Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo trong pháp luật Việt Nam hiện nay - Pdf 26


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
PHM PHNG HOA BảO ĐảM QUYềN Tự DO TíN NGƯỡNG và Tự DO TÔN GIáO
TRONG PHáP LUậT VIệT NAM HIệN NAY Chuyờn ngnh: Phỏp lut v quyn con ngi
Mó s: Chuyờn ngnh o to thớ im LUN VN THC S LUT HC


Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÍN
NGƢỠNG VÀ TỰ DO TÔN GIÁO 7
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TỰ
DO TÔN GIÁO VÀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO
TÍN NGƯỠNG, TỰ DO TÔN GIÁO 7
1.1.1. Khái niệm về quyền tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo 7
1.1.2. Đặc điểm của quyền tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo 13
1.1.3. Một số nguyên tắc bảo đảm Quyền tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo 16
1.2. TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ VÀ KINH NGHIỆM BẢO ĐẢM QUYỀN
TỰ DO TÍN NGƯỠNG VÀ TỰ DO TÔN GIÁO TRONG PHÁP
LUẬT CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ý NGHĨA ĐỐI
VỚI VIỆT NAM 18
1.2.1. Tiêu chuẩn quốc tế 18
1.2.2. Các văn kiện khu vực 27
1.2.3. Kinh nghiệm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo trong pháp
luật của một số nước 29

Chƣơng 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÍN NGƢỠNG,
TỰ DO TÔN GIÁO TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 41
2.1. KHÁI QUÁT VỀ TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY 41
2.1.1. Khái quát về tín ngưỡng ở Việt Nam 41
2.1.2. Khái quát tình hình tôn giáo ở Việt Nam 43
2.2. BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG VÀ TỰ DO TÔN GIÁO

TCN
Trước Công nguyên
SCN
Sau Công nguyên
UNESCO (United Nations Educational
Scientific and Cultural Organization)
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn
hóa của Liên hiệp quốc
ILO (International Labour Organization)
Tổ chức Lao động quốc tế
ICCPR (International Convenant on Civil
and Political Rights)
Công ước quốc tế về các quyền dân
sự và chính trị
ICESCR (International Convenant on
Economic, Social and Cultual Rights)
Công ước quốc tế về các quyền kinh
tế, văn hóa và xã hội
UDHR (Universal Declaration of Human
Rights)
Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền
con người
ECHR (The European Convention on
Human Rights)
Công ước Châu Âu về bảo vệ quyền
con người và tự do cơ bản
ACHR (The American Convention on
Human Rights)
Công ước Châu Mỹ về quyền con
người

tham gia sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Xuất phát từ nhận thức mới về tôn giáo: Trong thời kỳ đổi mới, vấn đề tôn
giáo có những nội dung mới. Năm 1990, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 24 về công tác
tôn giáo đã khẳng định „Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng, tôn
giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều
điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”, đây là kim chỉ nam cho mọi
hành động của hệ thống chính trị trong ứng xử đối với các đồng bào các tôn giáo.
- Xuất phát từ kinh nghiệm quốc tế về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự
do tôn giáo: xuất phát từ chính sách đối ngoại mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa
các mối quan hê quốc tế, Việt Nam tham gia hầu hết các công ước quốc tế, Việt
Nam có trách nhiệm thực hiện các công ước đã gia nhập, đòi hỏi phải nội luật hóa
các điều quốc tế để xây dựng hệ thống pháp luật quốc gia tương thích với pháp luật
quốc tế và phù hợp với xu thế quốc tế hóa.
- Xuất phát từ chính sách và thực hiện chính sách về tôn giáo: Tôn trọng và
bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo là một xu thế tiến bộ của nhân
loại, đã trở thành một chính sách lớn của nhiều nhà nước. Tôn trọng quyền tự do tín

2
ngưỡng và tự do tôn giáo, theo hay không theo một tôn giáo nào là tư tưởng nhất
quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bảo
đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo là một nguyên tắc trong quan hệ của
Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tôn giáo; là động lực quan trọng giúp đồng bào
tôn giáo nhận thức rằng, Nhà nước không phân biệt đối xử, bình đẳng giữa đồng
bào có tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo; là một nhân tố quan
trọng phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trong quá trình triển khai thực hiện, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng
và Nhà nước ta cũng đã và đang bộc lộ những hạn chế, chưa phù hợp với tình hình
thực tế. Có nơi, có lúc còn hiện tượng hạn chế, thu hẹp thậm chí vi phạm quyền tự do
tín ngưỡng và tự do tôn giáo; chính sách của Đảng về tự do tín ngưỡng và tự do tôn
giáo chưa được thể chế hóa kịp thời thành pháp luật; hoặc chưa rõ ràng, cụ thể dẫn

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ lâu, giới nghiên cứu nước ngoài, nhất là các học giả Liên Xô, Trung
Quốc, Pháp, Mỹ đã có nhiều công trình nghiên cứu lý luận về tôn giáo, mối quan hệ
giữa Nhà nước và giáo hội đã giới thiệu quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về tôn
giáo, thái độ của các Đảng Cộng sản cũng như kinh nghiệm giải quyết vấn đề tôn
giáo của các nước Xã hội chủ nghĩa.
Tư tưởng „„tôn giáo và xã hội xã hội chủ nghĩa cùng chung sống” của Bành
Diệu (Nghiên cứu tôn giáo, số 9/2007); Luật pháp tôn giáo ở Trung Quốc: Tiến
trình lịch sử và những phát triển gần đây (Nghiên cứu tôn giáo, số 4 và 5/2009) đã
phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo dưới nhãn quan mới,
khẳng định sự tồn tại của tôn giáo trong xã hội chủ nghĩa, đặc biệt các tác phẩm nêu
trên đã đi sâu nghiên cứu về luật pháp tôn giáo, cũng như kinh nghiệm giải quyết
vấn đề tôn giáo ở Trung quốc. Đây là kinh nghiệm quan trọng để Việt Nam tham
khảo để hoàn thiện luật pháp về tôn giáo.
Liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo và chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trong
nước, như các tác phẩm:Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam, lý luận và thực
tiễn, PGS.TS Đỗ Quang Hưng, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2008, giúp tác giả có

4
cái nhìn toàn diện, hệ thống về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta qua
các thời kỳ lịch sử, nhất là sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay.
Tôn giáo và tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo ở Việt Nam, Viện Khoa học xã
hội nhân văn quân sự thuộc Bộ quốc phòng, NXb. Quân đội nhân dân, Hà Nội,
2005. Cuốn sách đã cung cấp cho tác giả những thông tin khái quát về một số vấn
đề cơ bản về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, sự lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo
chống phá cách mạng của các thế lực thù địch và quan điểm, chính sách tôn giáo
của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
Bên cạnh đó, nhiều bài viết đã đề cập đến quan điểm, đường lối của Đảng và
Nhà nước ta, nhất là trong thời kỳ đổi mới, trong đó là các bài viết: Tôn trọng tự do

tín ngưỡng, tự do tôn giáo. Từ đó đối chiếu, so sánh pháp luật Việt Nam về bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo với các chuẩn mực quốc tế.
- Đánh giá thực trạng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo
trong pháp luật Việt Nam hiện nay; trên cơ sở đó rút ra nguyên nhân của những
bất cập trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo.
- Kiến nghị, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo ở Việt Nam.
4. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận: Chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo và tự do tín ngưỡng, tự do tôn
giáo; quan điểm của cộng đồng quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo;
quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về bảo đảm thực hiện
quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của công dân.
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phân tích, tổng hợp, xã hội
học, so sánh, đánh giá để làm sáng tỏ những vấn đề liên quan. Luận văn cũng khai
thác thông tin tư liệu của các công trình nghiên cứu đã công bố để chứng minh cho
các luận điểm.
5. Những nét mới của luận văn
- Luận văn đưa ra cái nhìn tổng thể về quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn
giáo: khái niệm, bản chất, đặc điểm của quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo; một
số nguyên tắc liên quan đến quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo.

6
- Luận văn phân tích những tiêu chuẩn quốc tế và kinh nghiệm bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo trong pháp luật một số nước có ý nghĩa
với Việt Nam;
- Góp phần làm rõ thực trạng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo
trong pháp luật Việt Nam hiện nay, tính tương thích của pháp luật Việt Nam và
pháp luật quốc tế về tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo.
- Phân tích, làm rõ nhận thức lý luận mới về tín ngưỡng, tôn giáo; chính sách

TỰ DO TÔN GIÁO
1.1.1. Khái niệm về quyền tự do tín ngƣỡng và tự do tôn giáo
1.1.1.1. Khái niệm về tín ngưỡng và tôn giáo
Hiện nay với nhiều khái niệm về tín ngưỡng và tôn giáo với nhiều hướng tiếp
cận khác nhau. Năm 1871, Taylor với câu nói “tôn giáo là lòng tin vào những vật
linh", đúng hơn là những "vật siêu nhân", hay nói rộng ra là những "lực lượng phi
nhân". Đầu thế kỷ XX, nhà nghiên cứu xã hội học tôn giáo nổi tiếng người Đức
Max Weber tuy không đưa ra một định nghĩa chính thức nào về tôn giáo nhưng ông
cho rằng tôn giáo "như một dạng đặc biệt của hoạt động trong cộng đồng" gắn với
"các thế lực siêu nhiên".
Theo cách nhìn tôn giáo từ góc độ tư tưởng, triết học của các nhà kinh điển
Mác- Lênin. Mác định nghĩa "tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là
thế giới trái tim không có trái tim. Cũng như nó là tinh thần của trạng thái xã hội mà
ở đó tinh thần bị loại bỏ Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân" "Tôn giáo là sản
phẩm của Nhà nước và xã hội mà Nhà nước và xã hội là thế giới đảo ngược" [5].
Cũng trong tác phẩm góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, C.Mác
đã khẳng định lại: "Tôn giáo là cái ý thức về bản thân và cái cảm giác về bản thân
con người chưa tìm thấy trong bản thân mình hoặc đánh mất bản thân mình một lần
nữa". Sau này một số người đã tiếp cận phân tích trích dẫn những định nghĩa của
Mác, Ăng ghen, Lênin một cách giáo điều, không đầy đủ, thậm chí còn cắt xén làm
sai lạc đi nhiều.
Gần đây một số nhà nghiên cứu tôn giáo Việt Nam cũng đưa ra những lý giải
hoặc chia sẻ quan điểm của mình về tín ngưỡng, tôn giáo. Tác giả Hoàng Phê trong

8
Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1992, đưa ra định nghĩa "Tôn giáo là hình thức xã
hội, gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu
nhiên, cho rằng có lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người
phải phục tùng, tôn thờ". Tác giả Mai Thanh Hải trong Từ điển Tôn giáo xuất bản
năm 2001, đưa ra định nghĩa "tôn giáo là một hình thái nhận thức xã hội, phản ánh

chỉ niềm tin của con người vào thế giới siêu nhiên (tín ngưỡng), khi chỉ các loại
hình tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo truyền thống hay tín ngưỡng dân gian.
1.1.1.2. Khái niệm về quyền tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo
Xét về nguồn gốc, quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo ra đời gắn liền với
quá trình phát triển của các tôn giáo. Trong xã hội nguyên thủy, do trình độ của lực
lượng sản xuất và điều kiện sinh hoạt vật chất còn thấp, con người cảm thấy yếu
đuối và bất lực trước thiên nhiên. Vì vậy, người nguyên thủy đã gắn cho thiên nhiên
những sức mạnh siêu nhiên. Giai đoạn này tôn giáo chỉ phản ánh những nhận thức
hồn nhiên, ngây thơ của con người về bản thân và thế giới quanh mình. Nhưng khi
xuất hiện giai cấp thì tôn giáo cũng phản ánh lợi ích giai cấp và đấu tranh giai cấp.
Kitô giáo ra đời ở La Mã cổ đại, Phật giáo là đời ở ấn Độ cổ đại (thế kỷ 6TCN), Hồi
giáo ra đời ở bán đảo Ả Rập (TK7 TCN) đều để đáp ứng nhu cầu của quần chúng bị
nô lệ, quần chúng lao khổ khát vọng về một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái.
Vào thế kỷ III (SCN), những người theo đạo Phật bị ngược đãi hành hạ ở Ấn
Độ bởi vì họ đã tin tưởng vào những giáo huấn của Đức Phật. Bắt đầu từ thế kỷ IX
(SCN) được gọi là “thời kỳ tăm tối” ở Châu Âu. Đạo Hồi và các đạo khác không
phải đạo Cơ Đốc, bị ngược đãi hành hình “trên danh nghĩa chúa Trời”. Kế tiếp đó,
chiến tranh mở rộng của Đế chế Ottoman và Đạo Hồi đã làm châu Âu khiếp sợ.
Những người Do Thái bị dồn vào sống trong những khu riêng biệt không chỉ bởi
người Cơ Đốc mà còn bởi người Hồi Giáo trước đấy. Những hành động chống đối
người Ấn ở Mỹ La tinh cũng xảy ra trong quá trình Cơ Đốc hóa.
Ngay sau khi các cuộc cách mạng tư sản thành công, các chế độ dân chủ (tư
sản) cộng hoà ra đời, tình trạng đó cơ bản chưa thay đổi, dù quyền lực thần quyền
đã bị hạn chế. Trong khi đó, các vấn đề khủng bố, bạo lực, kết tội tôn giáo hoặc
chiến tranh sắc tộc tôn giáo vẫn không ngừng diễn ra. Nhu cầu lớn đầu tiên trong

10
quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo với rất nhiều quốc gia là nhu cầu mỗi công
dân có thể theo một tín ngưỡng riêng hay cải đạo mà không sợ bị chính phủ phạt tội
hoặc các “tôn giáo chính thống” trả thù. Trong quá khứ và cả hiện tại, những người

Tuyên ngôn của Quốc gia.
Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 đề cập đến tự
do: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền
không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền
tự do và quyền được mưu cầu hạnh phúc" [24]. Mặc dù chưa nói cụ thể về tự do tôn
giáo nhưng văn kiện này ảnh hưởng lớn đến tuyên ngôn độc lập của nhiều quốc gia,
trong đó có Việt Nam.
Bộ Luật về Quyền của Hoa Kỳ năm 1791 ghi nhận các quyền và tự do trong
các tu chính án, trong đó tu chính án thứ 1 "Quốc hội sẽ không ban hành một đạo
luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận,
báo chí và quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị chính phủ sửa chữa
những điều gây bất bình" [24].
Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 đã nói đến tự do
cá nhân, tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, song cũng chưa nói rõ về tự do tôn giáo:
“Không ai phải lo ngại vì nêu ý kiến, kể cả tín ngưỡng của mình, miễn là không có
biểu hiện gây rối trật tự công cộng do pháp luật quy định” [28].
Tuyên bố về tự do tôn giáo của Hội đồng nhà thờ thế giới năm 1948. Mọi
người đều có quyền bày tỏ niềm tin tôn giáo của mình trong giảng dạy, thờ phượng
và thực hành, và công bố tác động của niềm tin của mình cho các mối quan hệ trong
một cộng đồng xã hội hay chính trị.
Ngày 10-12-1948, Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn toàn thế giới về
nhân quyền thì tự do tôn giáo mới thực sự trở thành một quyền mang tính quốc tế,
được tái khẳng định trong nhiều văn bản quốc tế khác.
Nếu như khái niệm về tín ngưỡng, tôn giáo có nhiều cách tiếp cận khác nhau,
thì việc đưa khái niệm phổ quát cho Quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo cũng rất
khó khăn, ngay cả khi soạn thảo Điều 18 Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới đã có
nhiều quan điểm, tranh luận về vấn đề tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo.

12
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia, tự do tín ngưỡng hay tự do tôn

- Tự do lựa chọn theo hay không theo một tôn giáo nhất định, không thể ép
buộc con người từ bỏ đức tin của mình hay buộc phải tôn thờ điều mà họ không có
đức tin. Do đó con người phải được tự do lựa chọn đức tin của mình, tự do lựa chọn
theo một tín ngưỡng, tôn giáo nhất định.
- Quyền tự do thể hiện, thực hành tín ngưỡng, tôn giáo dưới nhiều hình
thức: thờ cúng, cầu nguyện, hành lễ, giảng đạo, truyền bá đức tin; đào tạo, bổ
nhiệm những người đứng đầu phù hợp với quy định và tiêu chuẩn của tôn giáo
theo tín ngưỡng; thành lập và duy trì các cơ sở nhân đạo hoặc từ thiện thích hợp;
chế tạo, thu mua và sử dụng đồ vật cần thiết liên quan đến phong tục của một tôn
giáo hay tín ngưỡng; phát hành và phổ biến các ấn phẩm tôn giáo; được có ngày
nghỉ và kỷ niệm những ngày lễ và buổi lễ phù hợp với giáo luật tôn giáo hay tín
ngưỡng của mỗi người.
- Quyền thay đổi tín ngưỡng, tôn giáo, việc theo hay không theo một tín
ngưỡng, tôn giáo nào là biểu hiện của sự tự nguyện, tự do lựa chọn theo hay không
theo hoặc từ bỏ một tôn giáo mà cá nhân họ đang theo.
Như vậy, Quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo là một trong những quyền
cơ bản của con người, thuộc nhóm các quyền dân sự và chính trị, được ghi nhận
trong các văn bản pháp luật quốc tế về quyền con người cũng như trong pháp luật
của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Quyền tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo bao
gồm các quyền: được tự do tin theo hoặc không tin theo, được tự do thay đổi tôn
giáo; được thực hành, thờ phụng, rao giảng, hay tu tập một tôn giáo hay tín ngưỡng
(trong khuôn khổ quy định của pháp luật). Việc thực hành quyền Tự do tín
ngưỡng tôn giáo được luật pháp quy định và các giới hạn cần thiết để bảo vệ an
toàn, trật tự, sức khỏe xã hội, hay tinh thần hoặc các quyền cơ bản và quyền tự do
của những người khác.
1.1.2. Đặc điểm của quyền tự do tín ngƣỡng và tự do tôn giáo
- Quyền tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo là một quyền con người cơ bản
thuộc nhóm các quyền dân sự, chính trị, gắn liền với nhân thân của mỗi cá nhân,
không thể chuyển giao, không thể chia cắt và không thể bị tước bỏ bởi bất cứ ai, và
bất kỳ thể chế chính trị nào.

quốc gia, mỗi dân tộc. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là có thể viện dẫn những

15
truyền thống văn hóa đặc thù để biện luận cho những vi phạm hoặc để bảo vệ và duy
trì những tập tục có tính chất phân biệt, đối xử về tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo.
- Quyền và tự do cơ bản của mỗi người luôn gắn liền với nghĩa vụ và trách
nhiệm của mỗi cá nhân. Việc thừa nhận sự tôn trọng và bảo đảm quyền là tự do cơ
bản của mỗi người không thể tách rời sự tôn trọng quyền và tự do của người khác
cũng như quyền của tập thể và cộng đồng, rộng ra nữa là của dân tộc, quốc gia và
cộng đồng nhân loại. Sẽ chỉ là ảo tưởng, mơ hồ và sai lầm về nhận thức luận và chỉ
đạo hoạt động thực tiễn nếu quyền con người tách biệt khỏi nghĩa vụ và trách nhiệm
của mỗi người với tư cách là thành viên của xã hội và cộng đồng nhân loại. Quyền
tự do tín ngưỡng và tôn giáo hoàn toàn không phải là trường hợp ngoại lệ. Quyền tự
do tín ngưỡng và tôn giáo bản thân nó đã hàm chứa nghĩa vụ và trách nhiệm của
người theo cũng như không theo, có cũng như không có, tín ngưỡng, tôn giáo.
Nhưng thực tế vẫn có không ít người có đạo chưa nhận thức đầy đủ về mối quan hệ
khăng khít giữa quyền và nghĩa vụ của công dân dẫn đến hậu quả là trong khi thực
hiện Quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của mình mà đã làm ảnh hưởng đến lợi
ích chung xã hội, hay không làm tròn nghĩa vụ của một công dân.
- Xét về vai trò, trách nhiệm của Nhà nước, Nhà nước đóng vai trò quan
trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo ở 3 cấp độ: tôn
trọng quyền, bảo vệ và thực hiện quyền. Theo đó đòi hỏi Nhà nước phải kiềm chế
không can thiệp, kể cả trực tiếp và gián tiếp vào việc hưởng thụ quyền tự do tín
ngưỡng và tự do tôn giáo đã được ghi nhận trong pháp luật; ngăn chặn sự vi phạm
quyền từ bên thứ ba bằng cách đưa ra biện pháp và xây dựng những cơ chế phòng
ngừa, xử lý những hành vi vi phạm. Đồng thời, để thực hiện được quyền tự do tín
ngưỡng và tự do tôn giáo được tốt, Nhà nước phải có những kế hoạch, chương trình,
chính sách, luật cụ thể để bảo đảm cho mọi công dân, mọi người có tín ngưỡng, tôn
giáo có thể hưởng thu quyền đến mức cao nhất.
- Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng không phải là quyền tuyệt đối,

Tất cả các quốc gia có chủ quyền cần phải thực thi và bảo vệ quyền tự do
tín ngưỡng, tự do tôn giáo thông qua các biện pháp lập pháp và các biện pháp

17
khác. Việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo không được vi phạm
pháp luật và làm tổn hại tới lợi ích công cộng, các quyền và tự do cơ bản của
những người khác.
Chính phủ của các quốc gia cần phải ban hành hay hủy bỏ các luật và áp
dụng những biện pháp nhằm bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo và
ngăn cấm bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo.
Trong khi thể hiện quyền tự do tín ngưỡng của mình, mọi cá nhân phải tuân thủ
những quy định của pháp luật, nhằm mục đích giữ gìn an ninh, trật tự công cộng,
đạo đức xã hội hoặc tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của những người khác.
Trên phương diện quốc gia, tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo từ lâu đã là
một quyền hiến định trong Hiến pháp nhiều nước trên thế giới. Theo nghiên cứu
của Dự án Hiến pháp so sánh (Comparative Constitution Project - CCP), cho
thấy sự hiện diện của tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo trong Hiến pháp các nước
trên thế giới luôn đạt ở tỉ lệ cao. Quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo luôn
được coi là quyền cơ bản và được các quốc gia trên thế giới quan tâm rất sớm.
Trước bản Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948, đã có trên
nửa số quốc gia trên thế giới ghi nhận, con số này tăng mạnh đến những năm
2000. Theo nghiên cứu của tổ chức CCP, ở thời điểm năm 2000 đã có khoảng
80% Hiến pháp thành văn đã được thông qua trên thế giới.
1.1.3.4. Tôn trọng chủ quyền của các quốc gia khác
Không được sử dụng tôn giáo như một công cụ để can thiệp vào công việc
nội bộ của các quốc gia khác là một nguyên tắc tối quan trọng trong quan hệ
quốc tế. Nguyên tắc này phản đối việc xúi giục sự thù địch giữa các dân tộc, giữa
các quốc gia hay can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác với lý do có
sự kỳ thị về tín ngưỡng, tôn giáo. Cộng đồng quốc tế cần phải tôn trọng và xem
xét toàn bộ việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo ở mỗi quốc gia

xuất thân hoặc địa vị khác.
Trong thời gian có tình trạng khẩn cấp xảy ra đe dọa sự sống còn của quốc

19
gia và đã được chính thức công bố, các quốc gia thành viên có thể áp dụng những
biện pháp hạn chế các quyền nêu ra trong Công ước ICCPR, với điều kiện các biện
pháp này không trái với những nghĩa vụ khác của quốc gia đó xuất phát từ pháp luật
quốc tế và không chứa đựng bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da,
giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo hoặc nguồn gốc xã hội.
Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ
một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu
da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị, …
Điều 2 khoản 2 công ước ICESCR cũng ghi nhận rằng: Các quốc gia thành
viên cam kết bảo đảm các quyền được nêu trong công ước ICESCR sẽ được thực
hiện không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn
ngữ, tôn giáo
Để giải thích cho nội dung này, Bình luận chung số 22 được thông qua lần
thứ 48 năm 1993 của cơ quan nhân quyền, giải thích rằng: việc một tôn giáo
được xác định là quốc giáo, là tôn giáo chính thức hay truyền thống, hoặc có số
lượng tín đồ chiếm đa số trong xã hội không được sử dụng để làm ảnh hưởng đến
việc thực hiện các quyền tự do quy định ở các Điều 18 và 27 ICCPR, cũng như
không được tạo ra sự phân biệt đối xử với tín đồ của các tôn giáo khác, hoặc với
những người không theo tôn giáo nào. Những hình thức phân biệt đối xử với tín
đồ của các tôn giáo khác, hay với những người không theo tôn giáo trong bối
cảnh này, ví dụ, việc quy định chỉ những tín đồ thuộc tôn giáo chiếm ưu thế mới
được tham gia chính quyền hay dành những ưu đãi về kinh tế cho họ, đều trái với
các quy định về quyền bình đẳng nêu ở Điều 26 ICCPR [33, 297].
Điều 5 trong Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc
năm 1965 đã bao gồm một danh sách các quyền các nước thành viên cam kết bảo
đảm mà không phân biệt, trong đó có quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo.

chọn một tôn giáo hay tín ngưỡng để tin hoặc theo, kể cả việc thay đổi niềm tin
từ tôn giáo, tín ngưỡng này sang tôn giáo, tín ngưỡng khác, hay thay đổi niềm tin
từ vô thần sang hữu thần và từ hữu thần sang vô thần. Khoản 2 Điều 18 cấm
cưỡng ép tin, theo, bỏ hay thay đổi tôn giáo, tín ngưỡng, kể cả bằng những chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status