hợp đặc biệt, thẩm quyền trên cũng được trao cho
đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý hành
chính nhà nước cụ thể là những cơ sở pháp lý quan trọng để tiến hành hoạt động
xử phạt vi phạm hành chính.
Xử phạt hành chính được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền theo quy định
của pháp luật. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính các văn bản pháp luật khác
có quy định về xử phạt vi phạm hành chính quy định cụ thể các chủ thể có thầm
quyền xử phạt vi phạm hành chính, hình thức, mức độ xử phạt hành chính mà
họ được phép áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính;
Xử phạt vi phạm hành chính dược tiến hành theo những nguyên tắc, trình tự thủ
tục được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành;
Kết quả của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính thể hiện ở quyết định xử
phạt vi phạm hành chính ghi nhận các hình thức, biện pháp xử phạt áp dụng đối
với tổ chức, cá nhân vì phạm hành chính. Việc quyết định áp dụng biện pháp xử
phạt đó ngoài việc thể hiện sự trừng phạt nghiêm khắc của Nhà nước đôi với các
tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính còn hướng tới mục đích giáo dục cho mọi
người ý thức tuân thủ pháp luật hành chính nói riêng và pháp luật nói chung, ý
thức tôn trọng các quy tắc của đời sống cộng đồng, phòng ngừa các vi phạm
pháp luật có thể xảy ra.
2.2.3. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp cưỡng chế
hành chính khác
a). Các hình thức xử phạt chính:
Đối với mỗi vi phạm hành chính, tổ chức, cá nhân, vi phạm phải chịu một trong
các hình thức xử phạt hành chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền:
Cảnh cáo:
Hình thức này được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính nhỏ,
lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do
người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến ~ 16 tuổi thực hiện. Khi xử phát cảnh cáo,
SVTH : NHOM 7
GVHD : Ths-Luật sư : Lê Minh Nhựt 16
Phạt tiền:
Phạt tiền là hình thức xử phạt chính được quy định tại Điều 14 pháp lệnh xử lý
vi phạm hành chính năm 2002. Các tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính nếu
không thuộc trường hợp bị xử phạt cảnh cáo thì bị xử phạt bằng hình thức phạt tiền.
Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 quy định mức phạt tiền trong xử
phạt vi phạm hành chính là từ 10.000 đồng đến 500.000.000 đồng.
SVTH : NHOM 7
GVHD : Ths-Luật sư : Lê Minh Nhựt 17
Căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, mức phạt tối đa trong các lĩnh vực quản
lý nhà nước được quy định như sau (Pháp lệnh sữa đổi, bổ sung năm 2008):
a) Phạt tiền tối đa đến 30.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm
hành chính trong các lĩnh vực: an ninh, trật tự, an toàn xã hội; quản lý và bảo
vệ các công trình giao thông; khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi; lao
động; đo lường, chất lượng sản phẩm hàng hoá; kế toán; thống kê; tư pháp;
bảo hiểm xã hội; phòng cháy, chữa cháy;
b) Phạt tiền tối đa đến 40.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm
hành chính trong các lĩnh vực: giao thông đường bộ; giao thông đường thủy
nội địa; văn hoá - thông tin; du lịch;phòng, chống tệ nạn xã hội; đê điều,
phòng chống lụt, bão; y tế; giá; điện lực; bảo vệ và kiểm dịch thực vật; bảo
vệ nguồn lợi thuỷ sản; thú y; giống cây trồng; giống vật nuôi; quốc phòng;
dân số và trẻ em; lao động đi làm việc ở nước ngoài; dạy nghề; biên giới
quốc gia;
c) Phạt tiền tối đa đến 70.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm
hành chính trong các lĩnh vực: thương mại; phí, lệ phí; hải quan; an toàn và
kiểm soát bức xạ; giao thông đường sắt; bưu chính, viễn thông và tần số vô
tuyến điện; chuyển giao công nghệ; kinh doanh bảo hiểm; quản lý vật liệu nổ
công nghiệp; thể dục, thể thao;
d) Phạt tiền tối đa đến 100.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm
hành chính trong các lĩnh vực: hàng hải; hàng không dân dụng; khoa học,
công nghệ; đo đạc, bản đồ; giáo dục; công nghệ thông tin; tài nguyên nước;
chính thì người có thẩm quyền chỉ ra một quyết định .xử phạt trong đó quyết
định hình thức, mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm, nếu các hình thức
xử phạt là phạt tiền thì được cộng lại thành mức phạt chung.
- Cá nhân, tổ chức vi phạm bị phạt tiền có thể nộp tiền phạt tại chỗ hoặc tại
kho bạc nhà nước theo đúng quy định của pháp luật và được nhận biên lai
thu tiền phạt.
Trục xuất.
Trục xuất là việc buộc người nước ngoài vi phạm hành chính trên lãnh thổ Việt
Nam phải rời khỏi Việt Nam.
Chính phủ quy định thủ tục trục xuất.
Trục xuất vừa là hình thức phạt chính vừa là hình thức phạt bổ sung trong từng
trường hợp cụ thể.Trục xuất là hình thức phạt chính khi được áp dụng độc lập hoặc
là hình thức phạt bổ sung khi được áp dụng kèm theo hình thức phạt chính khác.
b). Các hình phạt bổ sung :
Ngoài các hình thức xử phạt chính, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân,
tổ chức vi phạm còn có thể bị áp đụng một hoặc các hình thức xử phạt bố sung là:
Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề và tịch thu tang vật, phương
tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.
Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề:
Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề của tổ chức, cá nhân vi
phạm hành chính có thời hạn hoặc không thời hạn khi tổ chức, cá nhân đó đã vi
SVTH : NHOM 7
GVHD : Ths-Luật sư : Lê Minh Nhựt 19
phạm nghiêm trọng quy định sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề đó. Trong
thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, cá nhân, tổ chức
không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
Hình thức xử phạt được áp dụng khi có đủ hai điều kiện sau:
- Văn bản pháp luật về xử phạt hành chính quy định có thể áp dụng biện pháp
xử phạt này đối với vi phạm hành chính cụ thể nào đó;
- Cá nhân, tổ chức đã có hành vi trực tiếp vi phạm quy tấc sử dụng giấy phép,
quyền quyết định áp dụng và cố nhiên nó có thể được ghi nhận trong các văn bản
áp dụng khác nhau.
c) Các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra:
Trong nhiều trường hợp ngoài việc bị áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính
như đã nêu trên, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng các
biện pháp khấc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra. Về mặt bản chất, biện
pháp cưỡng chế hành chính này không có tính trừng phạt người vi phạm hành
chính mà chỉ nhằm mục đích khắc phục những hậu quả do vi phạm hành chính dã
để lại trên thực tế.
Các biện pháp này bao gồm:
a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính
gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép;
b) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây
lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra;
c) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hoá, vật phẩm,
phương tiện;
Biện pháp này được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong
trường hợp đưa hàng hóa, vật phẩm, phương tiện vào lãnh tổ Việt Nam, nhập khẩu
trái với quy định của pháp luật hoặc hàng tạm nhập tái xuất nhưng không được tái
xuất đúng với quy định của pháp luật thì buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc
buộc tái xuất. Pháp luật quy định trong các trường hợp trên, cá nhân, tổ chức vi
phạm phải chịu mọi chi phí để thực hiện biện pháp này.
d) Buộc tiêu huỷ vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi và cây
trồng, văn hoá phẩm độc hại;
e) Các biện pháp khác do Chính phủ quy định
Việc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra
nêu trên phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
- Chỉ được áp dụng khi văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính cho
phép áp dụng đối với vi phạm hành chính cụ thể đó;
- Khi áp dụng phải tuân thủ triệt để pháp luật về thẩm quyền, thủ tục áp dụng.
chính khác là cá nhân công dân Việt Nam, có hành vi vi phạm pháp luật về
an ninh, trật tự an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm
hình sự.
Về thẩm quyền quyết định áp dụng: Thẩm quyền quyết định áp dụng biện
pháp xử lý hành chính khác theo quy định của pháp luật thuộc về chủ tịch
UBND cấp tỉnh, huyện hoặc cấp xã. Trong khi đó thẩm quyền áp dụng các
biện pháp xử phạt vi phạm hành chính được pháp luật không chỉ cho Chủ
tịch UBND các cấp mà còn cho nhiều chủ thế khác.
Về thủ tục quyết định áp dụng: Việc áp dụng các biện pháp xử lý hành
chính khác đối với các đối tượng vi phạm pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến
quyền tự do của mỗi cá nhân. Vì vậy thủ tục quyết định áp dụng các biện
pháp xử lý hành chính khác rất chặt chẽ, phải qua nhiều khâu xét duyệt với
SVTH : NHOM 7
GVHD : Ths-Luật sư : Lê Minh Nhựt 22
sự tham gia của nhiều cơ quan, cán bộ có thẩm quyền khác nhau. Trong khi
đó thủ tục xử phạt vi phạm hành chính được pháp luật quy định đơn giản,
thuận tiện hơn.
* Các biện pháp xử lý hành chính khác bao gồm:
Giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Đưa vào trường giáo dưỡng.
Đưa vào cơ sở giáo dục.
Đưa vào cơ sở chữa bệnh
2.2.4. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
Khác với việc xét xử các hành vi phạm tội thẩm quyền được giao cho một cơ
quan duy nhất là tòa án thực hiện, việc xử phạt vi phạm hành chính được giao cho
nhiều cơ quan, cán bộ có thẩm quyền khác nhau thực hiện, gồm:
- Chủ tịch UBND các cấp;
- Cơ quan công an nhân dân;
- Bộ đội biên phòng;
- Cơ quan cảnh sát biển;
a). Thủ tục ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính:
Theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính thì việc ra quyết định xử
phạt hành chính được tiến hành theo các thủ tục dưới đây:
- Khi phát hiện vi phạm hành chính của cá nhân, tổ chức người có thẩm quyền
xử phạt phải ra lệnh đình chỉ ngay hành vi vi phạm của cá nhân, tổ chức.
- Nếu vi phạm của cá nhân, tổ chức chỉ phạt ở mức cảnh cáo hoặc phạt tiền
đến 200.000 đồng thì người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt tại
chỗ mà không cần lập biên bản về vi phạm hành chính (trừ trường hợp xử
phạt vi phạm hành chính được phát hiện, truy tìm bằng phương tiện, kỹ thuật
nghiệp vụ). Đây là loại thủ tục xử phạt đơn giản.
- Nếu vi phạm của tổ chức, cá nhân bị phạt tiền ở mức từ 200.000 đồng trở lên
thì người có thẩm quyền xử phạt phải thực hiện việc xử phạt như sau:
o Lập biên bản về hành vi vi phạm hành chính.
o Thời hạn ra quyết định xử phạt là 10 ngày kể từ ngày lập biên bản về vi
phạm hành chính, đối với vụ vi phạm hành chính có nhiều tình tiết phức
tạp thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 360 ngày. Trong trường hợp xét
thấy cần thêm thời gian để xác minh thu nhập chứng cứ thì người có thẩm
quyền phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình văn bản để xin gia hạn,
việc gia hạn phải bằng văn bản. Thời gian gia hạn không được quá 30
ngày.
* Nếu trong quá trình xử phạt vi phạm hành chính, khi xét thấy hành vi vi
phạm có dấu hiệu tội phạm, người có thẩm quyền phải chuyển ngay hồ sơ
SVTH : NHOM 7
GVHD : Ths-Luật sư : Lê Minh Nhựt 24
cho cơ quan xử lý hình sự có thẩm quyền giải quyết. Pháp luật nghiêm cấm
việc giữ lại các vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử lý hành chính.
b). Thủ tục thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính:
Quyết định xử phạt có hiệu lực kể từ ngày ký, trừ trường hợp trong quyết định
quy định ngày có hiệu lực khác. Quyết định xử phạt được gửi cho cá nhân, tổ chức
bị xử phạt và cơ quan thu tiền phạt trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định
Vấn đề thời hiệu trong xử phạt vi phạm hành chính cũng là vấn đề tương đối phức
tạp. Nhằm mục đích phát hiện, xử lý và thi hành quyết định xử lý các vi phạm hành
chính đã xảy ra một cách nhanh chóng, kịp thời. Pháp luật hiện hành đã quy định
một số thời hiệu sau đây trong xử phạt hành chính:
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính: là một năm kể từ ngày vi phạm hành
chính được thực hiện. Đối với một số loại vi phạm hành chính trong các lĩnh
vực như tài chính, xây dựng, môi trường, nhà ở, đất đai, đê điều, xuất bản,
xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, các hành vi buôn lậu, sản xuất, buôn bán
hàng giả thì thời hiệu được tính là hai năm kể từ ngày vi phạm hành chính
được thực hiện.
Đối với cá nhân đã bị khởi tố, truy tố hoặc đã có quyết định đưa ra xét xử
theo thủ tục tố tụng hình sự nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều tra
hoặc đình chỉ vụ án mà hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm hành chính thì
bị xử phạt hành chính: trong hời hạn 3 ngày kể từ ngày ra quyết định đình
chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án, người đã ra quyết định phải gửi quyết định
cho người có thẩm quyền xử phạt; trong trường hợp này, thời hiệu xử phạt vi
phạm hành chính là 3 tháng kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận
được quyết định đình chỉ và nhận hồ sơ vụ vi phạm.
Trong thời hạn nêu trên mà cá nhân, tổ chức lại thực hiện vi phạm hành
chính mới trong cùng lĩnh vực trước đây đã vi phạm hoặc cố tình trốn tránh,
cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể
từ thời điểm thực hiện vi phạm hành chính mới hoặc thời điểm chấm dứt
hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt (Điều 10, Pháp lệnh 2002).
Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt: (Điều 69, Pháp lệnh 2002) là một năm
kể từ ngày ban hành quyết định xử phạt. Đối với các tổ chức, cá nhân vi
phạm cố tình trốn tránh hoặc trì hoãn việc thi hành thì thời hiệu nói trên được
tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, trì hoãn.
2.2.6. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về xử phạt vi phạm hành chính và việc giải
quyết Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về xử phạt cũng như xử lý vi phạm hành
chính và việc giải quyết chúng được Pháp lệnh 2002 quy định như sau: