ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN BĂNG THANH
Bảo đảm quyền khiếu nại của công dân trong pháp luật
Việt Nam hiện nay
luËn v¨n th¹c sÜ LUẬT
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Hồng Thái Hµ néi - 2007 MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ BẢO ĐẢM
QUYỀN KHIẾU NẠI CỦA CÔNG DÂN
5
trong pháp luật Việt Nam).
39
2.1.1.
Tính hệ thống, đồng bộ, thống nhất
39
2.1.2
Tính đầy đủ, cụ thể, hoàn thiện, phù hợp với thực tiễn
43
2.2.
Tổ chức thực hiện pháp luật về khiếu nại.
58 2.3.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp
luật về khiếu nại.
65
2.4
Hoạt động xử lý các vi phạm pháp luật về khiếu nại
73
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG BẢO ĐẢM QUYỀN KHIẾU NẠI CỦA CÔNG
DÂN.
75
3.1.
Nâng cao hiệu quả hoạt động bảo đảm quyền khiếu nại của
công dân là yêu cầu tất yếu khách quan.
75
3.2.
công chức và công dân.
98
KẾT LUẬN
101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
103
1
MỞ ĐẦU
1- Lý do chọn đề tài
Quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân. Thực
hiện quyền khiếu nại là hình thức dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia quản
lý nhà nƣớc, quản lý xã hội, giám sát hoạt động của cơ quan, công chức nhà
nƣớc; đồng thời là một biện pháp để công dân, tổ chức bảo vệ mình trƣớc sự
vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, ngƣời có thẩm quyền.
Với bản chất là một nhà nƣớc dân chủ, nhà nƣớc Việt Nam ngày càng
quan tâm đến việc bảo đảm quyền khiếu nại của công dân, đặc biệt là trong
lĩnh vực pháp lý. Nhiều văn bản có giá trị pháp lý cao đã đƣợc ban hành điều
chỉnh toàn diện các quan hệ về khiếu nại, trình độ lập pháp, kỹ thuật pháp lý,
kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn đã đƣợc nghiên cứu kỹ để sửa đổi, bổ sung các
văn bản pháp luật cho hoàn thiện thể hiện một ý thức trách nhiệm cao của nhà
nƣớc trong việc bảo đảm quyền khiếu nại của công dân
Tuy vậy, những cố gắng trên của nhà nƣớc vẫn chƣa đáp ứng đƣợc yêu
cầu thực tiễn đặt ra. Tình hình khiếu nại vẫn ngày một gia tăng, mức độ ngày
càng gay gắt và phức tạp, xuất hiện nhiều điểm nóng và tình huống khó giải
quyết. Những vi phạm quyền khiếu nại của công dân vẫn còn tồn tại ở nhiều
khiếu nại của công dân", (Đỗ Văn Hữu, Tạp chí Hiến kế lập pháp số 8/2006);
"Khiếu nại, tố cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003",
(PGS.TS. Phạm Hồng Hải, Tạp chí luật học số 6/2004); "Cần sớm khắc phục
những hạn chế về giải quyết khiếu nại, tố cáo", (Mai Trần Dũng , Tạp chí
Hiến kế lập pháp số 13/2006); "Bảo đảm sự công bằng trong giải quyết khiếu
nại hành chính ở Cộng hòa Pháp" (Lê Thị Thúy, Tạp chí Luật học số
1/2006);
3
Nhƣng chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về bảo đảm
quyền khiếu nại của công dân trong pháp luật Việt Nam hiện nay. Vì thế vấn
đề này cần đƣợc tiếp tục, nghiên cứu làm rõ trong giai đoạn hiện nay, nhất là
khi hƣớng tới việc xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân.
3- Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
*Mục tiêu:
Luận văn hƣớng tới việc làm rõ một số vấn đề lý luận căn bản về khiếu
nại, cơ sở pháp lý bảo đảm quyền khiếu nại của công dân, thực trạng trong
những năm vừa qua, từ đó đƣa ra những giải pháp nhằm tăng cƣờng hoạt
động bảo đảm quyền khiếu nại của công dân theo hƣớng xây dựng nhà nƣớc
pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
* Nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở lý luận về khiếu nại, quyền khiếu nại, nội dung bảo đảm
quyền khiếu nại của công dân, chú trọng vào bảo đảm về pháp lý.
- Nêu và đánh giá thực trạng bảo đảm quyền khiếu nại của công dân ở
Việt Nam trong thời gian vừa qua.
- Đƣa ra một số giải pháp nhằm bảo đảm hơn nữa quyền khiếu nại của
công dân.
công dân.
Chƣơng 2: Thực trạng bảo đảm quyền khiếu nại của công dân ở Việt
Nam hiện nay.
Chƣơng 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bảo đảm quyền
khiếu nại của công dân.
5
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ BẢO ĐẢM
QUYỀN KHIẾU NẠI CỦA CÔNG DÂN
1.1 Khiếu nại và quyền khiếu nại.
1.1.1- Khiếu nại, khiếu nại hành chính, khiếu nại tƣ pháp:
Khiếu nại là một khái niệm có ý nghĩa rộng, ở từng góc độ cụ thể nó
đƣợc hiểu ở những mức độ khác nhau.
Hiểu một cách chung nhất, theo Từ điển Tiếng Việt thì khiếu nại là "đề
nghị cơ quan có thẩm quyền xét một việc làm mà mình không đồng ý, cho là
trái phép hay không hợp lý" [58,tr 501].
Tuy nhiên, khái niệm khiếu nại đƣợc xem xét nhiều dƣới góc độ luật
học, bởi ở góc độ luật học thì nội hàm khái niệm khiếu nại thể hiện rõ nét hơn
với nội dung, nội hàm, vai trò, ý nghĩa tính chất của nó. Các quan niệm chung
nhất cho rằng: Khiếu nại là hình thức công dân hƣớng đến các cơ quan nhà
nƣớc hay tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang khi thấy quyết định
hay hành vi xâm phạm tới quyền và lợi ích của mình.
Ở góc độ quyền chủ thể, Giáo trình Luật Hành chính Việt nam, Đại học
Quốc gia Hà Nội cho rằng: "Khiếu nại được sử dụng khi quyền chủ thể của
bản thân công dân khiếu nại hoặc người do mình bảo hộ bị vi phạm do quyết
định hoặc hành vi trái pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của các cơ
quan nhà nước hoặc nhân viên nhà nước"[42,tr 393].
đặc điểm là đƣợc pháp luật quy định và điều chỉnh: quyền và nghĩa vụ của các
bên, trình tự, thủ tục giải quyết
Khiếu nại không có tính chất pháp lý là khiếu nại mà khi thực hiện
chúng không làm phát sinh quan hệ pháp luật về khiếu nại. Loại khiếu nại này
có đặc điểm: không đƣợc pháp luật quy định, việc giải quyết khiếu nại này
thƣờng căn cứ vào các quy định của tổ chức chính trị, tổ chức xã hội để giải
7
quyết theo điều lệ tổ chức nhƣ: khiếu nại kỷ luật Đảng, khiếu nại của các đoàn
thể
Căn cứ vào thủ tục giải quyết khiếu nại: chia thành khiếu nại hành chính
và khiếu nại tƣ pháp.
Tuy đƣợc xem xét ở góc độ khác nhau, có phạm vi rộng hẹp khác nhau
nhƣng có thể thấy khái niệm khiếu nại đều có chung ba điểm thống nhất:
Khiếu nại là việc chủ thể yêu cầu xem xét lại những hành vi, quyết định
của chính quyền. Vì thế, khiếu nại luôn thể hiện dƣới hình thức chủ động, thể
hiện tính tích cực của công dân, cơ quan, tổ chức trong quá trình tham gia các
quan hệ xã hội.
Khiếu nại là hình thức phản ứng tự vệ của công dân, cơ quan, tổ chức
trƣớc các quyết định, hành vi của cơ quan nhà nƣớc.
Khiếu nại chứa đựng biểu hiện của sự vi phạm hoặc cho là vi phạm
quyền và lợi ích của chủ thể đƣợc pháp luật bảo vệ.
Tuy nhiên, đứng ở góc độ luật học và cách triển khai đề tài này chúng tôi
sẽ tìm hiểu sâu hơn cách phân chia theo thủ tục giải quyết khiếu nại, bởi tính
chất và đối tƣợng của nó có ý nghĩa trong việc xác định cơ chế, thẩm quyền,
trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc - một nội dung trọng tâm trong việc bảo
đảm quyền khiếu nại của công dân.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì: "Khiếu nại hành chính là việc cá
gồm khiếu nại hành chính và việc giải quyết các vụ việc hành chính bằng con
đƣờng Tòa án. Đây là thuật ngữ mới đƣợc sử dụng chính thức trong các văn
bản luật thời gian gần đây. Thuật ngữ này thực ra có nguồn gốc từ thuật ngữ
khiếu nại, sau khi giải quyết khiếu nại lần đầu, nếu ngƣời khiếu nại không
đồng ý thì có thể tiếp tục khiếu nại bằng con đƣờng hành chính hoặc khởi
kiện ra tòa án, đấy chính là từ giai đoạn "khiếu" chuyển sang giai đoạn "kiện".
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính ngày 21/5/1996 (đƣợc sửa
9
đổi, bổ sung ngày 25/12/1998) tại Điều 11 thuật ngữ khiếu kiện đã đƣợc sử
dụng.
Thuật ngữ khiếu tố: Theo từ điển tiếng Việt thì: khiếu tố là "tố cáo và
khiếu nại việc làm trái mình cho là trái phép của một cá nhân, cơ quan, tập
thể"[58,tr 501]. Trên thực tế, sự phân biệt giữa khiếu nại và tố cáo không phải
bao giờ cũng rõ ràng. Nếu nhƣ trƣớc đây chúng ta thƣờng coi khiếu nại và tố
cáo nhƣ một quyền cơ bản của công dân và thƣờng không đặt vấn đề phân
định thì ngày nay vấn đề quyền khiếu nại, quyền tố cáo đƣợc phân định khá rõ
ràng từ Hiến pháp đến các văn bản hƣớng dẫn thi hành. Với việc phân định đó
khiếu nại, tố cáo đã đƣợc quy định cụ thể vá sát với bản chất của từng quyền
về cả khái niệm, thẩm quyền, trình tự giải quyết,
Thuật ngữ kiến nghị: Kiến nghị theo nghĩa chung nhất là "nêu ý kiến đề
nghị về một việc chung với cơ quan có thẩm quyền"[58,tr 524]. Trên bình diện
pháp luật thì kiến nghị là quyền cơ bản của công dân đƣợc quy định trong
Hiến pháp (Điều 53, Hiến pháp 1992). Kiến nghị đƣợc hiểu là khả năng của
công dân đƣa ra các sáng kiến với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
nhằm góp phần hoàn thiện mọi mặt hoạt động của nhà nƣớc về một vấn đề
nào đó trong đời sống nhà nƣớc, xã hội.
Thuật ngữ yêu cầu: Yêu cầu theo nghĩa chung nhất là "nêu ra điều kiện
đảm bảo các quyền khác,vì thế quyền khiếu nại không bao giờ tách rời riêng
biệt mà luôn đi cùng với một quyền năng khác của con ngƣời.
Với bản chất là quyền bảo vệ quyền, quyền khiếu nại có ý nghĩa nhƣ
một công cụ để công dân đấu tranh bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình;
với tính chất là một hình thức để nhân dân giám sát hoạt động bộ máy nhà
nƣớc, có thể đánh giá mức độ dân chủ của một xã hội thông qua quyền khiếu
nại của công dân.
Trên thế giới, quyền khiếu nại của công dân đã có lịch sử phát triển lâu
đời; ngày nay quyền con ngƣời trong đó có quyền khiếu nại ngày càng đƣợc
11
quan tâm và đƣợc công nhận, ghi nhận trong nhiều văn bản cam kết giữa các
quốc gia. Tuy nhiên, việc thể chế hóa các quy định về quyền khiếu nại vào
pháp luật mỗi quốc gia còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: chế độ chính trị, tình
hình kinh tế, xã hội, truyền thống pháp lý
Trong lịch sử dân tộc ta, các triều đại phong kiến đã có sự quan tâm đến
việc bảo đảm quyền khiếu nại thể hiện ở việc xem xét, giải quyết các nỗi oan
ức của nhân dân. Giai đoạn mà quyền khiếu nại của công dân đƣợc chú ý và
phát triển mạnh mẽ nhất là từ khi thành lập nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa
1945 đến nay. Trƣớc khi đƣợc ghi nhận vào hiến pháp nhƣ một quyền cơ bản
của công dân, đã có nhiều sắc lệnh, thông tƣ, chỉ thị về công tác giải quyết
khiếu nại ban hành. Kể từ Hiến pháp 1959 quyền khiếu nại đã đƣợc ghi nhận
(Điều 29) và tiếp tục ghi nhận và phát triển lên một bƣớc trong các bản hiến
pháp 1980 (Điều 73) và Hiến pháp 1992 (Điều 74). Cùng với các quy định đó
là các văn bản luật, dƣới luật cụ thể hóa nội dung quyền, việc tổ chức thực
hiện để đảm bảo quyền đó trong thực tế.
Khi xem xét về quyền khiếu nại, có thể xem xét trên 3 nội dung sau:
Thứ nhất, về chủ thể của quyền khiếu nại:
xã, phƣờng, thị trấn nơi ngƣời khiếu nại cƣ trú cử ngƣời đại diện để thực hiện
việc khiếu nại.
Đối với các trƣờng hợp ngƣời khiếu nại ốm đau, già yếu, có nhƣợc điểm
về thể chất hoặc vì lý do khách quan khác mà không thể tự mình khiếu nại thì
pháp luật ghi nhận sự ủy quyền cho cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên,
anh, chị, em ruột hoặc ngƣời khác có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thực
hiện việc khiếu nại.
Nhƣ vậy cơ chế ủy quyền thực hiện quyền khiếu nại đã đƣợc ghi nhận
trong một số trƣờng hợp đặc biệt.
* Cơ quan, tổ chức gồm: cơ quan, tổ chức của Việt Nam, cơ quan, tổ
chức nƣớc ngoài.
13
Cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại bao gồm: cơ quan nhà nƣớc, tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp, tổ chức
kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân (Khoản 4, điều 2, Luật khiếu nại, tố cáo).
Theo nhƣ sự liệt kê trên thì các cơ quan, tổ chức trên đều là pháp nhân (theo
điều 100, Bộ luật dân sự) và nhƣ thế phải thỏa mãn các điều kiện: đƣợc thành
lập hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập với cá nhân tổ
chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản, nhân danh mình tham gia các
quan hệ pháp luật một cách độc lập (Điều 88 Bộ luật dân sự).
Cơ quan thực hiện quyền khiếu nại thông qua Thủ trƣởng cơ quan, Thủ
trƣởng cơ quan có thể ủy quyền cho ngƣời đại diện theo quy định của pháp
luật để thực hiện quyền khiếu nại. Ngƣời đại diện là ngƣời nhƣ thế nào.
Tổ chức thực hiện quyền khiếu nại thông qua ngƣời đại diện là ngƣời
đứng đầu tổ chức đƣợc quy định trong quyết định thành lập tổ chức hoặc theo
điều lệ của tổ chức. Ngƣời đứng đầu tổ chức có thể ủy quyền cho ngƣời đại
diện theo quy định của pháp luật để thực hiện quyền khiếu nại.
Luật khiếu nại tố cáo 1998 cũng giải thích rõ về khái niệm này:
Quyết định hành chính là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành
chính nhà nƣớc hoặc ngƣời có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà
nƣớc đƣợc áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tƣợng cụ thể về một
vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính (Khoản 10, Điều 2). Nhƣ
vậy, quyết định hành chính phải bao gồm 3 yếu tố: đƣợc thể hiện bằng văn
bản, đƣợc áp dụng một lần với một hoặc một số đối tƣợng cụ thể về một vấn
đề cụ thể, do cơ quan hành chính nhà nƣớc ban hành hoặc ngƣời có thẩm
quyền trong cơ quan hành chính nhà nƣớc ban hành. Sự giải thích trên đã loại
trừ các quyết định mang tính chất quản lý điều hành trong các cơ quan không
phải là cơ quan hành chính nhà nƣớc nhƣ Tòa án, Viện kiểm sát, Văn phòng
Quốc hội là đối tƣợng bị khiếu nại theo điều chỉnh của Luật khiếu nại, tố
cáo.
15
Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nƣớc, của
ngƣời có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nƣớc khi thực hiện nhiệm
vụ, công vụ theo quy định của pháp luật (Khoản 1, điều 2 Luật khiếu nại, tố
cáo). Một hành vi hành chính thƣờng đƣợc thể hiện ở 2 dạng:
Hành vi hành động: Là việc cơ quan hành chính nhà nƣớc, ngƣời có
thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nƣớc đã làm những việc trái pháp
luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Hành vi không hành động: Là việc cơ quan hành chính nhà nƣớc, ngƣời
có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nƣớc đã không thực hiện nhiệm
vụ công vụ đƣợc giao và với việc không thực hiện đó đã xâm phạm đến
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Nhƣ vậy, đối tƣợng của quyền khiếu nại (trong phạm vi Luật khiếu nại,
tố cáo) chỉ là các quyết định hành chính, hành vi hành chính do các chủ thể có
tổng hợp các yếu tố, ở nhiều bộ phận, từ chính các yếu tố đã tạo ra nó, bảo
đảm cho nó tồn tại và phát triển.
Dƣới góc độ khoa học luật học có thể khái quát nhƣ sau:
Bảo đảm quyền khiếu nại của công dân là trách nhiệm của nhà nƣớc, tổ
chức và cá nhân trong quá trình xây dựng, thực hiện quyền khiếu nại, là kết
quả tổng hợp các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, pháp lý
Những yếu tố này đƣợc xem xét với tính chất là tiền đề, điều kiện cần thiết
bảo đảm quyền khiếu nại của công dân.
Trong số tất cả các bảo đảm đó thì bảo đảm pháp lý đóng một vai trò rất
quan trọng. Tuy bảo đảm pháp lý chính là sự ghi nhận trên cơ sở những bảo
đảm kinh tế, chính trị, văn hoá…nhƣng nó có ý nghĩa ở sự thừa nhận, công
nhận những điều kiện, tình huống, trƣờng hợp để nhà nƣớc, tổ chức và đặc
biệt là công dân trên cơ sở đó bảo đảm quyền khiếu nại, là cơ sở để đấu tranh
khi có vi phạm quyền khiếu nại của mình. Pháp luật tuy do nhà nƣớc ban
17
hành thể hiện ý chí nhà nƣớc nhƣng ở một mức độ nhất định lại là công cụ để
bảo vệ quyền, tự do của công dân.
Bảo đảm quyền khiếu nại cần đƣợc hiểu trên cả hai phƣơng diện: trƣớc
hết nó là quyền năng của con ngƣời, phải đƣợc nhà nƣớc thừa nhận và bảo vệ
bằng hệ thống pháp luật của nhà nƣớc đó; thứ hai, nó đòi hỏi nhà nƣớc, các
thiết chế trong xã hội tôn trọng và bảm đảm cho pháp luật đó đƣợc thực hiện
nghiêm minh trong thực tế.
Quyền khiếu nại là một quyền bảo vệ quyền nên khi xem xét nó cần phải
xem xét trong mối quan hệ với các quyền, lợi ích khác, không chỉ trong phạm
vi pháp luật về khiếu nại mà trong toàn bộ hệ thống pháp luật của nhà nƣớc.
Quyền khiếu nại phải đƣợc xem xét trong mối quan hệ với pháp luật vì
tính chất của quyền khiếu nại phải đƣợc thể hiện trong môi trƣờng pháp luật.
Bảo đảm về chính trị cho quyền khiếu nại của công dân bao gồm toàn bộ các
yếu tố tổ chức chính trị - xã hội tạo nên hệ thống chính trị của một đất nƣớc
nhằm tạo điều kiện cho con ngƣời khả năng thực hiện mối quan hệ pháp lý
đối với nhà nƣớc. Bảo đảm quyền khiếu nại cho công dân ở góc độ bảo đảm
về mặt chính trị đòi hỏi sự quan tâm của cả hệ thống chính trị bao gồm: Đảng
cầm quyền, Nhà nƣớc, các tổ chức đoàn thể. Thể chế chính trị nào đề cao giá
trị con ngƣời nhất, coi con ngƣời là mục tiêu và động lực để phát triển kinh tế,
xã hội thì trong thể chế đó con ngƣời đƣợc bảo đảm quyền khiếu nại.
Trong các yếu tố thuộc hệ thống chính trị thì cần coi trọng yếu tố Đảng
cầm quyền vì Đảng cầm quyền là lực lƣợng lãnh đạo hệ thống chính trị và
lãnh đạo toàn xã hội. Chủ chƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng là tƣ tƣởng
chỉ đạo việc xây dựng chính sách, hệ thống pháp luật của Nhà nƣớc; chính
sách, pháp luật của Nhà nƣớc là nền tảng cơ sở, là khung pháp lý để toàn xã
hội hoạt động có định hƣớng, có chủ đích. Ở góc độ bảo đảm chính trị có thể
xem xét một số nội dung nhƣ sau:
19
Thứ nhất, về Đảng cầm quyền: Đảng cầm quyền là lực lƣợng lãnh đạo
nhà nƣớc và xã hội. Quyền khiếu nại của công dân là quyền năng để bảo vệ
các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân trƣớc chủ thể có sức mạnh
to lớn là nhà nƣớc - công cụ của lực lƣợng lãnh đạo xã hội. Trong xã hội
chuyên chế, quyền khiếu nại của công dân tuy cũng đã đƣợc bảo đảm phần
nào nhƣng luôn ở một mức độ hạn chế và đặt dƣới lợi ích của lực lƣợng cầm
quyền. Một xã hội càng dân chủ thì quyền khiếu nại của công dân càng đƣợc
bảo đảm, bởi đó là môi trƣờng để nhân dân nói lên tiếng nói của mình. Vì thế
bảo đảm chính trị đòi hỏi yêu cầu đầu tiên đó là phải có một xã hội dân chủ,
muốn bảo đảm đƣợc quyền khiếu nại của công dân cần xây dựng xã hội dân
chủ, dân chủ hóa đời sống xã hội.
Hiện nay, Nhà nƣớc ta xác định xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền Xã hội
chủ nghĩa cũng là hƣớng tới việc bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân.
Nhà nƣớc pháp quyền là nhân tố bảo đảm cho việc thực hiện quyền khiếu nại,
loại trừ các hành vi xâm phạm, hạn chế, lợi dụng quyền khiếu nại của công
dân.
Thứ ba, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội: các tổ chức chính trị - xã
hội là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Thông qua các tổ chức này
nhân dân tham gia xây dựng nhà nƣớc, quản lý nhà nƣớc, thực hiện các
quyền, lợi ích của mình. Các tổ chức này có trách nhiệm đấu tranh bảo vệ và
giúp đỡ các thành viên của mình thực hiện quyền khiếu nại theo quy định của
pháp luật
Quyền khiếu nại là một quyền thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị do
đó nó có mối quan hệ mật thiết đối với chính trị. Bảo đảm về chính trị góp
phần rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả của việc bảo đảm quyền khiếu nại.
1.2.2.2. Bảo đảm về kinh tế.
Theo quy luật của triết học Mác - Lê nin thì cơ sở hạ tầng quyết định
kiến trúc thƣợng tầng, kinh tế quyết định chính trị, tƣ tƣởng, pháp luật Vì
21
thế, để xây dựng một xã hội dân chủ, phát triển, coi trọng quyền con ngƣời…
thì yếu tố kinh tế là yếu tố có tính chất cơ sở, nền tảng, có ý nghĩa quyết định
để phát triển mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có dân chủ hoá đời sống,
xây dựng xã hội tiên tiến Tuy nhiên, điều đó không có ý nghĩa tuyệt đối, có
những trƣờng hợp chính trị, tƣ tƣởng, pháp luật phát triển vƣợt trƣớc sự
phát triển của kinh tế, nhất là trong giai đoạn toàn cầu hóa, hội nhập hóa, tạo
điều kiện cho sự giao thoa giữa các nền văn hoá, đƣa những tiến bộ của nƣớc
này vào nƣớc khác. Nhƣng với tầm quan trọng của nó phát triển kinh tế là
điều kiện trọng yếu cho việc bảo đảm quyền con ngƣời trong đó có quyền