TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
TIỂU LUẬN
CÔNG TY CỔ PHẦN
VÀ CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ LIÊN QUAN TỚI
HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
LỜI MỞ ĐẦU
Xu thế phát triển nền kinh tế toàn cầu hóa đã và đang ảnh hưởng rất lớn đến
nền kinh tế của các quốc gia, đặc biệt nền kinh tế của các nước đang phát triển.
Việt Nam là một trong nh ững nền kinh tế đã và đang có tốc độ phát triển rất lớn,
vì vậy mức độ ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới tới Việt Nam là rất cao. Sau sự
kiện Việt Nam chính thức là thành viên của tổ chức kinh tế thế giới (WTO ngày
7/11/2006 ), nó đã mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách th ức đối
với các doanh nghiệp Việt Nam. Đây chính là bước ngoặc lớn đưa nước ta thật sự
bước vào thời kỳ hội nh ập cùng nền kinh tế thế giới đầy năng động.
Chính vì lẽ đó đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước cần phải trang bị cho
mình nhưng công cụ hữu hiệu nhất nh ằm đối phó với thế lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp nước ngoài. Xuất phát từ thực tế đó, nó đòi hỏi sự hình thành và
phát triển của các công ty tư nhân và cả doanh nghiệp nhà nước. Đặc biệt là việc
hình thành các công ty cổ phần (CTCP ) và vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp
Nhà nước (DNNN ) là tất y ếu đối với quá trình phát triển ngày càng mạnh mẽ
của nền kinh tế thị trường. Hình thức CTCP đã xuất hiện vào những năm cuối thế
kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, mà trước tiên là ở nước Anh sau đó là nước Pháp.
Trải qua quá trình phát triển của nền kinh tế, nhất là trong giai đoạn mà cuộc
Cách mạng công nghiệp diễn ra thì CTCP phát triển rất m ạnh mẽ. Đến những
năm đầu thế kỷ XX thì CTCP đã trở thành hình thức kinh doanh rất phổ biến ở
các nước có nền kinh tế th ị trường phát triển mạnh. Với Việt Nam chúng ta, từ
khi đất nước được thống nhất, do phải giải quy ết hậu quả nặng nề của chiến
tranh .
Mặt khác do cơ chế kinh tế và xuất phát điểm của chúng ta thấp. Chính vì
vậy, mà việc khôi phục nền kinh tế tuy đ ã đạt được nhiều thành công, song cũng
còn nhiều hạn chế. Do đó mà đại hội Đảng lần thứ VI (12/ 1986) đã đánh dấu sự
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong
phạm vi số vốn đã góp vào công ty;
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác,
trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết;
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và
không hạn chế số lượng tối đa.
- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh/Giấy chứng nhận đầu tư và có quyền phát hành chứng
khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
- Công ty cổ phần phải có Đại hội đồng cổ đông , Hội đồng quản trị và Giám
đốc (Tổng giám đốc). Đối với Công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có
Ban kiểm soát.
B. Cấu trúc vốn của công ty cổ phần
Công ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn. Cơ cấu tổ chức
bộ máy quản lý, những vấn đề quản lý nội bộ, quyền và nghĩa vụ của các cổ đông
được giải quyết chủ yếu dựa trên nguyên tắc đối vốn (nghĩa là dựa trên giá trị cổ
phần mà các cổ đông nắm giữ).
Mặt khác với cấu trúc vốn linh hoạt, khả năng chuyển cổ phần dễ dàng trên
thị trường làm cho Công ty cổ phần có phạm vi, quy mô kinh doanh lớn, số lượng
cổ đông đông đảo.
Khi tham gia vào Công ty cổ phần các cổ đông không quan tâm đến nhân
thân của nhau mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp. Cổ phần của công ty gồm: cổ
phần phổ thông và cổ phần ưu đãi. Sự đa dạng hóa các loại cổ phần với các
quyền và mức độ khác nhau cho phép Công ty cổ phần tạo lập được cấu trúc vốn
linh hoạt phù hợp với khả năng, yêu cầu phát triển cũng như yêu cầu quản lý
công ty.
Với tính chất đa sở hữu, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, cơ chế quản lý
trong Công ty cổ phần dựa trên sức mạnh kinh tế của các nhóm sở hữu trong
công ty. Trong cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý trong công ty có sự phân chia
- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị và đã kiểm soát
gây thiệt hại cho công ty và cổ đông công ty.
- Quyết định tổ chức lại và giải thể công ty.
- Sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty, trừ trường hợp điều chỉnh vốn điều lệ do
bán thêm cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần đuợc quyền chào bán quy định
tại điều lệ công ty.
- Thông qua báo cáo tài chính hàng năm.
- Thông qua định hướng phát triển của công ty quyết định bán số tài sản có
giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của
công ty.
- Quyết định mua lại hơn 10% tổng số cổ phần đã bán.
- Các quyền và nhiệm vụ khác quy định trong luật và điều lệ công ty.
Hội đồng quản trị : Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn
quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích,
quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ
đông .
Hội đồng quản trị không quá 11 thành viên, số lượng cụ thể ghi trong điều lệ
công ty. Hội đồng quản trị có các quyền và nhiệm vụ sau:
- Quyết định chiến lược phát triển công ty;
- Kiến nghị loại cổ phần và tỏng số cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần có
quyền chào bán, huy động vốn theo hình thức khác;
- Quyết định phương án đầu tư;
- Giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ, thông qua hợp đồng
mua bán, vay và cho vay và hợp đồng khác có giá trị từ 50% tổng giá trị tài sản
ghi trong sổ kế toán hoặc một tỷ lệ nhỏ hơn trong điều lệ công ty;
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cắt chức giám đốc và cán bộ quản lý quan trọng
khác của công ty, quyết định mức lương và lợi ích khác của các cán bộ quản lý
đó;
- Quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty, quyết định
thành lập công ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổ
khác;
- Theo dõi quá trình tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị ;
- Chủ tọa họp Đại hội đồng cổ đông ;
- Các quyền và nhiệm vụ khác quy định trong luật và điều lệ công ty.
Khi chủ tịch Hội đồng quản trị vắng mặt có thể ủy quyền cho thành viên
khác của Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng quản trị lựa chọn một người trong Hội
đồng tạm thời làm nhiệm vụ của Chủ tịch.
Giám đốc công ty: Giám đốc công ty là người điều hành hoạt động hàng
ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện
các quyền và nhiệm vụ được giao.
Giám đốc có các quyền và nhiệm vụ tương tự các quyền và nhiệm vụ tương
tự các quyền và nhiệm vụ của Giám đốc công ty TNHH, các quyền này tập trung
vào việc thực hiện các nhiệm vụ tác nghiệp, triển khai các phương án, quyết định
được thông qua Hội đồng quản trị và Đại hội đồng cổ đông. Giám đốc có thể làm
đại diện theo pháp luật của công ty nêu trong điều lệ công ty không quy định Chủ
tịch Hội đồng quản trị là đại diện theo pháp luật. Giám đốc Công ty cổ phần
không chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông mà trước Hội đồng quản trị ,
cơ quan quản lý trực tiếp của công ty. Việc chịu trách nhiệm trực tiếp của Hội
đồng quản trị tạo ra sự liên hệ chặt chẽ giữa cơ quan quyền lực cao nhất của công
ty và cơ quan điều hành công ty, không đặt giám đốc ở trong tình trạng luôn phải
trả lời chất vấn của bất kỳ cổ đông nào. Ngoài các nhiệm vụ được quy định trong
luật và điều lệ công ty, giám đốc công ty còn có thể có các quyền và nhiệm vụ
khác theo quyết định của Hội đồng quản trị . Điều này nêu bật sự liên quan và
phục tùng trực tiếp của giám đốc với Hội đồng quản trị .
Ban kiểm soát
Công ty cổ phần có từ 11 thành viên trở lên phải có ban kiểm soát. Ban kiểm
soát có số lượng từ 3 đến 5 người, trong đó có ít nhất một người có chuyên môn
là kế toán. Trưởng ban kiểm soát phải là cổ đông công ty, thành viên ban kiểm
soát có thể không là cổ đông của công ty.
Ban kiểm soát có các quyền và nhiệm vụ sau:
nghiệp tư nhân là một biểu hiện của sự quản lý độc đoán, thì Công ty cổ phần lại
là biểu hiện của sự dân chủ. Quyền lực ở đây không nằm trong tay một cá nhân
mà thuộc về Đại hội đồng cổ đông , thuộc về tập thể các thành viên trong Hội
đồng quản trị . Hội đồng quản trị thực hiện quyền lực của công ty theo những quy
chế nhất định.
Số lượng cổ đông của Công ty cổ phần thường rất lớn nên điều hành Công ty
cổ phần phức tạp hơn nhiều so với các loại hình công ty khác như: Công ty
TNHH, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân. Tính đa sở hữu cùng với một số
lượng lớn các cổ đông là một trong những tiền đề của sự tách bạch giữa sở hữu
và quản trị điều hành công ty. Công ty cổ phần là sự biểu hiện rõ nét nhất của mô
hình quản 3 cấp: Đại hội đồng cổ đông , Hội đồng quản trị và Ban điều hành
công ty. Mỗi cấp quản lý có nhiệm vụ và chức năng riêng biệt hoàn thiện bộ máy
quản trị công ty.
E. Quy mô hoạt động của Công ty cổ phần
Một trong những nguyên nhân ra đời của Công ty cổ phần là mục đích huy
động số lượng vốn lớn từ công chúng để thực hiện các công trình lớn có quy mô
lớn mà một hay vài nhà đầu tư theo cách cổ truyền không thể thực hiện được.
Việc tập hợp nguồn vốn to lớn từ công chúng thông qua việc phát hành cổ phiếu
và đưa các cổ đông thành chủ sở hữu công ty là một trong những đặc trưng của
Công ty cổ phần .
PHẦN 2: THÀNH LẬP CÔNG TY CỔ PHẦN
NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN CHÚ Ý
Việc thành lập doanh nghiêp là một quyết định quan trọng, và bạn đã tìm
hiểu kỹ về các vấn đề pháp lý liên quan, doanh nghiệp hiện tại gồm có các loại
hình: TNHH, cổ phần, DNTN, và Hợp danh.
Với loại hình công ty cổ phần và các vấn cần chú ý:
1. Điều kiện riêng khi thành lập công ty cổ phần
- Thành lập công ty cổ phần phải có tối thiểu 3 cổ đông sáng lập, không giới
hạn số lượng cổ đông tối đa
– Giám đốc/ Tổng giám đốc trong công ty cổ phần không là Giám đốc /Tổng
+ Phòng Đăng ký kinh doanh thụ lý hồ sơ, xin ý kiến của các cơ quan liên
quan (nếu cần) trong quá trình giải quyết.
+ Hoàn tất kết quả giải quyết hồ sơ và chuyển cho Bộ phận một cửa để trả
cho công dân, doanh nghiệp.
Bước 3: Trả kết quả giải quyết hồ sơ:
+ Công dân nhận kết quả giải quyết hồ sơ tại bộ phận “một cửa”.
PHẦN 3: CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ LIÊN QUAN
1/ Các Luật:
- Luật Doanh nghiệp 2005;
- Luật Đầu tư năm 2005;
2/ Các văn bản của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương:
- Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 về đăng ký doanh nghiệp;
- Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 hướng dẫn chi tiết thi
hành một số điều của Luật Doanh nghiệp;
- Nghị định số 05/2013/NĐ-CP ngày 09/01/2013 sửa đổi, bổ sung một số
điều quy định về thủ tục hành chính của Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày
15/4/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp;
- Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 về Chứng minh nhân dân;
Nghị định số 170/2007/NĐ-CP ngày 19/11/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 1999 của Chính phủ về
Chứng minh nhân dân.
- Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ Quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư;
- Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính Phủ về chuyển
đổi doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần;
- Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/07/2012 của Chính Phủ Quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chứng khoán và Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật chứng khoán
- Nghị định số 22/2006/NĐ-CP ngày 28/02/2006 của Chính phủ về tổ chức
hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng
động theo Luật Doanh nghiệp và hộ kinh doanh trên địa bàn TP Hà Nội.
- Quyết định 595/QĐ-KH&ĐT ngày 28/10/2010 của Sở KH&ĐT Hà Nội về
việc ban hành quy trình quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2008 tại Sở
KH&ĐT Hà Nội.
PHẦN 4: CÔNG TY CỔ PHẦN NHỮNG VƯỚNG MẮC TỪ PHÁP LÝ
Những bất cập trong quản trị điều hành DNNN đã được các chuyên gia “mổ
xẻ” rất nhiều. Tuy nhiên, vấn đề quản trị, điều hành trong các Cty cổ phần cũng
đang gặp nhiều vướng mắc pháp lý.
Luật DN 2005 ra đời được coi là “kim chỉ nam” để các loại hình DN hoạt
động. Không thể phủ nhận những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, những vướng
mắc từ thực tế đối với loại hình DN cổ phần lại bắt nguồn từ chính luật này.
Tổ chức bộ máy quản trị
Quy định về căn cứ và thời điểm xác lập tư cách cổ đông của Luật doanh
nghiệp (LDN) không thực tế. Về bản chất, tư cách cổ đông gắn liền với số cổ
phần mà cá nhân, pháp nhân sở hữu (đã góp vốn cổ phần do Cty phát hành hoặc
nhận chuyển nhượng cổ phần từ các cổ đông khác). Điều 87.3 LDN 2005 quy
định: “Cổ phần được coi là đã bán khi được thanh toán đủ và những thông tin về
người mua quy định tại khoản 2 Điều 86 của luật này được ghi đúng, ghi đủ vào
sổ đăng ký cổ đông; kể từ thời điểm đó, người mua cổ phần trở thành cổ đông
của Cty”.
Tuy nhiên, chúng tôi xin đặt ra các vấn đề vướng mắc cần được pháp luật
quy định rõ như sau:
Thứ nhất, người đã góp vốn cổ phần (có phiếu thu do CTCP phát hành),
nhưng chưa được đăng ký vào Sổ đăng ký cổ đông thì có tư cách cổ đông hay
không ? Việc ghi thông tin (bao gồm cả sửa chữa thông tin) tại Sổ đăng ký cổ
đông là sự đăng ký mang tính thủ tục hay là điều kiện nội dung của tư cách cổ
đông? Tư cách cổ đông do nhận chuyển nhượng cổ phần: Hợp đồng chuyển
nhượng cổ phần có buộc phải có xác nhận của Cty không? Việc Hợp đồng
chuyển nhượng được ký kết nhưng chưa đăng ký tại Sổ đăng ký cổ đông đã có
hiệu lực hay chưa? Giá trị pháp lý của việc Cty xác nhận Hợp đồng chuyển
gia HĐQT từ chức, chuyển công tác, hoặc cổ đông pháp nhân mong muốn cử
người đại diện uỷ quyền khác thay người đại diện uỷ quyền đang tham gia thành
viên HĐQT….
Thứ 4, không có cơ sở pháp lý để áp dụng phương thức bầu dồn phiếu trong
việc bãi, miễn, bầu bổ sung thành viên HĐQT, BKS.
Phương thức bầu dồn phiếu đã được Điều 104.3.c Luật DN quy định áp
dụng cho việc bầu thành viên HĐQT và thành viên BKS. Phương thức này bảo
đảm cho hiệu lực của tất cả các phiếu bầu của cổ đông, mỗi phiếu bầu chỉ có hiệu
lực bầu cho một ứng viên. Điều 96.2.b quy định thẩm quyền của ĐHĐCĐ bãi,
miễn, bầu bổ sung thành viên HĐQT. Tuy nhiên Luật DN không có quy định để
áp dụng phương thức bầu dồn phiếu khi bãi, miễn, bầu bổ sung thành viên
HĐQT, cho nên không thể xác định được những cổ đông nào có quyền bỏ phiếu
bãi miễn và bầu bổ sung thành viên HĐQT để bảo đảm quyền lợi công bằng cho
mọi cổ đông: trước đây cổ đông A bỏ phiếu bầu thành viên HĐQT cho ứng cử
viên B, nay cổ đông A có thể bỏ phiếu bãi, miễn tư cách thành viên HĐQT của M
hay không ?
Một vấn đề khác là Luật DN không quy định thủ tục để chấm dứt tư cách
thành viên HĐQT trong tất cả các trường hợp đã được liệt kê nên không thể áp
dụng thống nhất trên thực tế. Chẳng hạn, trường hợp thành viên HĐQT không
tham gia các hoạt động của HĐQT trong 6 tháng liên tục. Đây là trường hợp
đương nhiên phải chấm dứt tư cách thành viên HĐQT hay phải có sự bỏ phiếu
của ĐHĐCĐ? Bằng cách nào để tính sự hoạt động liên tục 6 tháng của thành viên
HĐQT.
Thứ 5, Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC về quản trị CTCP niêm yết cho
phép HĐQT bổ nhiệm thành viên HĐQT tạm thời thay thế có trái Luật DN
không? Quyết định này quy định cho HĐQT thẩm quyền có thể bổ nhiệm thành
viên HĐQT thay thế trong trường hợp một thành viên bị mất tư cách thành viên
theo quy định của pháp luật và Điều lệ Cty, bị cách chức hoặc vì một lý do nào
đó không thể tiếp tục làm thành viên HĐQT. Việc thay thế thành viên HĐQT
trong trường hợp này phải được biểu quyết thông qua tại cuộc họp gần nhất của
phạm vi số vốn đã góp (Điều 77).
Luật DN hiện không có quy định cụ thể về điều kiện trả cổ tức cho cổ phần
ưu đãi cổ tức và điều kiện hoàn lại phần vốn góp cho cổ phần ưu đãi hoàn lại: Cổ
đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức được hưởng cổ tức với mức cao hơn so với
mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm. Cổ tức được chia
hằng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng. Cổ tức cố định không phụ thuộc
vào kết quả kinh doanh của Cty. Vậy khi Cty CP đang kinh doanh thua lỗ thì có
được thanh toán cổ tức cho cổ phần ưu đãi không? Pháp luật không có quy định
rõ.
Về cổ phần ưu đãi hoàn lại, cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại có
quyền yêu cầu Cty hoàn lại vốn góp bất cứ khi nào theo các điều kiện được ghi
tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại. Vậy, khi Cty CP bị mất khả năng thanh
toán nợ, có được hoàn lại vốn cho cổ phần ưu đãi hoàn lại khi không đủ tài sản để
trả nợ không? Pháp luật không có quy định rõ.
Vì thế, theo tôi, Điều lệ Cty cần quy định để giải quyết vấn đề này theo
nguyên lý chung, tránh phát sinh các tranh chấp.
Đặc biệt, quyền ưu tiên mua cổ phần của Cổ đông hiện hữu chưa được Luật
DN quy định rõ tại Điều 87.2 mới chỉ quy định quyền ưu tiên mua cổ phần do
Cty CP phát hành thuộc về các cổ đông hiện hữu trong trường hợp phát hành
thêm cổ phần phổ thông và chào bán số cổ phần đó. Trường hợp này xảy ra khi
Cty CP đăng ký tăng vốn điều lệ và phát hành thêm cổ phần để huy động cho vốn
cho phần vốn điều lệ tăng thêm đó.
Vấn đề đặt ra là CĐ sáng lập có quyền ưu tiên mua cổ phần thuộc số cổ
phần được quyền chào bán hay không trong trường hợp khi thành lập các CĐ
sáng lập đã không đăng ký góp 100% vốn điều lệ; Cty CP chào bán cổ phần được
quyền chào bán cũ trước đây chưa bán được (vốn điều lệ chưa huy động đủ
100%) thì các cổ đông hiện hữu có quyền ưu tiên mua hay không? Thiết nghĩ,
Điều lệ Cty cần quy định để giải quyết vấn đề này theo nguyên lý chung, tránh
phát sinh các tranh chấp.
Điều kiến nhiều DN đang xảy ra tranh chấp là Luật DN không quy định rõ