Tiểu luận
Tỷ giá hối đoái và vấn đề tỷ giá
hối đoái ở Việt Nam hiện nay
1
Mụclục 1
Mở đầu 2
Nội dung 3
Chương I: Tổng quan chung về hệ thống tỷ giá hối đoái 3
I. Một số vấn đề về tỷ giá hối đoái và các khái niệm liên quan 3
1. Thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái 3
2. Tỷ giá hối đoái thực tế 4
3. Các nhân tố tác động lên quá trình hình thành tỷ giá hối
đoái
4
II. Các hệ thống tỷ giá 5
1. Chế độ tỷ giá cố định 5
2. Chế độ tỷ giá cố định Bretton Woods 6
3. Sự can thiệp của nhà nước vào hệ thống tỷ giá hối đoái 10
Chương II: Hệ thống tỷ giá hối đoái ở Việt Nam 14
I. Sơ lược về hệ thống tỷ giá hối đoái ở Việt Nam Từ năm
1955 đến nay
14
II. Vấn đề tỷ giá hiện nay 20
Chương
III:
Những giả pháp hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái
I. Những vấn đề tồn tại trong việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái
trong thời gian qua
22
II. Các giải pháp để hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái 23
hoàn thành đề án này !
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN CHUNG VỀ HỆ THỐNG
3
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
I. MỘT
SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁC KHÁI NIỆM CÓ LIÊN
QUAN.
Để có thể đi sâu nghiên cứu tỷ giá hối đoái, trước hết chúng ta cần phải
xem xét một số khái niệm có liên quan đến vấn đề này.
1. Thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái.
Vì các nước khác nhau thì sử dụng những đồng tiền khác nhau hay
những phương thức thanh toán khác nhau nên khi muốn mở rộng quan hệ
thương mại quốc tế thì cần phải có một nơi để có thể trao đổi tiền giữa các
nước với nhau, đó chính là thị trường ngoại hối. Như vậy thị trường ngoại
hối là thị trường quốc tế trong đó đồng tiền quốc gia này có thể đổi lấy tiền
của quốc gia khác.
Thông thường tỷ giá hối đoái được hiểu là số lượng đơn vị nội tệ cần
thiết để mua một đơn vị ngoại tệ trên thị trường ngoại hối; là hệ số quy đổi
của một đồng tiền này sang một đồng tiền khác được xác định bởi mối quan
hệ cung cầu trên thị trường tiền tệ. Trong kinh tế học khi phân tích về tỷ giá
hối đoái, người ta thường sử dụng các kí hiệu sau :
* e-Tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ tính theo đồng tiền nước ngoài
* E-Tỷ giá hối đoái của đồng ngoại tệ tính theo đồng nội tệ
Chính sách tỷ gá hối đoái của mỗi quốc gia thường liên quan đến sức
cạnh tranh quốc tế của quốc gia đó. Nếu e giảm tỷc là giá trị của đồng nội tệ
giảm thì giá cả của hàng hoá trong nước sẽ rẻ tương đối so với giá cả của
hàng hoá ở nước ngoài, vì thế xuất khẩu sẽ có xu hướng tăng, nhập khẩu có
-Trạng thái cán cân thanh toán ảnh hưởng đến cung cầu ngoại tệ, thông
qua đó tác động lên mức tỷ giá và kéo theo sự dao động của tỷ giá lệch khỏi
sức mua của đồng tiền.
5
-Chênh lệch mức giá giữa các nước, giữa thị trường tín dụng nội địa và
quốc tế.
-Thực trạng hoạt động của các thị trường tài chính, ngoại hối và các xu
hướng nghiệp vụ đầu cơ ảnh hưởng đến tỷ giá.
-Hệ số tín nhiệm đối với các đồng tiền trên thị trường Tài chính trong
nước và quốc tế.
- Các phương thức, công cụ điều chỉnh, các chính sách can thiệp của Nhà
nước.
- Các cú sốc kinh tế, chính trị xã hội và các chính sách lớn của Nhà
nước trong lĩnh vực kinh tế, tài chính tiền tệ.
II. CÁC HỆ THỐNG TỶ GIÁ.
Tỷ hối đoái có ý nghĩa rất quan trọng đối với tất cả các đối tượng tham
gia vào các giao dịch đối ngoại cho dù đó là nhà thương mại hay nhà đầu tư.
Tỷ giá hối đoái cũng có vai trò trung tâm trong chính sách tiền tệ trong đó tỷ
giá có thể là mục tiêu hay công cụ hay chỉ đơn thuần là một chỉ số phụ
thuộc vào cơ chế chính sách của mỗi quốc gia. Mức độ can thiệp khác nhau
của nhà nước khác nhau đến tỷ giá hối đoái đã tạo nên những cơ chế tỷ giá
hối đoái khác nhau giữa các quốc gia. Có hai cơ chế tỷ giá cơ bản là: cơ chế
tỷ giá hối đoái cố định (vào vàng, vào một đồng tiền hay một nhóm đồng
tiền) và cơ chế tỷ giá thả nổi (tỷ giá được xác định dựa vào cung cầu trên thị
trường). Mỗi quốc gia trong một thời kì khác nhau có sự lựa chọn khác nhau
về mức độ cố định thả nổi tỷ giá hối đoái hay có sự dung hoà nào đó về sự
cố định hay thả nổi tỷ giá hối đoái. Điều này đã đưa đến các nguyên tắc khác
nhau về điều hành tỷ giá hối đoái hay các chính sách có liên quan khác của
mỗi quốc gia. Sự khác nhau đó đã tạo nên sự đa dạng về cơ chế tỷ giá hối
cho nên thời kì của bản vị vàng là thời kì trong đó các nền kinh tế riêng lẻ dễ
bị tổn thương dẫn tới những giai đoạn suy thoái lâu dài và sâu sắc.
2. Chế độ tỷ giá cố định Bretton Woods :
7
Dưới chế độ bản vị vàng, tỷ giá hối đoái danh nghĩa được cố định một
cách vô thời hạn. Bây giờ chúng ta sẽ bàn về hệ thống điều chỉnh hạn chế,
trong đó các tỷ giá hối đoái thông thường được cố định nhưng một đôi lúc
các nước được phép thay đổi tỷ giá hối đoái của mình. Hệ thống này được ra
đời gần cuối thế chiến thứ hai trong một hội nghị đa quốc gia được tổ chức ở
Brentton Woods New Hampshire để hoạch định" một hệ thống tỷ giá hối
đoái có trật tự thuận lợi cho luồng thương mại tự do". Theo hệ thống này tỷ
giá chính thức giữa đồng tiền của các nước thành viên được hình thành trên
cơ sở so sánh hàm lượng vàng của đô la Mĩ (1 USD= 0,888671 gram vàng)
và chỉ được phép dao động trong biên độ 1% của tỷ giá chính thức đã được
đăng kí tại quỹ tiền tệ quốc tế IMF vì thế hệ thống tỷ giá này còn được biết
với đến với tên gọi bản vị đôla. Theo chế độ bản vị đô la, các đồng tiền được
chuyển đổi theo đôla chứ không phải theo vàng. Tại mức tỷ giá hối đoái cố
định, các ngân hàng trung ương cam kết mua hoặc bán đôla từ nguồn dự trữ
ngoại hối hoặc lượng đôla hiện có của họ. Họ cam kết can thiệp vào thị
trường ngoại hối để bảo vệ tỷ giá hối đoái cố định theo đồng đôla.
Sự khác nhau căn bản giữa bản vị vàng và bản vị đôla là ở chỗ không
còn sự đảm bảo đổi lại 100% đối với đồng tiền nội địa, các chính phủ có thể
in thêm tiền để làm tăng sức cạnh tranh trong nước. Nếu tình trạng thâm hụt
ngân sách kéo dài chính phủ phải dùng ngày càng nhiều dự trữ ngoại hối của
mình để trang trải cho thâm hụt, thì cuối cùng đất nước sẽ cạn kiệt dự trữ
ngoại hối, lúc đó nhà nước sẽ phải phá giá tỷ giá hối đoái của mình chuyển
sang một nước giá trị ngang giá thấp hơn theo đôla để cố gắng tăng thường
xuyên sức cạnh tranh và loại trừ sự mất cân đối cơ bản trong thanh toán quốc
tế.
vào một đồng ngoại tệ nào đó.
* Tỷ giá hối đoái thả nổi:
Là tỷ giá hối đoái được hình thành trên cơ sở diễn biến cung cầu. Có
hai loại tỷ giá thả nổi là thả nổi tự do và thả nổi có quản lý. Chúng ta biết
rằng nền kinh tế cân bằng dài hạn là phải cân đối cả bên trong lẫn bên ngoài
9
(tức là đầy đủ việc làm, xuất khẩu ròng bằng không và tài khoản vãng lai cân
bằng) Nhu cầu nhập khẩu phụ thuộc vào mức sản lượng trong nước và tỷ giá
hối đoái thực tế. Nhu cầu xuất khẩu phụ thuộc vào mức sản lượng ở nước
ngoài và tỷ giá hối đoái thực tế. Do đó khi nền kinh tế trong nước và nước
ngoài đều ở trong tình trạng cân đối hoặc ở mức sản lượng tiềm năng,thì chỉ
có một tỷ giá chính thức duy nhất đồng thời tương ứng với sự cân bằng bên
ngoài.ở bầt kì mức tỷ giá hối đoái nào cao hơn nền kinh tế nội địa cũng có
sức cạnh tranh kém hơn. Nhập khẩu sẽ cao hơn và xuất khẩu sẽ thấp hơn,
nền kinh tế sẽ bị thâm hụt trong tài khoản vãng lai. Ngược lại ở bất kì một
mức tỷ giá hối đoái thực tế nào thấp hơn với xuất khẩu cao hơn và nhập
khâủ thấp hơn, nền kinh tế nội địa sẽ có một khoản thặng dư trong vãng lai.
Chỉ có một tỷ giá hối đoái thực tế duy nhất tương ứng với sự cân đối bên
trong và bên ngoài.
10
CHƯƠNG II
HỆ THỐNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM
I. SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM TỪ
NĂM 1955 ĐẾN NAY.
Trong giai đoạn từ năm 1955 đến 1989, mặc dù nhiều nước trên thế
giới đang áp dụng cơ chế thả nổi và thả nổi có quản lý, nhưng các nước xã
hội chủ nghĩa, với cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nhà nước luôn can thiệp
mạnh vào mọi mặt hoạt động kinh tế, thì quả thực cơ chế hối đoái thả nổi
thành vấn đề cấp bách vì nếu để tỷ giá cũ làm cho việc bù lỗ nhập khẩu vượt
mức chịu đựng của ngân sách nhà nước, thủ tiêu động lực xuất khẩu.
Sau đại hội toàn quốc lần thứ VI, nhà nước bắt đầu thực hiện công cuộc
đổi mới nền kinh tế, từng bước xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung,
chuyển dần sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Đây là thời
kì có sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy quản lý và diều hành kinh tế của
nhà nước, nhất là trong lĩnh vực tài chính tiền tệ.
Tỷ giá hối đoái, khâu đột phá có vai trò cực kì quan trọng trong cải
cách được đặc biệt quan tâm. Tháng 3/1989 Nhà nước chính công bố xoá bỏ
tỷ giá kết toán nội bộ, xoá bỏ mội chế độ trợ giá cho các hoạt động ngoại
thương. Tỷ giá chính thức đuợc Ngân hàng nhà nước chính thức công bố căn
cứ vào chỉ số lạm phát, lãi suất trên thị trường, cán cân thanh toán, tham
khảo diễn biến giá trên thị trường tự do và giá vàng trên thị trường quốc tế
và trong nước. Trên cơ sở tỷ giá này, các ngân hàng thương mại xây dựng
cho mình một tỷ giá dùng để giao dịch hàng ngày với biên độ giao động cho
phép. Nhìn chung những giải pháp trên đã góp phần cải thiện phần nào tình
hình trên thị trường ngoại hối, xoá bỏ tình trạng bất hợp lý trong mua bán
thanh toán, đặc biệt trong lĩnh vực nhập khẩu.
Sau năm 1990, tuy đã có những cải cách nhất định về mặt tỷ giá nhưng
tỷ giá vẫn có những biến động mạnh mà điển hình là cơn sốc tỷ giá vào năm
12
1991, đồng Việt Nam bị mất giá 60 % so với đôla Mĩ. Nguyên nhân chính là
do ảnh hưởng của tình hình cán cân thanh toán quốc tế, sự thâm hụt tài chính
của chính phủ và mức độ lạm phát nặng nề ở Việt Nam. chính vì vậy vào
cuối năm 1991 đầu năm 1992 chính phủ đã can thiệp để nâng giá đồng Việt
Nam trên thị trường ngoại tệ. Sự can thiệp này có mục đích chống lạm phát
bằng cách giữ cho hàng nhập khẩu được ổn định vì từ năm 1990 trở lại đây,
Việt Nam đã nhập khẩu một số lượng lớn lượng nguyên, nhiên vật liệu để đáp
ứng nhu cầu phát triển và mở rộng sản xuất trong nước, thúc đẩy xuất khẩu sản
Giảm thuế, bảo hiểm giá đối nông sản xuất khẩu, trợ giá đối với những sản
phẩm xuất khẩu mới Nhưng do biên giới với Trung Quốc rất dài, dễ qua
lại và do việc buôn lậu mang lại rất nhiều lợi nhuận nên hầu như không thể
ngăn chặn việc buôn bán tại vùng này tuy có thể làm cho những hoạt động
đó mang lại ít lợi nhuận hơn. Tất nhiên những biện pháp này sẽ không giúp
được gì cho các nhà xuất khẩu do họ sản xuất lại tụt xuống (nếu mức giá
bằng USD vẫn không thay đổi).
Diễn biến cụ thể của tỷ giá hối đoái trong 2 năm 1991, 1992 như sau
Năm 1991 :
Tháng 12/90 1/91 3/91 6/91 12/91
VNĐ/US
D
7400 7900 8830 10050 12550
VNĐ/US
D
1350 1370 1460 1850 2350
Du
Năm 1992 :
Tháng 12/91 1/92 3/92 6/92 9/92 12/92 1/93
VND/US
D
12.900 11.800 11.550 10.285 10.950 10.720 10.50014
Đến cuối năm 1992, đồng Việt Nam tăng 20 % so với đồng đô la vì thế vào
năm 1993, sức cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường sẽ bị giảm
mạnh. Sau đó Nhà nước lại tăng giá đồng đô la trong cuối quý I năm 1993 là
cho đồng Nhân dân tệ tăng gía, sức cạnh tranh của hàng Trung Quốc trên thị
trường Việt Nam giảm
đổi VNĐ theo USD qua 1 tổ ngoại tệ hẹp (chủ yếu qua đô la Mỹ, DM, bảng
Anh, ) trong đó đôla Mỹ chiếm tỉ trọng lớn. Thực tiễn đã chứng minh chính
sách này chỉ phù hợp với giai đoạn tiền tệ còn chưa ổn định, xuất khẩu còn
yếu, nhập khẩu khá ồ ạt, dự trữ ngoại tệ quốc gia mỏng. Xu hướng của tỷ giá
trong thời gian này là tăng quá chậm so với tốc độ tăng trưởng lạm phát (tính
theo chỉ số liên hoàn qua nhiều năm), VND được đánh giá quá cao so với giá
trị thực của nó. Từ năm 1992–1996, tỷ giá tăng khoảng 5,2 % trong khi lạm
phát tăng 40%). Yêu cầu chuyển sang giai đoạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
hướng mạnh vào xuất khẩu trong điều kiện tiền tệ khá ổn định (lạm phát
thấp, lãi suất giảm, cán cân thanh toán tổng thể có bội chi nhỏ, dự trữ ngoại
tệ khá hơn ) buộc chính sách tỷ giá hối đoái phải điều chỉnh lại, vì thế đến
năm 1997, Ngân hàng Nhà nước có quyết định để thay đổi biên độ giao dịch:
Ngân hàng Nhà nước nới rộng biên độ giao dịch hối đoái cho các Ngân hàng
thương mại so với tỷ giá chính thức do Ngân hàng Nhà nước công bố, lần
lượt là 5% vào tháng 3/1997 rồi đến 10% vào tháng 10/1997, từ mức 0,5 - 1
% được áp dụng trong suốt 2 năm 1995, 1996
Trong thời kỳ 1997 - 1998, chênh lệch lãi suất giữa VND và USD xích
lại gần nhau. Thời gian này diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong
khu vực, về cuộc khủng hoảng này, nhiều nhà kinh tế cho rằng một trong
những nguyên nhân gây ra khủng hoảng là ở Thái Lan đã duy trì một cơ chế
gắn đồng Bath vào đồng đô la một cách rất cứng nhắc của Ngân hàng Trung
ương Thái Lan trong nhiều năm. Sau cuộc khủng hoảng này, hầu hết các
đồng tiền của các nước trong khu vưc giảm giá (tiền Indonexia mất giá 130
%, đồng Thái Lan mất giá 100 %, đồng Malaixia mất giá 60 % ) đồng thời
16
lượng vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam giảm sút. Xu hướng rút tiền
đồng Việt Nam để chuyển sang ngoại tệ tăng lên. Hơn nữa do năm 1996
khối lượng L/c trả chậm khá lớn và phần lớn đến hạn trả vào năm 1997, do
vậy làm tăng nhu cầu mua ngoại tệ trong nước để trả nợ đến hạn. Tất cả các
vụ mua bán ngoại tệ mới, quy định về trạng thái ngoại tệ, trạng thái tiền
đồng, đối với các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ. Đặc biệt
là 2 lần chủ động điều chỉnh tỷ giá: lần thứ nhất vào 16/02/1998, Ngân hàng
Nhà nước(NHNN) quyết định nâng tỷ giá từ 11175 VND/1 USD lên 11800
VND/ 1 USD làm tỷ giá trao đổi của các ngân hàng thương mại(NHTM) xấp
xỉ với tỷ giá trên thị trường tự do. Lần thứ hai diễn ra vào ngày 07/8/1998, tỷ
giá chính thức được nâng từ 11888 VND/ 1 USD lên 11.998VND/ 1 USD,
tăng 16,3 %, bên cạnh đó, biên độ giao dịch cũng được thu hẹp lại còn 7 %
chứ không phải là 10 % như trước đây nữa. Việc chủ động điều chỉnh tăng
tỷ giá của NHNN đã làm thu hẹp khoảng cách giữa tỷ giá trên thị trường tự
do và tỷ giá của các NHTM. Vào những tháng cuối năm 1998, tỷ giá của hai
thị trường này thường xuyên sấp xỉ nhau
Tuy nhiên để xoá bỏ hiện tượng găm giữ, đầu cơ ngoại tệ và tập trung hơn
nữa ngoại tệ vào sự quản lý của Nhà nước, ngày 12/09/1998, Chính phủ ban
hành quyết định số 173/ QĐ-TTG về mua và bán ngoại tệ đã mang lại một số
kết quả khả quan. Suốt quý IV năm 1998, doanh số mua bán ngoại tệ tăng liên
tục. Quan hệ cung cầu ngoại tệ được cải thiện đáng kể đã góp phần nhằm ổn
định tốt hơn tỷ giá hối đoái. Tỷ giá giao dịch của thị trường ngoại tệ liên ngân
hàng được duy trì trong biên độ quy định, khoảng cách chênh lệch về tỷ giá
giữa thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và thị trường tự do là khá thấp (< 1 %).
II.VẤN ĐỀ TỶ GIÁ HIỆN NAY.
Từ ngày 01 /01/1999, sự kiện ra đời chính thức đồng Euro đã đem đến
cho khu vực này một chế độ không có tỷ giá hối đoái hay cũng có thể gọi là"
cơ chế tỷ giá cố định tuyệt đối”. Ở Việt Nam nhiều quan điểm cho rằng, cần
giảm bớt sự quản lý đối với tỷ giá bằng cách mở rộng biên độ giao dịch để
thực hiện cơ chế tỷ giá linh hoạt, có quan điểm lại cho rằng cần duy trì tỷ giá
18
hối đoái ổn định hơn nữa. Do cần phải thực hiện điều chỉnh tỷ giá sao cho
phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường, NHNN đã đưa ra hai quyết
theo quy định số 289 / 2000 / QĐ - NHNN ngày 30/08/2000, các ngân hàng
chỉ được phép tăng tối đa 0,2 %. Như vậy các NH không lợi dụng được
chênh lệch giữa tỷ giá giao ngay và có kỳ hạn cho cuộc cạnh tranh mua bán
ngoại tệ. Nhưng muốn giải pháp này hiệu quả cần phải có những quy định
khác đi kèm.
Hiện nay do biến động của thị truơng thế giới ,đặc biệt sau chiến tranh
tại IRAQ khiến cho đồng dolla ngày càng lên giá,1$ đổi đựoc 15430
đồng.Đây là một vấn đề khá quen thuộc sau các cuộc chiến tranh do Mỹ phát
động,vấn đề chúng ta dự kiến được để có những sự đIều chỉnh phù hợp mà
thôi.
20
CHƯƠNG III
NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH
VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
I. NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI TRONG VIỆC ĐIỀU CHỈNH TGHĐ
TRONG THỜI GIAN QUA.
Mặc dù đã luôn được cố gắng hoàn thiện, nhưng chính sách TGHĐ ở Việt
Nam cần phải được thường xuyên điều chỉnh, phải luôn sửa đổi, bổ xung các
giải pháp. Nếu không tiếp tục sửa đổi thì có thể có một số khó khăn như sau:
Thứ nhất là tâm lý chờ đón phá giá VNĐ vẫn luôn thường trực gắn liền
với cách tính toán và công bố tỷ giá giao dịch bình quân của NHNN khiến tỷ
giá thực tế của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng luôn có xu hướng tăng
thêm với mức được phép là 0,1 % tạo thành cấp số luỹ thừa liên tục của hệ
số 1,001 là khá lớn.
Để tránh xu hướng này, NHNN phải thường xuyên sử dụng dự trữ
ngoại tệ can thiệp nhằm kiểm soát tỷ giá giao dịch thực tế của thị trường liên
ngân hàng, NHNN phải trực diện chịu áp lực thị trường khi cung cầu ngoại
tệ căng thẳng, mà khả năng dự trữ ngoại tệ rất mỏng.
Do thị trường ngoại tệ liên ngân hàng chưa phát triển hoàn hảo, chưa
+ Có quan điểm lại phủ nhận hoàn toàn quan điểm trên, cho rằng trong
điều kiện đồng USD đang lên giá so với các đồng khác, nếu chúng ta giữ cố
định VNĐ thì sẽ làm cho hàng hoá và dịch vụ sản xuất trong nước sẽ có giá
cao tương đối so với các nước trong khu vực, kéo theo một môi trường đầu
tư kém hấp dẫn. Do vậy, nhất thiết phải phá giá VNĐ ở mức cao hơn các
nước khu vực đã làm.
II. CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI
ĐOÁI.22
Nền kinh tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay vẫn là nền kinh tế
trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, chính vì vậy chúng ta càng cần
phải phát triển kinh tế ổn định, vững chắc với một cơ chế tỷ giá linh hoạt,
không cứng nhắc để có thể chống đối được các tác động tiêu cực từ phía thi
trường do ảnh hưởng cơ chế tỷ giá. Hiện nay nền kinh tế của Việt Nam
tương đối ổn định, bội chi ngân sách có thể kiểm soát được, nhưng nợ nước
ngoài cũng khá cao : nợ các quốc gia khác, nợ các tổ chức quốc tế như IMF,
WB tổng số nợ là khoảng hơn 20 tỉ đôla. Nếu tỷ giá thay đổi, cụ thể là nếu
đồng đôla tăng giá thì gánh nặng về nợ ngày càng trở nên nghiêm trọng,
nhưng xuất khẩu tăng. Ngược lại nếu đồng nội tệ tăng giá thì có thể sẽ ảnh
hưởng đến xuất khẩu, làm giảm sức cạnh tranh trên thi trường quốc tế, như
vậy phải tìm được một cơ chế tỷ giá phù hợp để có thể dung hoà được các
mâu thuẫn trên. Để quản lý ngoại hối và tỷ giá hối đoái chỉnh phủ có thể thi
hành, áp dụng nhiều biện pháp khác nhau, tuy nhiên trong khuôn khổ đề án
này, em có thể đưa ra một số đề nghị về việc quản lý đó như sau:
Ngân hàng trung ương phải có một lượng dữ trữ ngoại tệ đủ lớn : Đây
là giải pháp mà trước đây chúng ta cũng đã quan tâm nhưng do trong thời
gian trước đây tỷ giá do ngân hàng nhà nước công bố, còn mang nặng tính
chất hành chính cho nên nó tác động đến cung cầu nhiều hơn tác động của
Phải có sự quản lý đối với hàng hoá trong nước: Điều tiết giá cả của
hàng hoá trong nước, khuyến khích người Việt Nam dùng hàng Việt Nam,
quản lý chặt chẽ nguồn hàng sản xuất trong nước cho phù hợp với yêu cầu
của nguời tiêu dùng, giúp đỡ quảng cáo và khuyến khích các dịch vụ sau bán
và sẽ làm cho đồng Việt Nam tăng giá khi hàng trong nước vẫn bán được.
Mặt khác nhà nước có thể giúp đỡ bằng cách tích cực tiếp cận và đổi mới
công nghệ, kỹ thuật phù hợp với mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
nước.
Điều chỉnh chính sách thuế quan và phi thuế quan một cách hợp lý
nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, tiến tới thực hiện cam kết xoá bỏ hàng rào
thuế quan. Chính sách bảo hộ nhập khẩu bằng cách tăng các mức thuế nhập
24
khẩu, hoặc dùng hạn ngạch, dán tem để có thể quản lý được nhập khẩu với
các mặt hàng xa xỉ hoặc các mặt hàng mà chúng ta đã sản xuất được, việc
này sẽ làm tăng mức giá cả của hàng nhập khẩu tương đối so với hàng nội
địa.
Khống chế mức lạm phát trong nước: Lạm phát là nhân tố ảnh hưởng
cùng chiều đến tỷ giá hối đoái danh nghĩa của đồng nội tệ. Lạm phát cao làm
gia tăng lãi suất tương đối của tiền gửi bằng nội tệ so với đồng ngoại tệ kéo
theo sự giảm giá của đồng nội tệ, tức là lạm phát có tác động ngược chiều
với giá trị của đồng bản tệ. Ngoài những ảnh hưởng trực tiếp thì lạm phát
còn có ảnh hưởng gián tiếp đến thị trường ngoại hối. Do vậy muốn quản lý
được thị trường ngoại hối và điều tiết tỷ giá hối đoái theo một mục tiêu nhất
định thì Chính phủ cần khống chế được tỉ lệ lạm phát một cách hợp lý. Nếu
không khống chế được lạm phát một cách hợp lý thì diễn biến trên thị
trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái là khó có thể kiểm soát được dẫn đến
những biến động ngoài mong muốn.
Cơ chế quản lý ngoại hối cần được hoàn chỉnh hơn: Chính phủ cần phải
tăng cường vai trò của mình trên thị trường ngoại hối để có thể có những xử