LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới đang chứng kiến những thay đổi mạnh mẽ của các nền kinh tế
với xu hướng vận động nhằm xây dựng một nền kinh tế toàn cầu thống nhất.
Các nước ngày càng mở rộng việc hợp tác với nhau trên hầu hết các lĩnh vực,
đặc biệt là lĩnh vực kinh tế thông qua quan hệ thương mại trao đổi hàng hóa
dịch vụ. Xu thế này mang đến cho các nước những cơ hội lớn để tăng khả
năng phát triển và cũng tạo ra tầm ảnh hưởng đối với các nước khác. Trong
điều kiện hàng hóa được trao đổi từ nước này sang nước khác một cách khá
dễ dàng như hiện nay,việc một nước đưa ra những chính sách thay đổi hay có
biến động trong nền kinh tế cũng gây ra những thay đổi trong quan hệ kinh tế
với các nước khác. Mức độ ảnh hưởng này còn phụ thuộc vào nhiểu yếu tố
như nền kinh tế đó là lớn hay nhỏ, thị trường hàng hóa của nước này trên thế
giới, các quan hệ khác như chính trị, văn hóa, xã hội… và để đánh giá những
ảnh hưởng này còn phải xột trờn nhiều khía cạnh khác nhau.
Chúng ta đã nhìn thấy tầm ảnh hưởng của nền kinh tế một quốc gia tới
toàn thế giới thông qua cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 2008 vừa qua.
Nguyên nhân sâu xa của cơn địa chấn tài chính bắt nguồn từ khủng hoảng tín
dụng và nhà đất tại Mỹ. Bong bóng bất động sản càng lúc càng phình to đã
đặt thị trường nhà đất và tiếp đó là tín dụng tại Mỹ cũng như nhiều quốc gia
châu Âu vào thế nguy hiểm. Khủng hoảng tài chính bựng phỏt tại Mỹ và lan
rộng toàn cầu, kéo theo sự sụp đổ đồng loạt của nhiều định chế tài chính
khổng lồ, thị trường chứng khoán khuynh đảo. Năm 2008 cũng chứng kiến nỗ
lực chưa từng có của các nền kinh tế để chống chọi với "bão".
Không chỉ những nền kinh tế lớn mới có ảnh hưởng sâu sắc tới các
nước khác mà các nền kinh tế mới nổi có triển vọng tăng trưởng kinh tế hết
sức khả quan, ngày càng tham gia vào việc giải quyết vấn đề toàn cầu, tăng
cường hợp tác phát triển. Trong số đó phải kể đến một đất nước được xem là
cường quốc sau Mỹ hiện nay, đó là Trung Quốc. Với diện tích lớn, qui mô
dân số, tổng lượng kinh tế, dự trữ ngoại hối, vị thế một trong 5 ủy viên
thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc… Trung Quốc ngày càng mở
rộng tầm ảnh hưởng quốc tế của mình. Đặc biệt trong lĩnh vực tiền tệ quốc tế,
thể tới chi tiết, đề án của em được chia thành ba chương cụ thể như sau:
Chương I: “Khỏi quỏt về Tỷ giá hối đoái”. Trình bày những nét khái
quát về Tỷ giá hối đoái, những yếu tố tác động và ảnh hưởng của nó tới các
biến số trong kinh tế.
Chương II: “Ảnh hưởng của đồng nhân dân tệ tăng giá tới xuất nhập
khẩu và đầu tư tại Việt Nam”. Ảnh hưởng của nhân dân tệ trên nhiều lĩnh vực
như cán cân thương mại, đầu tư, lạm phát nhưng chú trọng tới ảnh hưởng tới
cán cân thương mại giữa hai quốc gia.
Chương III: “Giải pháp tận dụng lợi thế và hạn chế những bất lợi từ
việc nhân dân tệ tăng giá tới hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư tại Việt
Nam”. Đưa ra một số giải pháp cụ thể để cái thiện chính sách tiền tệ, hạn chế
thâm hụt cán cân thương mại, gia tăng thu hút đầu tư.
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1. Khái niệm cơ bản về TGHĐ (TGHĐ)
1.1. TGHĐ
Tỷ giá là một trong những vấn đề rất được quan tâm trong một nền kinh
tế, đặc biệt là trong nền kinh tế của các nước đang phát triển, đang từng bước
hòa nhập vào nền kinh tế thế giới và tham gia vào phân công lao động quốc
tế. Bởi hoạt động thương mại quốc tế của các nước này ngày càng phát triển
và đòi hỏi phải có sự tính toán so sánh về giá cả, tiền tệ với các nước đối tác.
Chính vì thế việc hiểu rõ khái niệm về TGHĐ là điều cần thiết trong giai đoạn
tự do trao đổi hàng hóa, tiền tệ như ngày hôm nay.
Theo Alan C. Shapiro: Multinational Financial management. Sixth
edition, Page 50: “An exchange is, simply, the price of one nation’s currency
in terms of another”. (Nghĩa là: TGHĐ, một cách giản đơn là giá của một
đồng tiền quốc gia này được biểu thị bằng đồng tiền của quốc gia khác).
Theo pháp lệnh về ngoại hối của Việt Nam được Quốc hội ban hành
ngày 13/12/2005, tại Khoản 9, Điều 4: “TGHĐ của đồng Việt Nam là giá của
một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam”.
với đồng tiền nước ngoài. TGHĐ hiệu quả thực là tỷ giá được điều chỉnh theo
một số các tỷ giá thực của các nước đối tác thương mại. Tỷ giá này được xem
là thước đo hữu hiệu khả năng cạnh tranh của một nước trong quan hệ thương
mại với các nước khác bởi nó xét đến tỷ giá thực giữa đồng tiền của một nước
với nhiều nước tham gia trao đổi thương mại với nước đó. TGHĐ thực cân
bằng là mức tỷ giá mà tại đó nền kinh tế đồng thời đạt cân bằng bên trong
(cân bằng trên thị trường hàng hoá phi mậu dịch) và cân bằng bên ngoài (cân
bằng tài khoản vãng lai). Tỷ giá thực cân bằng có mối quan hệ mật thiết với
các biến số kinh tế khỏc, nó thể hiện độ nhạy của các biến kinh tế đối với
chính sách kinh tế vĩ mô đặc biệt là trong ngắn và trung hạn.
1.2. Thế nào là tăng giá đồng tiền
Do chịu sự tác động của nhiều yếu tố nên TGHĐ thường xuyên biến
động. Sự biến động này xảy ra khi có sự tăng giá hoặc giảm giá các đồng tiền.
TGHĐ tăng tức là đồng tiền trong nước giảm so với đồng tiền nước khác.
TGHĐ giảm tức là đồng tiền trong nước tăng so với đồng tiền của nước khác.
Tăng giá tiền tệ là việc tăng giá trị đồng nội tệ so với các ngoại tệ khác so với
mức mà chính phủ đã cam kết trong chế độ TGHĐ cố định. Việc đồng Việt Nam
tăng giá tức là tăng giá trị so với các ngoại tệ khác như USD, EUR…
Ví dụ đầu năm 1980, đồng frăng trị giá 25xu, và ngày 4/4/1991, nó trị
giá 17,7xu. Đồng frăng đã sụt giá 30%. Ngược lại, chúng ta có thể nói rằng
đồng đụla Mỹ tăng giá 40%.
1.3. Các nhân tố tác động làm tăng giá đồng tiền
Sự hình thành TGHĐ là quá trình tác động của nhiều yếu tố chủ quan
và khách quan. Những yếu tố này trực tiếp hoặc gián tiếp làm cho TGHĐ
thay đổi. Tỷ giá có thể tăng hoặc giảm theo từng thời kỳ hoặc do chính sách
tỷ giá của nhà nước đưa ra.
TGHĐ, tức tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền cao hay thấp được quyết
định bởi các lực lượng thị trường, cung và cầu. Cung ngoại tệ là lượng ngoại
tệ mà thị trường muốn bán ra để thu về nội tệ. Cầu ngoại tệ là lượng ngoại tệ
mà thị trường muốn mua vào bằng các đồng nội tệ. Giá cả ngoại tệ, TGHĐ
động của hai hiện tượng trên là ngược chiều trong việc hình thành TGHĐ.
TGHĐ cuối cùng sẽ tăng hay giảm phụ thuộc vào mức độ tác động mạnh yếu
của các nhân tố, đú chớnh là cán cân thương mại. Nếu một nước có thặng dư
thương mại, cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ, TGHĐ sẽ giảm, đồng nội tệ
lên giá. Khi thâm hụt thương mại, TGHĐ sẽ tăng, đồng nội tệ giảm giá.
Trong điều kiện giá cả trong nước ổn định, tình hình lạm phát ở mức
nhỏ không đáng kể, đầu tư ra nước ngoài cũng ảnh hưởng tới TGHĐ do cư
dân trong nước dùng tiền mua tài sản ở nước ngoài, có thể là đầu tư trực tiếp
(xây dựng nhà máy, thành lập các doang nghiệp ) hay đầu tư gián tiếp (mua
cổ phiếu, trái phiếu ) . Những nhà đầu tư này muốn thực hiện hoạt động kinh
doanh trên cần phải có ngoại tệ. Họ mua ngoại tệ trên thị trường, luồng vốn
ngoại tệ chảy ra nước ngoài, TGHĐ sẽ tăng. Ngược lại một nước nhận đầu tư
từ nước ngoài, luồng vốn ngoại tệ chảy vào trong nước, làm cho cung ngoại tệ
tăng, TGHĐ giảm. Đầu tư ra nước ngoài ròng là hiệu số giữa luồng vốn chảy
ra và luồng vốn chảy vào một nước. Khi đầu tư ra nước ngoài ròng dương,
luồng vốn chảy vào trong nước nhỏ hơn dòng vốn chảy ra nước ngoài,TGHĐ
tăng. TGHĐ sẽ giảm trong trường hợp ngược lại, đầu tư ra nước ngoài rũng
õm. Theo quy luật tối ưu hoá, luồng vốn sẽ chảy đến nơi nào có lợi nhất, tức
là hiệu suất sinh lời cao nhất. Một nền kinh tế sẽ thu hút được các luồng vốn
đến đầu tư nhiều hơn khi nó có môi trường đầu tư thuận lợi, nền chính trị ổn
định, các đầu vào sẵn có với giá rẻ, nguồn lao động dồi dào có tay nghề, thị
trường tiêu thụ rộng lớn, lãi suất cao và sự thông thoáng trong chính sách thu
hút đầu tư nước ngoài của Chính phủ.
Lạm phát ảnh hưỏng đến TGHĐ. Khi các yếu tố khác trong nền kinh tế
không đổi đối với một nước có lạm phát, sức mua đồng nội tệ giảm, với
TGHĐ không đổi, hàng hoá dịch vụ trong nước đắt hơn trên thị trường nước
ngoài trong khi hàng hoá dịch vụ nước ngoài rẻ hơn trên thị trường trong
Dưới đây là bảng tổng hợp biến động tỷ giá ba tháng qua qua từ ngày
27/07/2010 đến ngày 25/10/2010 của USD/CNY.
Biểu đồ 1: Xu hướng biến động tỷ giá USD/CNY từ ngày 27/7 đến
đũa của các nước khỏc trờn thị trường nước ngoài.
* Ảnh hưởng của việc đồng nhân dân tệ tăng giá với hoạt động kinh
tế của Trung Quốc
Sau ba tuần kể từ khi quyết định trên được ban hành và có hiệu lực,
nhân dân tệ đã tăng 0,8% và đang đổi được 6,7746/đô la Mỹ và có thể lờn
6,5/đô la Mỹ vào cuối năm 2011. Công ty Morgan Stanley tại Hồng Kụng cho
rằng, nhân dân tệ có thể tăng 4% trong năm nay và 6% trong năm 2011.
Trong khi đó, Tập đoàn Ngân hàng DBS cho rằng, nhân dân tệ sẽ tăng 1,2%
trong năm nay khi PBC hành động để kiềm chế lạm phát.
Theo thông tin của Chính phủ Trung Quốc, đầu tư trong nước suy giảm
đã hạn chế nhập khẩu, nên xuất siêu của Trung Quốc đã tăng ba tháng liên
tiếp và đạt 20 tỉ đô la Mỹ vào tháng 6, tăng 43,9% so cùng kỳ năm 2009 và có
thể tiếp tục tăng cao trong những tháng cuối năm do tốc độ suy giảm nhập
khẩu có thể vượt xuất khẩu trong những tháng tới. Tuy nhiên, dự trữ ngoại hối
trong quớ 2 tăng chậm nhất kể từ năm 1999, chỉ tăng thêm 7,2 tỉ đô la Mỹ lên
2.454 tỉ đô la Mỹ sau khi tăng 47,9 tỉ trong quớ 1.
Như vậy, nỗ lực cắt giảm thâm hụt ngân sách tại nhiều nước phát triển
và suy thoái tại châu Âu đã làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng như nhu
cầu nhập khẩu hàng hóa, tác động xấu đến xuất khẩu của Trung Quốc.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng nhõn dân tệ tăng giá có thể gây tác
động tiêu cực đến các doanh nghiệp xuất khẩu do họ phải đối mặt với nhu cầu
yếu ớt ở nước ngoài và yêu cầu tăng lương. Một số nhà xuất khẩu phải đối
mặt với áp lực tăng chi phí lao động khi 20 tỉnh, thành phố tại Trung Quốc
nâng mức lương tối thiểu trong năm nay. Các công ty, bao gồm Toyota và
Honda, phải tăng lương sau các cuộc đình công, làm tăng chi phí do phải trả
lương công nhân bằng nhân dân tệ và thu về bằng đô la Mỹ hoặc Euro.
Đối với thương mại và đầu tư quốc tế, nhân dân tệ tăng giá sẽ làm cho
hàng hóa Trung Quốc trở nên đắt hơn, góp phần tăng thêm sức cạnh tranh
hàng hóa của những nước khác, nhất là tại những nước mà hàng nhập khẩu từ
Trung Quốc chiếm tỷ trọng lớn. Các nền kinh tế xuất khẩu như Nhật Bản,
Quốc. Chính vì vậy mà nó ảnh hưởng trực tiếp lên cán cân thương mại của
Việt Nam và Trung Quốc, ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của hàng Việt
Nam với hàng Trung Quốc trên thị trường thế giới, tới đầu tư vào Việt Nam,