THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG XUẤT
KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM TỪ
NĂM 2001 ĐẾN NAY
MỤC LỤC
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM
2001 ĐẾN NAY.
MỞ ĐẦU.
1.Tính cấp thiết của đề tài.
Là một nước với 67% lực lượng lao động làm nông nghiệp, trong những năm
qua, nông nghiệp nước ta đã đóng góp rất lớn cho nền kinh tế. Với khoảng ¼ GDP
và 1/3 tổng kim nghạch xuất khẩu.
Trong quá trình hội nhập khu vực và thế giới, hoạt động kinh doanh quốc tế đã
trở nên phổ biến và góp phần không nhỏ trong việc phát huy lợi thế so sánh của
mỗi quốc gia.
Hoạt động kinh doanh quốc tế thường được thực hiện bằng nhiều hình thức
trong đó có hình thức xuất khẩu.
Trong cơ cấu hàng xuất khẩu hiện nay, gạo là một trong những mặt hàng có thế
mạnh của Việt Nam. Chiếm tỷ trọng lớn trong mặt hàng xuất khẩu và đưa Việt
Nam vươn lên vị trí thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo.
Song song với tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, tham gia vào tổ chức thương
mại WTO, ngành lúa gạo Việt Nam đang đứng trước những khó khăn và thách thức
lớn về chất lượng gạo và ổn định thị trường tiêu thụ. Điều kiện mới đặt ra những
yêu cầu tất yếu mà mọi khâu: “ sản xuất - chế biến – tiêu thụ” lúa gạo của nước ta
phải tiến hành quy trình liên kết đồng bộ. Trong đó tìm kiếm và mở rộng thị trường
tiêu thụ gạo xuất khẩu ra thị trường thế giới là vấn đề then chốt.
Để góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu gạo và nâng cao lợi thế cạnh tranh
của mặt hàng gạo trên thị trường thế giới, chúng ta phải có một cái nhìn toàn diện
về thực trạng thị trường xuất khẩu gạo của VN trên thị trường thế giới.
Xuất phát từ thực tế và nhận định trên, em đã chọn đề tài” thực trạng thị
trường xuất khẩu gạo của Việt Nam từ năm 2001đến nay.” Đây là giai đoạn
Việt Nam có nhiều chuyển biến mạnh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói
5. Phương pháp nghiên cứu.
-Phương pháp tổng hợp để đưa ra những lý luận khái quát về thị trường xuất
khẩu gạo.
- Phương pháp phân tích, đối chiếu so sánh, tổng hợp các số liệu thống kê và
tài liệu để làm sáng tỏ thực trạng thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam từ năm
2001 đến nay.
6. Đóng góp của đề tài.
-Phân tích đánh giá một cách toàn diện thực trạng thị trường xuất khẩu gạo
của Việt Nam từ năm 2001 đến nay.
7. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của đề tài gồm 3 chương.
Chương 1: Xuất khẩu gạo Việt Nam – cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Thực trạng thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam từ năm 2001 đến
nay.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh thị trường xuất khẩu gạo của Việt
Nam.
CHƯƠNG 1: Những vấn đề lý luận chung về xuất khẩu gạo ở Việt Nam
1.1 Khái niệm về xuất khẩu gạo.
Hoạt động xuất khẩu hàng hóa là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho một quốc
gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán . Tiền tệ ở đây có thể
dùng là ngoại tệ đối với một quốc gia hay đối với cả hai quốc gia.
Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của ngoại thương đã xuất hiện từ rất
lâu và ngày càng phát triển . Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực , mọi
điều kiện kinh tế từ xuất khẩu hàng hóa tiêu dùng cho đến hàng hóa tư liệu sản
xuất , từ máy móc thiết bị cho đến công nghệ kĩ thuật cao. Tất cả các hoạt động đó
đều nhằm mục tiêu là đem lại ngoại tệ cho các quốc gia .
1.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu gạo đối với nền kinh tế
- Xuất khẩu gạo mang lại ngoại tệ cho quốc gia, góp phần nhập khẩu nhằm phục
vụ cho công cuộc công nghiệp hóa đất nưóc
tham gia vào việc sản xuất và xuất khẩu các loại hàng hoá mà việc sản xuất ra
chúng ít bất lợi nhất (đó là những hàng hoá có lợi thế tương đối) và nhập khẩu
những hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng có những bất lợi hơn (đó là những hàng
hoá không có lợi thế tương đối). Vì vậy xuất khẩu còn tạo điều kiện mở rộng khả
năng tiêu dùng của một quốc gia.
Thông qua xuất khẩu gạo Việt Nam sẽ có điều kiện tham gia vào cuộc cạnh
tranh trên thị trường thế giới về giá cả và chất lượng. Cuộc cạnh tranh này có tác
dụng ngược trở lại buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải tổ chức, xem xét lại khâu
sản xuất, hình thành một cơ cấu sản xuất thích hợp, các doanh nghiệp cũng cần
phải nhìn lại chất lượng sản phẩm của mình để thích nghi với những biến động của
thị trường thế giới.
- Xuất khẩu gạo có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải
thiện đời sống nhân dân
+ Tác động của xuất khẩu gạo đến đời sống nông dân được thể hiện trên nhiều
phương diện. Một mặt sản xuất gạo là nơi thu hút nhiều lao động và việc làm có
thu nhập khá ổn định. Mặt khác xuất khẩu gạo tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu sản
phẩm tiêu dùng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng phong phú của nhân dân.
+ Khi thực hiện xuất khẩu một lượng mặt hàng gạo dư thừa trong thị trường nội địa
sẽ giải quyết lập lại cung cầu ở giá cao hơn. Nông dân không những bán được hàng
mà còn được giá. Từ những điều này mang lại cho nông dân thu nhập cao hơn và
đây chính là động lực thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển.
+ Ngoài ra thông qua xuât khẩu gạo chúng ta phần nào hiểu rõ hơn về yêu cầu của
thị trường quốc tế đối với mặt hàng gạo. Mối quan hệ giữa thị trường nước ngoài
và sản xuất trong nước được thực hiện qua xuất khẩu là cách tốt nhất để nâng cao
trình độ và hiệu quả của nền công nghiệp.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo
Trong xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa kinh tế, mọi quốc gia đều mở rộng
các mối quan hệ buôn bán với nhau để phát huy lợi thế so sánh của mình trong việc
sản xuất và xuất khẩu các loại hàng hóa nhằm thu lợi ích cao nhất để phát triển đất
nước. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển trong việc tạo
mua nhiều hơn khiến cho lượng cung không đáp ứng kịp thời và dẫn đến tình trạng
dư cầu. Sự dư cầu này tạo cơ hội cho nhà xuất khẩu nâng giá lên. Quá trình tăng
giá này sẽ dần dần làm giảm mức dư cầu và chỉ dừng lại khi mức giá đã tăng lên
đúng bằng mức giá cân bằng.
- Nhân tố về cơ sở vật chất – kỹ thuật và công nghệ của sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm
Các nhân tố về cơ sở vật chất – kĩ thuật là do hệ thống vận chuyển, kho tàng,
bến bãi, hệ thống thông tin liên lạc…Hệ thống này bảo đảm việc lưu thông nhanh
chóng kịp thời, đảm bảo cung cấp nguồn hàng một cách nhanh nhất, tiết kiệm thời
gian và chi phí lưu thông.
Các nhân tố về kĩ thuật, công nghệ sản xuất và tiêu thụ đặc biệt quan trọng
trong việc tăng khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường tiêu thụ gạo. Hệ thống chế
biến với công nghệ dây chuyền hiện đại sẽ góp phần tăng chất lượng và giá trị gạo.
- Chính sách kinh tế vĩ mô
• Chính sách áp thuế xuất khẩu gạo
Chính sách áp thuế xuất khẩu gạo là một biện pháp nhằm điều tiết sự chênh
lệch giữa giá xuất khẩu với giá thị trường trong nước nhằm bình ổn giá gạo nội địa
đồng thời đây còn là một công cụ tăng thu, góp phần làm giảm thâm hụt ngân sách.
Tuy nhiên việc áp thuế xuất khẩu gạo có thể sẽ không khuyến khích các doanh
nghiệp sản xuất và xuất khẩu các loại gạo cao cấp có giá trị đồng thời ảnh hưởng
tới lượng gạo xuất khẩu. Chính bởi vậy nên các doanh nghiệp sẽ rất khó khăn khi
quyết định kí kết những hợp đồng cung cấp gạo cao cấp với mức giá cao vì lợi
nhuận thu về sau khi trừ thuế cũng không đáng kể, thậm chí còn phải chịu lỗ do
các nguyên liệu, chi phí đầu vào của sản xuất lúa gạo tăng cao. Không những thế
mức thuế lũy tiến theo giá xuất khẩu càng làm cho mức chịu thuế cao lên cùng với
những lô gạo xuất khẩu có chất lượng tốt, giá thành cao. Như vậy, chính sách thuế
đã làm cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo bỏ lỡ cơ hội xâm nhập vào những thị
trường khó tính giá trị gia tăng cao, mất khách hàng, mất đi những dấu ấn thương
hiệu đang giai đoạn hình thành. Bên cạnh đó, chính các doanh nghiệp cũng ép giá
thu mua lúa gạo từ nông dân để tránh phải nộp thuế cao hơn, điều này gây ảnh
giống lúa mới cho năng suất cao, chất lượng đáp ứng nhu cầu thị trường; áp dụng
công nghệ sinh học chế biến, bảo quản sau thu hoạch, nâng cao giá trị, an toàn vệ
sinh thực phẩm của sản phẩm… đẩy mạnh xuất khẩu tới các thị trường cao cấp và
tiềm năng. Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ góp phần phát triển sản xuất
lúa gạo trên quy mô lớn, trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh và áp dụng các
công nghệ mới, công nghệ cao, để từ đó nâng cấp khả năng cạnh tranh của xuất
khẩu gạo khi tham gia hội nhập.
Với các dự án của các nhà đầu tư nước ngoài, nguồn vốn đầu tư sẽ góp phần
cải thiện công nghệ, kĩ thuật nông nghiệp nông thôn thông qua chuyển giao công
nghệ, khai thác thế mạnh của vùng, phát triển được các giống lúa đặc sản, vừa
nâng cao được giá trị của hạt gạo, lại tăng thêm giá trị xuất khẩu.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VN TỪ
NĂM 2001 ĐẾN NAY.
2.1. Tình hình xuất khẩu gạo của VN từ năm 2001 đến nay.
2.1.1.Về sản lượng, kim ngạch gạo xuất khẩu.
Công tác xuất khẩu gạo trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tích
đáng khích lệ. Qui mô xuất khẩu gạo ngày càng mở rộng với khối lượng và kim
ngạch tăng với tốc độ khá cao. Xét về cơ cấu ngành hàng xuất khẩu từ năm 2001
đến nay, bên cạnh một số sản phẩm nông sản mang tính truyền thống như lạc nhân,
hạt tiêu, cà phê, đỗ tương, gạo đã trở thành một mặt hàng nông sản mang về cho
đất nước một nguồn ngoại tệ xuất khẩu rất lớn. Tốc độ tăng trưởng về sản lượng và
kim ngạch xuất khẩu gạo không ngừng tăng lên.
Năm 2001 là năm đánh dấu nhiều bước khởi sắc cho Việt Nam xuất khẩu gạo
ra thị trường thế giới.Với sản lượng gạo xuất khẩu đạt 3,6 triệu tấn trị giá trên 6oo
triệu đô la. Đây là một thành công vì đã hoàn thành được nhiệm vụ cơ bản do
chính phủ đề ra, tiêu thụ hết thóc hàng hóa, chặn đà giảm sút của giá thóc gạo
trong nước.
Từ năm 2003 đến năm 2005, sản lượng lúa gạo xuất khẩu tiếp tục tăng. Tính
đến năm 2005, tổng sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước đạt 50,12 triệu tấn, thu
về 11,51 tỷ USD, bình quân mỗi năm tăng 13,55% về sản lượng và 14,55% về kim
mạnh cùng với lệnh tạm ngưng xuất khẩu gạo của một số nước đã đẩy giá gạo lên
mức kỉ lục. Do đó, lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam năm 2008 tăng không nhiều
nhưng kim ngạch xuất khẩu lại có bước nhảy vọt. Bên cạnh đó, thì do chất lượng
gạo xuất khẩu của Việt Nam đang dần được cải thiện vì thế giá gạo xuất khẩu cũng
từng bước tăng.
Theo thống kê của VFA, tính đến hết tháng 1/2011, lượng gạo các doanh nghiệp
Việt Nam đã ký hợp đồng xuất khẩu là hơn 1,5 triệu tấn, tăng 15,7% so với cùng
kỳ năm 2010. Số lượng hợp đồng đăng ký trong tháng 1 ở mức cao, chủ yếu là 2
hợp đồng tập trung với Malaysia và Indonesia, chiếm trên 300.000 tấn.
Xuất khẩu gạo tháng 1 của cả nước đạt trên 485.000 tấn, cao hơn dự kiến 350.000-
400.000 tấn. Đây là tháng đầu năm có số lượng giao hàng cao nhất từ trước đến
nay. Về trị giá cũng đạt ở mức cao do giá xuất khẩu bình quân tăng nhiều.
Trong tháng 2/2011, lượng gạo xuất khẩu cũng tăng do nguồn cung dồi dào vì các
tỉnh ĐBSCL đã bắt đầu thu hoạch lúa đông xuân sớm. VFA dự kiến xuất khẩu gạo
quý I sẽ đạt 1,6 triệu tấn; quý II có thể xuất 2,24 triệu tấn.
2.1.2. Về chất lượng gạo xuất khẩu
Chất lượng gạo trên thị trường thế giới được phân thành 5 loại dựa trên 9 tiêu
chí: tỷ lệ tấm, kích thước hạt, màu gạo, độ ẩm, mức độ đánh bóng, tỷ lệ amilaza, tỷ
lệ protein, nhiệt hóa, mùi thơm. Theo tiêu chí này, chất lượng gạo Việt Nam thuộc
loại thấp nhất so với thế giới. Dường như Việt Nam chỉ đạt được tiêu chuẩn thứ
nhất còn các tiêu chuẩn khác thì không mấy ai quan tâm.
Chất lượng gạo liên quan đến hàng loạt các yếu tố từ khâu sản xuất như đất
đai, nước tưới tiêu, phân bón, giống lúa, đến khâu bảo quản, vận chuyển và chế
biến nhưng tại Việt Nam hầu hết các khâu này đều thiếu và yếu.
Chất lượng gạo xuất khẩu thời gian qua cũng không ngừng được cải thiện, gạo
Việt Nam hiện nay đã có chỗ đứng, được chấp nhận trên thị trường thế giới. Nhờ
cải tiến đầu tư trong các khâu chế biến, gạo Việt Nam đã phần nào đáp ứng được
các yêu cầu của người tiêu dùng về chất lượng. Nếu xét trên một tiêu chí của phẩm
cấp là độ gãy (hay tỉ lệ tấm) có thể thấy phần nào phẩm cấp gạo của Việt Nam thời
gian qua như sau:
tiếp Việt Nam đã trúng thầu tổng cộng 28.000 tấn gạo (14.000 tấn/lần). Giá gạo
trung bình của đợt thầu này là trên 63.433 Yên/tấn (khoảng 528,6 USD/tấn). Lần
thứ 3 là 17.050 tấn với giá trung bình là 52.804 Yên/tấn (tương đương 459,16
USD/tấn). Các chuyên gia nhận định, chất lượng gạo Việt Nam ngày càng được
nâng cao với những yêu cầu và quy định khắt khe về an toàn vệ sinh thực phẩm
của Nhật Bản (đây là thị trường rất khó tính) đồng thời có giá cả phù hợp. Do vậy,
Việt Nam là một trong ba nước (cùng với Thái Lan và Mỹ) đã trúng thầu cung cấp
gạo sang thị trường Nhật Bản năm 2007 [22].Tuy nhiên chất lượng gạo Việt Nam
còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng tới sự tăng trưởng sản lượng và kim ngạch xuất
khẩu.
2.1.3. Giá gạo xuất khẩu.
Từ năm 2001-2003, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam lại ở mức khá thấp, đặc
biệt năm 2001 giá gạo hạ tới mức thấp nhất 167,53 USD/ tấn.
Nhưng sau đó giá gạo xuất khẩu của Việt Nam lại có sự phục hồi trở lại và
tăng dần qua các năm từ năm 2004 đến năm 2006
Nhìn chung thì giá gạo xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn này thường thấp hơn giá
gạo thế giới do chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của thị trường như
chủng loại.
Ngay sau khi gia nhập WTO, năm 2007 lần đầu tiên giá gạo của Việt Nam
vượt mốc 300 USD/tấn đối với hầu hết các loại gạo (gạo 5% tấm, 10% tấm, 15%
tấm). Đây cũng là lần đầu tiên giá gạo Việt Nam xuất khẩu ngang bằng với gạo
Thái Lan cùng cấp các loại, từ 5% tấm, 10%,15% đến 20% tấm, và có thời điểm,
giá gạo loại 25% tấm vượt cao hơn Thái Lan. Trong năm này Việt Nam đã trúng
thầu cung cấp 474000 tấn gạo loại 25% tấm cho Philippin và một gói thầu cung
cấp 14000 tấn gạo tẻ hạt dài cho thị trường Nhật Bản. Bên cạnh đó nhu cầu gạo ở
Trung Đông và Châu Phi tăng mạnh. Chính lượng cầu tăng mạnh trong khi nguồn
cung của thế giới tăng không nhiều đã làm cho giá gạo xuất khẩu của Việt Nam
luôn ở mức cao kể từ đầu năm. [20]
Năm 2008 là năm có nhiều biến động mạnh trong giá gạo xuất khẩu, có lúc
giá gạo của Việt Nam tăng lên tới 1050 USD/tấn. Giá gạo chia làm 2 xu hướng rõ
Lan, đây là một tín hiệu vui giúp cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo cũng như
người nông dân có nguồn vốn để tiếp tục sản xuất và xuất khẩu.
Hình 2.3. Giá gạo trắng Việt Nam so với Thái Lan từ năm 2003 đến tháng 3
năm 2010 ( USD/tấn)
Nguồn: Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO)
Tuy nhiên, giá xuất khẩu bình quân của 4 cường quốc còn lại so với giá bình
quân của thế giới thấp nhất cũng là trên 90%, cao nhất là gần 120% thì giá của
chúng ta chỉ đạt khoảng 80% giá bình quân của thế giới. Đó là giá bán thấp nhất
trong số 5 nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới là Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam,
Mỹ và Pakistan.
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), hiện nay giá gạo xuất khẩu của
Việt Nam đang tăng mạnh, loại 5% tấm có giá 490-505 USD/tấn, loại 25% tấm giá
khoảng 480 USD/tấn, tính đến cuối tháng 7, các doanh nghiệp đã xuất khẩu 4,619
triệu tấn gạo, trị giá 2,187 tỷ USD, giá xuất khẩu bình quân đạt 473,37 USD/tấn,
tăng 35,11 USD/tấn so với cùng kỳ năm trước.
2.2. Thực trạng thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam từ 2001 đến nay.
2.2.1. Cơ cấu thị trường xuất khẩu theo khu vực
Trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2006, thị trường xuất khẩu gạo của Việt
Nam ngày càng được mở rộng. Năm 2001, gạo Việt Nam mới xuất khẩu sang hơn
50 nước, và đến năm 2006 đã xuất khẩu đến hơn 60 thị trường và có mặt ở cả 5
châu lục. Trong đó Châu Á và Châu Phi là 2 thị trường nhập khẩu gạo lớn của Việt
Nam.
Hình 2.4. Tỷ trọng xuất khẩu gạo bình quân đến các châu lục giai đoạn 2001-
2006 (%)
Nguồn: Bộ thương mại, 2008
Giai đoạn 2001-2006, trung bình Châu Á chiếm 47% thị phần xuất khẩu gạo
của Việt Nam (Hình 2.2). Đứng vị trí thứ hai là châu Phi, trung bình chiếm hơn
25% thị phần xuất khẩu gạo của Việt Nam (Hình 2.2). Thị trường Châu Mỹ cũng
nhập khẩu một số lượng lớn gạo chiếm 9,68% thị phần xuất khẩu của Việt Nam.
Do khu vực này cũng là nơi sản xuất gạo với số lượng lớn để xuất khẩu, thêm nữa
nhất của Việt Nam. Theo Báo cáo thường niên ngành hàng gạo năm 2009 của Công
ty cổ phần Phân tích và Dự báo thị trường Việt Nam (AGROMONITOR), xuất
khẩu gạo sang các nước châu Á chiếm đến 61,68% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo
của Việt Nam (so với mức 58,8% của năm 2008). Tiếp đến là Châu Phi - chiếm đến
30% trong tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Còn lại các châu lục khác chỉ
chiếm 8,32% tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. [16]
Đến năm 2010 khu vực tỷ trọng xuất khẩu gạo vào các khu vực thay đổi
không đáng kể, châu Á chiếm 61,29% ; châu Phi chiếm 29,64%; Châu Mỹ chiếm
5,22%, châu Âu chiếm 3,33%; còn lại là thị trường châu Úc chiếm 0,52% tổng số
lượng xuất khẩu.
2.2.2. Cơ cấu thị trường theo quốc gia.
Năm 2003, cơ cấu thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam có sự thay đổi nhỏ.
Cuộc chiến tranh tại Irac khiến lượng gạo nhập khẩu từ Việt Nam vào nước này
giảm đáng kể. Tuy nhiên, với việc có thêm nhiều thị trường mới đã mở ra cũng
trong năm đó như Libang, Xiri, các nước Châu phi như Kenya, Senegal,…nên xuất
khẩu gạo của Việt Nam vẫn ở mức cao.
Năm 2006, Châu Á vẫn là thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam
với gần 1,43 triệu tấn, chiếm 76,7% tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Thị
trường Philipin chiếm vị trí số một với mức nhập khẩu 33% tổng lượng gạo xuất
khẩu của Việt Nam. Ngoài ra trong năm này Nhật Bản cũng được coi là một thị
trường tiềm năng của gạo Việt Nam với những cam kết nâng dần lượng gạo nhập
khẩu từ năm 2007 khoảng 150000 tấn đến 350000 nghìn tấn vào năm 2010. [4]
Trước khi gia nhập WTO gạo Việt Nam được xuất khẩu đến hơn 60 quốc gia
năm 2006 thì đến năm 2008, con số này đã tăng lên gấp đôi (128 quốc gia)
Cơ cấu thị trường xuất khẩu gạo năm 2008 của Việt Nam có sự thay đổi đặc
biệt trong việc xuất khẩu gạo sang thị trường Indonexia. Thực tế các năm trước
đây, cũng như năm 2007, Indonexia luôn là thị trường gạo xuất khẩu lớn nhất của
Việt Nam (chiếm 24% tổng lượng xuất khẩu), thì năm 2008, nước này đã giảm
mạnh lượng nhập khẩu gạo (chỉ chiếm hơn 1% tổng lượng gạo xuất khẩu) do đã có
thể tự đáp ứng được nhu cầu gạo tại thị trường trong nước. Thị trường nhập khẩu
với mức 50,8% của năm 2008). Trong đó, xuất khẩu gạo sang thị trường
Philippines chiếm hơn một nửa thị phần của toàn khu vực châu Á (chiếm tới 35%
trong tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2009). Theo đó, lượng gạo
mà Việt Nam xuất khẩu sang Philippines trong năm 2009 đạt gần 1,7 triệu tấn, trị
giá hơn 912 triệu USD.
Tiếp theo phải kể đến Malaysia, từ vị trí thứ ba trong năm 2008, đã vươn lên
đứng thứ hai với thị phần 9%, tương đương với lượng gạo nhập khẩu hơn 611
nghìn tấn, trị giá khoảng 271 triệu USD. Các quốc gia và lãnh thổ châu Á nằm
trong nhóm 10 thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam năm 2009 còn có
Singapore (329.000 tấn và 134 triệu USD ), Đông Timo (242.000 tấn và 97 triệu
USD), Đài Loan (203.000 tấn và 81 triệu USD) và Iraq (168.000 tấn và 68
triệuUSD ). [16]
Châu Á là thị trường xuất khẩu gạo chủ chốt của Việt Nam trong năm 2009
khi có tới sáu trong 10 thị trường có tốc độ tăng trưởng lớn nhất. Cụ thể, 10 thị
trường có kim ngạch nhập khẩu gạo từ Việt Nam trên 1 triệu đô la và có tốc độ
tăng trưởng kim ngạch lớn nhất năm 2009 bao gồm: Kiribati (tăng 10,608%),
Campuchia (tăng 2,516%), Li Băng (tăng 2,124%), Hồng Kông (tăng 758%), Mỹ
(tăng 714%), Nigeria (tăng 614%), Brunei (tăng 506%), Đài Loan (tăng 493%),
Trung Quốc (tăng 397%) và Fiji (tăng 365%). Đáng chú ý là Đài Loan từ vị trí thứ
23 trong bảng xếp hạng năm 2008 đã vươn lên đứng trong nhóm 10 thị trường xuất
khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam trong năm 2009. [16]
Đến năm 2010 Thị trường truyền thống chủ đạo của xuất khẩu gạo Việt Nam
vẫn là Philippines, Indonesia, Cu Ba, Malaysia và Đài Loan; trong đó, dẫn đầu về
lượng và kim ngạch trong năm 2010 là thị trường Philipines với 1,48 triệu tấn, trị
giá 947,38 triệu USD (chiếm 21,4% về lượng và chiếm 29,17% tổng kim ngạch);
thị trường Indonesia xếp vị trí thứ 2 với trên 687 nghìn tấn, trị giá 346,02 triệu
USD (chiếm 9,98% về lượng và chiếm 10,65% tổng kim ngạch); thứ 3 là
Singapore với 539,3 nghìn tấn, trị giá 227,79 triệu USD (chiếm 7,83% về lượng và