Cảm nhận bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương. - Pdf 15

CHUYÊN ĐỀ 15: “Viếng lăng Bác” – Viễn Phương
* Khái quát về tác giả, tác phẩm:
- Viễn Phương là nhà thơ trưởng thành trong phong trào văn nghệ giải phóng ở miền
Nam.
- Thơ ông thường nhỏ nhẹ, giàu tình cảm, giàu chất mộng mơ ngay trong hoàn cảnh khốc
liệt của chiến trường.
- Bài thơ “Viếng lăng Bác” được viết năm 1976. Đây là thời điểm miền Nam vừa giải
phóng, đất nước thống nhất, công trình lăng Chủ t ịch Hồ Chí Minh c ũng vừa được hoàn
thành. Ước mong được ra Hà Nội, đư ợc viếng lăng Bác Hồ của đồng bào miền Nam đã
có thể thực hiện. Nhà thơ Viễn Phương c ũng là một trong số những đồng bào chiến s ĩ từ
miền Nam sau giải phóng được ra Hà Nội viếng lăng thiêng liêng ấy. Dù ra đ ời muộn, khi
đã xuất hiện nhiều bài thơ được coi là đ ỉnh cao trong mảng sáng tác viết về đề tài lãnh t ụ
Hồ Chí Minh, nhưng “Viếng lăng Bác ” vẫn được đánh giá là một trong những tác phẩm
thành công xuất sắc và nhanh chóng chiếm được cảm tình của người đọc.
* Nghệ thuật:
Về nghệ thuật, bài thơ có giọng điệu vừa trang trọng, phù hợp với đề tài viết về lãnh tụ lại
vừa tha thiết, sâu lắng, phù hợp với chủ đề tư tưởng của tác phẩm (cảm xúc khi được vào
lăng viếng Bác). Giọng thơ cũng có sự thay đổi linh hoạt để diễn tả các cung bậc cảm
xúc. Khi thì hồi hộp, náo nức(trên đường vào lăng viếng Bác); khi thì tự hào, thành kính
(đứng trước lăng);khi thì nghẹn ngào đau xót (vào trong lăng); có lúc lại xúc động thiết
tha(nghĩ tới cảnh chia xa). Để tạo nên giọng điệu ấy, tác giả đã dùng kết hợp nhiều yếu tố
như thể thơ tự do (linh hoạt số chữ trong từng câu), gieo vần không cố định (có khi liền,
có khi cách), nhịp thơ biến đổi (lúc nhanh lúc chậm, lúc dàn trải, lúc dồn dập)…
Ngoài ra, bà i thơ còn sử dụng một hệ thống hình ảnh đặc sắc,kết hợp một cách hài hòa
giữa những hình ảnh thực (hàng tre xanh quanh lăng,mặt trời đi qua trên lăng, dòng người
vào lăng) với những hình ảnh có nghĩa ẩn dụ, tư ợng trưng mang tính khái quát ( mặt trời
trong lăng, vòng hoa dâng bày mươi chín mùa xuân, vầng trăng, trời xanh). Chính hệ
thống hình ảnh ấy đã góp phần phác họa thành công chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đề bài: Cảm nhận bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương.
I. M ở bài:
Bác Hồ là tên gọi thân yêu vang âm trong trái tim bao người, là niềm tin, là sức mạnh, là

nhiêu năm xa cách.
- Nhà thơ sử dụng từ “thăm” thay cho từ “viếng”:
+ “Viếng”: là đến chia buồn với thân nhân người chết.
+ “Thăm”: là gặp gỡ, trò chuyện với người đang sống.
-> Cách nói giảm, nói tránh -> giảm nhẹ nỗi đau thương mất mát -> khẳng định Bác vẫn
còn mãi trong trái tim nhân dân miền Nam, trong lòng dân tộc. Đồng thời gợi sự thân
mật, gần gũi: Con về thăm cha – thăm người thân ruột thịt, thăm chỗ Bác nằm, thăm nơi
Bác ở để thỏa lòng khát khao mong nhớ bấy lâu.
=> Câu thơ không có một dụng công nghệ thuật nào nhưng lại vô cùng gợi cảm, dồn nén
biết bao cảm xúc. Cách xưng hô và cách dùng từ của Viễn Phương giúp cho người đọc
cảm nhận được tình cảm xúc động, nhớ thương của một người con đối với cha. Đó không
chỉ là tình cảm riêng của nhà thơ mà còn là tình cảm chung của dân tộc Việt Nam. Thế hệ
này tiếp nối thế hệ khác song tất cả đều có chung một tình cảm như thế với Bác Hồ kính
yêu.
- Cái hay của khổ thơ không chỉ ở từ ngữ bình dị mà còn ở hình ảnh cây tre vô cùng thân
thuộc. Chắc nhà thơ phải đến xếp hàng từ rất sớm mới thấy đư ợc hàng tre trong sương
như vậy. Những “hàng tre xanh xanh Việt Nam” ấy chính là hình ảnh tư ợng trưng cho
làng quê, cho con người Việt Nam bền bỉ, cần cù, chịu thương chịu khó. Tác giả bật lên
một tiếng “Ôi !” vừa đầy thương cảm vừa mang vẻ tự hào. Thương cảm vì dân tộc ta phải
trải qua bao nhiêu “bão táp mưa sa ”, khó khăn gian khổ trong cuộc đời. Tự hào vì tre vẫn
“đứng thẳng hàng” như người Việt ta luôn kiên cường, bất khuất trước mọi gian lao, thử
thách. Đức tính cao quý ấy cũng đư ợc thể hiện trong thơ Nguyễn Duy : “Thân gầy guộc,
lá mong manh / Mà sao nên luy nên thành tre ơi”. Nhưng Viễn Phương không chỉ ca
ngợi đất nư ớc, con người Việt Nam mà còn muốn nói đến mối liên kết giữa Bác với quê
2
hương, với người dân. Ngày xưa, Bác từ giã làng quê với hàng tre xanh để ra đi tìm
đường cứu nước, và bây giờ Bác lại trở về giữa vòng tay của quê hương, giữa những con
người cần cù, chịu khó. Những “hàng tre bát ngát” bao quanh lăng như vòng tay của quê
hương, của Tổ quốc đang bao bọc lấy vị lãnh tụ vĩ đại, như hình dáng những người con
của dân tộc đang đứng canh giấc ngủ c ủa Ngư ời. Nghệ thuật ẩn dụ ấy vừa hay vừa tạo sự

+ Từ láy “ngày ngày” đứng ở đầu câu vừa diễn tả sự liên tục bất biến của tự nhiên vừa
góp phần vĩnh viễn hóa, bất tử hóa hình ảnh Bác Hồ trong lòng mọi người và giữa thiên
nhiên vũ trụ.
- Hình ảnh dòng ngư ời vào thăm lăng Bác đã được nhà thơ miêu tả một cách độc đáo và
để lại nhiều ấn tượng:
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.
+ Từ láy “ngày ngày” có nghĩa tương tự như câu thơ cầu đầu trong khổ thơ -> diễn tả
cảnh tượng có thực đang diễn ra hàng ngày, đều đặn trong cuộc sống của co n người Việt
Nam: Những dòng người nặng trĩu nhớ thương từ khắp mọi miền đất nước đã về đây xếp
hàng, lặng lẽ theo nhau vào lăng viếng Bác – “Dòng người đi trong thương nhớ”.
3
+ Bằng sự quan sát trong thực tế, tác giả đã tạo ra một hình ảnh ẩn dụ đẹp và sáng tạo:
“tràng hoa”.
_ Chúng ta có thể hiểu “tràng hoa” ở đây theo nghĩa thực là những bông hoa tư ơi thắm
kết thành vòng hoa được những người con khắp nơi trên đất nư ớc và thế giới về thăm
dâng lên Bác để bày tỏ tình cảm, tấm lòng nhớ thương, yêu quý, tự hào của mình.
_ “Tràng hoa” ở đây còn mang nghĩa ẩn dụ chỉ từng người một đang xếp hàng viếng lăng
Bác mỗi ngày là một bông hoa ngát thơm. Những dòng người bất tận đang ngày ngày vào
lăng viếng Bác nối kết nhau thành những tràng hoa bất tận. Những bông hoa – tràng hoa
rực rỡ đó dưới ánh mặt trời của Bác đã trở thành những bông hoa – tràng hoa đẹp nhất
dâng lên “bảy mươi chín mùa xuân” – 79 năm cuộc đời của Người.
-> Hình ảnh thơ trên biểu lộ tấm lòng thành kính, và biết ơn sâu sắc của nhà thơ,
của nhân dân đối với Bác Hồ.
3. Cảm xúc c ủa nhà thơ khi vào trong lăng:
- Vào trong lăng, khung cảnh và không khí như ngưng kết cả thời gian, không gian. Hình
ảnh thơ đã diễn tả thật chính xác, tinh tế sự yên tĩnh, trang nghiêm cùng ánh sáng dịu nhẹ,
trong trẻo của không gian trong lăng Bác.
- Đứng trước Bác, nhà thơ cảm nhận Người đang ngủ giấc ngủ bình yên, thanh thản giữa
vầng trăng sáng dịu hiền.

4. Tâm trạng lưu luyến c ủa nhà thơ khi rời xa lăng Bác:
- Nếu ở khổ thơ đầu, nhà thơ giới thiệu mình là ngư ời con miền Nam ra thăm Bác thì
trong khổ thơ cuối, nhà thơ lại đề cập đến sự chia xa Bác. Nghĩ đến ngày mai về miền
Nam, xa Bác, xa Hà Nội, tình cảm của nhà thơ không kìm nén, ẩn giấu trong lòng mà
được bộc lộ thể hiện ra ngoài:
“Mai về miền Nam thương trào nước mắt”.
+ Câu thơ “Mai về miền Nam thương trào nư ớc mắt” như một lời giã biệt.
+ Lời nói giản dị diễn tả tình cảm sâu lắng.
+ Từ “trào” diễn tả cảm xúc thật mãnh liệt, luyến tiếc, bịn rịn không muốn xa nơi Bác
nghỉ.
+ Đó là không chỉ là tâm trạng của tác giả mà còn là của muôn triệu trái tim khác. Được
gần Bác dù chỉ trong giây phút nhưng không bao giờ ta muốn xa Bác bởi Người ấm áp
quá, rộng lớn quá.
- Mặc dù lưu luyến muốn được ở mãi bên Bác nhưng tác giả cũng biết rằng đến lúc phải
trở về miền Nam. Và chỉ có thể gửi tấm lòng mình bằng cách muốn hóa thân, hòa nhập
vào những cảnh vật quanh lăng để đư ợc luôn ở bên Người trong thế giới của Người:
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
+ Điệp ngữ “muốn làm” cùng các hình ảnh đẹp của thiên nhiên “con chim”,”đóa
hoa”,”cây tre” đã thể hiện ước muốn tha thiết, mãnh liệt của tác giả.
+ Nhà thơ ao ước được hóa thân thành con chim nhỏ cất tiếng hót làm vui lăng Bác,
thành đóa hoa đem sắc hương, điểm tô cho vườn hoa quanh lăng.
+ Đặc biệt là ư ớc nguyện “Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này” để nhập vào hàng tre
bát ngát, canh giữ giấc ngủ thiên thu của Ngư ời. Hình ảnh cây tre có tính chất tượng
trưng một lần nữa nhắc lại khiến bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng. Hình ảnh hàng
tre quanh lăng Bác đư ợc lặp ở câu thơ cuối như mang thêm nghĩa mới, tạo ấn tượng sâu
sắc, làm dòng cảm xúc được trọn vẹn. “Cây tre trung hiếu” là hình ảnh ẩn dụ thể hiện
lòng kính yêu, sự trung thành vô hạn với Bác, nguyện mãi mãi đi theo con đườ ng cách
mạng mà Người đã đưa đường chỉ lối. Đó là lời hứa thủy chung của riêng nhà thơ và

nói thay lời của những người con miền Nam, ông còn bày tỏ tình cảm của cả dân tộc đối
với Bác. Nhà thơ dùng từ “thăm” như thể Bác vẫn còn sông, và đây chỉ là một buổi đến
thăm nói chuyện thông thường. Tình cảm ấy thật xúc động nhưng vẫn rất gần gũi, ấm áp.
Cái hay của khổ thơ không chỉ ở từ ngữ bình dị mà còn ở hình ảnh cây tre vô cùng thân
thuộc. Chắc nhà thơ phải đến xếp hàng từ rất sớm mới thấy đư ợc hàng tre trong sương
như vậy. Những “hàng tre xanh xanh Việt Nam” ấy chính là hình ảnh tư ợng trưng cho
làng quê, cho con người Việt Nam bền bỉ, cần cù, chịu thương chịu khó. Tác giả bật lên
một tiếng “Ôi !” vừa đầy thương cảm vừa mang vẻ tự hào. Thương cảm vì dân tộc ta phải
trải qua bao nhiêu “bão táp mưa sa”, khó khăn gian khổ trong cuộc đời. Tự hào vì tre vẫn
“đứng thẳng hàng” như người Việt ta luôn kiên cường, bất khuất trước mọi gian lao, thử
thách. Đức tính cao quý ấy cũng đư ợc thể hiện trong thơ Nguyễn Duy : “Thân gầy guộc,
lá mong manh / Mà sao nên luy nên thành tre ơi”. Nhưng Viễn Phương không chỉ ca ngợi
đất nước, con người Việt nam mà còn muốn nói đến mối liên kết giữa Bác với quê
hương, với người dân. Ngày xưa, Bác từ giã làng quê với hàng tre xanh để ra đi tìm
đường cứu nước, và bây giờ Bác lại trở về giữa vòng tay của quê hương, giữa những con
người cần cù, chịu khó. Những “hàng tre bát ngát” bao quanh lăng như vòng tay của quê
hương, của Tổ quốc đang bao bọc lấy vị lãnh tụ vĩ đại, như hình dáng những người con
của dân tộc đang đứng canh giấc ngủ của Ngư ời. Nghệ thuật ẩn dụ ấy vừa hay vừa tạo sự
kết nối chặt chẽ vì cây tre, Bác và đất nước có mối liên hệ đặc biệt. Bằng lời thơ giản dị
và hình ảnh ẩn dụ nhiều ý nghĩa, nhà thơ đã bày tỏ tâm trạng xúc động của mình khi đứng
trước lăng Bác.
* Khổ 2:
Không chỉ vậy, khổ thơ đầu tiên còn mở ra những suy ngẫm và xúc cảm sâu lắng hơn
6
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lắng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…
Xuyên suốt khổ thơ là nghệ thuật điệp ngữ và ẩn dụ. “Ngày ngày” vốn đã là một từ láy,
lại được dùng điệp ngữ nên càng gợi nên cảm giác thời gian như kéo dài vô tận trong khổ

* Khổ 3:
Nếu như cái đẹp của khổ hai là ở những phép ẩn dụ đầy sáng tạo và tinh tế thì cái hay của
khổ ba lại nằm ở sự dâng trào cảm xúc trong từng lời thơ
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!
7
Hình ảnh Bác hiện lên thật gần gũi. Có cảm giác như Bác không hề ra đi mà chỉ đang
nằm ngủ. “Vầng trăng sáng” có thể hiểu như những ánh đèn dịu nhẹ như ánh trăng tro ng
lăng Bác. Hình ảnh ấy cũng gợi cho ta nhớ đến vầng trăng trong cuộc đời, trong thơ ca
của Bác. Trăng làm bạn với Bác khi Người ngồi tù (Ngắm trăng), trăng theo Bác trong
những năm tháng kháng chiến ở Việt Bắc (Cảnh khuya, Rằm tháng Giêng),… và bây giờ,
ánh trăng lại canh giữ giấc ngủ của Bác. Hay như đọc đến từ “dịu hiền”, ta lại tự hỏi, phải
chăng “vầng trăng sáng” kia cũng có thể hiểu đó là ánh trăng tỏa ra từ tâm hồn thanh cao
của Bác, và nhà thơ khi vào thăm lăng đã cảm nhận được ánh sáng rạng ngời ấ y. Cảnh
lăng Bác hiện lên qua hai câu thơ đầu thật yên bình, tĩnh lăng, càng gợi lên giấc ngủ êm
đềm của Bác. Nghệ thuật tả thực đã diễn tả đư ợc bầu không khí trang nghiêm, lặng yên
trong lăng Bác, làm nền cho cảm xúc thăng hoa trong hai câu thơ cuối. Từ hình ảnh Bác
nằm như đang ngủ, nhà thơ liên tưởng đến sự bất diệt của Ngư ời. “Trời xanh” là ẩn dụ để
chỉ Bác và những điều Ngư ời đã làm cho non sông. Bác đã ra đi nhưng lí tư ởng của
Người, tấm gương đạo đức của Người không hề chết. Hình ảnh của Người đã hòa cùng
với trời cao, nhập vào từng thước đất của Tổ quốc. Những công lao của Người cũng mãi
còn đó như một tượng đài sừng sững chạm tới trời. Từ láy “mãi mãi” đã tô đậm và hoàn
chỉnh hình ảnh đó. Hình ảnh “trời xanh” ấy cũng giống như hình ảnh “mặt trời” ở khổ
hai, đều là những hình ảnh mang tính biểu tượng để ca ngợi sự vĩ đại bất diệt của Bác.
Nhà thơ hiểu rằng Bác vẫn còn sống mãi trong trái tim mình, trong tim mọi ngư ời dân
nước Việt, nhưng vẫn không thể quên đi sự thật đầy đau xót là Ngư ời đã ra đi… Sự thật
ấy hiện lên thật buồn, thật đau qua cặp từ tương phản “vẫn biết” – “mà sao”. Nỗi đau ấy
tràn ngập trong tim và trào lên ở từ “nhói”, như thể xuyên thẳng vào tim ngư ời viết, vào

+ Làm cây tre để nhập vào hàng tre bát ngát, canh giữ cho Bác trong giấc ngủ thiên thu.
- Hình ảnh cây tre lặp lại như mang thêm nghĩa mới, tạo ấn tư ợng sâu sắc, làm cho dòng
cảm xúc được trọn vẹn. “Cây tre trung hiếu” là hình ảnh ẩn dụ thể hiện lòng kính yêu, sự
trung thành vô hạn với Bác, nguyện mãi mãi đi theo con đường Cách mạng mà Người đã
vạch ra.
- Cũng nói về cảm xúc của bản thân khi đọc đoạn thơ, về tình cảm của nhà thơ, của nhân
dân với Bác.
*Về hình thức: trình bày thành đoạn văn, giới hạn 8 câu, có sử dụng thành phần phụ chú.
Bài tập 2: Cho đoạn thơ:
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
( Viếng lăng Bác – Viễn Phương)
a. Hãy phân tích ý nghĩa hình ảnh ẩn dụ “mặt trời trong lăng” ở câu thơ trên.
b. Chép hai câu thơ có hình ảnh ẩn dụ “mặt trời” trong một bài thơ mà em đã học ( ghi rõ
tên và tác giả bài thơ)
=> Gợi ý:
a. Phân tích để thấy:
- Đứng trước lăng Bác, cảm xúc của nhà thơ được gợi tả bằng hai hình ảnh thực, ẩn dụ
sóng đôi: “mặt trời đi qua trên lăng” và “mặt trời trong lăng”.
- “Mặt trời” trong câu thơ thứ nhất là hình ảnh thực – mặt trời của thiên nhiên vũ trụ, tuần
hoàn chiếu sáng đem lại sự sống cho muôn loài.
- “Mặt trời trong lăng” là hình ảnh ẩn dụ đầy sáng tạo và độc đáo. Bác Hồ chính là mặt
trời của dân tộc Việt Nam,soi đường dẫn lối cho sự nghiệp cách mạng giả i phóng dân tộc,
giành độc lập tự do, thống nhất đất nước.
=> Với hình ảnh ẩn dụ này, nhà thơ Viễn Phư ơng đã ca ngợi sự trư ờng tồn, vĩ đại của
Bác; đồng thời thể hiện sự ngưỡng mộ và lòng thành kính của nhân dân với Bác.
b. Hai câu thơ có hình ảnh ẩn dụ mặt trời:
Mặt trời của bắp thì nằm trên đôi
Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng.
( Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ - Nguyễn Khoa Điềm)

c. Viết đoạn văn:
*Về nội dung:
- Trước khung cảnh,không khí thanh tĩnh, nhà thơ cảm nhận không gian, thời gian như
ngưng kết và dư ờng như Bác đã thanh thản “trong giấc ngủ bình yên”, giữa ánh sáng dịu
hiền của vầng trăng tri kỉ - vầng trăng đã đồng hành cùng Bác suốt cả cuộc đời ( Liên hệ
thêm với các bài thơ viết về trăng của Bác).
- Cảm nhận về vẻ đẹp sáng trong của tâm hồn Người, nhà thơ biết rằng: Bác đã hóa thân
vào thiên nhiên, đất nước, tên tuổi và sự nghiệp của Bác sống mãi trong lòng dân tộc như
bầu trời xanh hiện hữu trên đầu.
- Dẫu vậy, một cảm giác đau xót vẫn trào dâng – “Mà sao nghe nhói ở trong tim”. Chỉ
một từ “nhói” đã diễn tả mọi cung bậc của cảm xúc, đã gợi một nỗi đau quặn thắt dâng
trào. Niềm tin và nỗi đau, tình cảm và lí trí kìm nén và vỡ òa….
=> Có thể nói, bốn dòng thơ với những ẩn dụ sáng tạo và cách sử dụng ngôn từ độc đáo,
người đọc cảm nhận đư ợc một sự trân trọng, một sự ngợi ca, và cả nỗi đau xót của nhà
thơ miền Nam đối với Bác Hồ.
*Về hình thức: trình bày đoạn văn theo cách lập luận quy nạp, khoảng 10 câu, có sử
dụng phép lặp và có một câu chứa thành phần phụ chú.
d. Câu thơ có hình ảnh trăng: HS có thể trích dẫn câu thơ trong bài “Đồng chí” (Chính
Hữu), “Ánh trăng”(Nguyễn Duy), “Đoàn thuyền đánh cá”(Huy Cận)….
Bài tập 4 : Viết một đoạn văn phân tích hình ảnh hàng tre trong khổ thơ sau:
Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
10
Ôi ! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.
( “Viếng lăng Bác” – Viễn Phương)
=> Gợi ý:
Đến lăng Bác, cảm nhận đầu tiên của tác giả là hình ảnh hàng tre. Đây là hình ảnh thực,
hình ảnh ẩn dụ. Hàng tre xanh xanh là biểu tượng hết sức thân thuộc của làng quê Việt
Nam,biểu tượng cho sức sống bền bỉ của con người Việt Nam,đất nư ớc Việt Nam > Với

viết c ủa anh Lê Quang Vịnh trên báo Sài Gòn Gi ải phóng, kể rằng: “Lúc tôi 25
tuổi, bị bọn M ỹ – Diệm kết án tử hình rồi chuyển thành trung thân khổ sai và đày
ra Côn Đ ảo. Trong chuồng cọp, địa ngục trần gian của nhà tù ấy, tôi bị bắt buộc
phải nằm dưới hầm suốt ngày… ”. Trên vách chuồng cọp, tôi thấy chi chít những
chữ ghi bằng nhiều cách khác nhau. Có những dòng được khắc trên vôi bằng cái
11
xương cá mắm. Có những chữ bằng máu, có những ghi bằng than. Tôi đọc được
bài thơ dài, chỗ này ghi một đoạn, chỗ khác ghi một khúc ráp l ại rất vần với nhau.
Cha già ơi
Hô m nay mư ời chín tháng năm
Lòng con sáng tựa đêm rằm trung thu
Con đang chúc thọ dưới mồ
Con đang dựng một rừng cờ trong tim
Đêm nay mộng hóa thành chim
Bay qua lưới sắt con tìm đến cha
Sau này m ới biết là thơ Viễn Phư ơng, bài Chúc thọ dưới mồ. Tôi nghĩ rằng
đó cũng là hạnh phúc lớn của nhà thơ: Góp phần mình vào công cuộc gi ải phóng
đất nước.
Nhà thơ Viễn Phương: Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kiệt xuất c ủa dân tộc ta là nguồn
cảm hứng vô tận của ngư ời sáng tạo văn, thơ, nhac, họa. Trong kháng chiến chống
Pháp và Mỹ, các nhà thơ sống ở Nam Bộ đều có những tác phẩm viết về Bác.
Trong nhà tù của gi ặc, tôi luôn luôn nghĩ về Bác. Bác là nguồn động viên, cổ các
chiến sĩ trong nhà tù. Tôi đã viết bài thơ Chúc thọ dưới mồ, được các đồng chí
trong tù thuộc, truyền cho nhau. Tuy lời thơ còn mộc mạc nhưng là t ấm lòng thành
kính c ủa tôi đối với Người.
PV: Phải đến khi đ ất nước thống nhất, ra thăm miền Bắc, anh mới có Viếng
Lăng Bác, đầy đủ độ chín và ngôn từ. Anh có thể cho biết bài thơ ra đời trong
hoàn cảnh nào?
Nhà th ơ Vi ễn Phư ơng: Khi Bác còn sống, nhân dân miền Nam mong
muốn đất nước giải phóng để đón Bác vào thăm. Nhưng rồi, ước mơ ấy không

Bác:
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
Ngu ồn: Báo VNQĐ
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status