luận văn tốt nghiệp thành lập quỹ bảo hiểm xã hội thành phần ở bảo hiểm xã hội việt nam - Pdf 15

ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
- - - [  \ - - -

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Thành lập quỹ Bảo hiểm xã hội thành phần ở
Bảo hiểm xã hội Việt Nam Giáo viên hướng dẫn: NGUYỄN VĂN ĐỊNH

3

LỜI NÓI ĐẦU

Nền kinh tế nước ta mới chuyển đổi và đang có những bước phát triển mới.

4
Chương I: Những vấn đề cơ bản về Bảo hiểm xã hội và quỹ Bảo hiểm xã
hội
Chương II: Thực trạng tổ chức quỹ Bảo hiểm xã hội ở Việt nam hiện nay.
Chương III: Thành lập quỹ Bảo hiểm xã hội thành phần ở Bảo hiểm xã
hội Việt nam.
Việc thành lập quỹ bảo hiểm xã hội thành phần ở Việt nam hi
ện nay là một
vấn đề lớn và hết sức mới mẻ. Hơn nữa, mặc dù rất tâm huyết với đề tài song do
hạn chế về thời gian cũng như năng lực, do đó đã không tránh khỏi những thiếu
xót. Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và
những ai quan tâm đến đề tài.
Để hoàn thành bài luận, em đã được sự giúp đỡ tận tình của Ban lãnh đạ
o bảo
hiểm xã hội Tỉnh Sơn La cũng như tập thể cán bộ công nhân viên tại cơ quan. Em
xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo và các cô chú cán bộ công tác tại Bảo hiểm
xã hội tỉnh Sơn La đã giúp em hoàn thành nhiệm vụ trong giai đoạn thực tập và
nghiên cứu tại Bảo hiểm xã hội Tỉnh Sơn La.
Cũng qua đây, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo, TS Nguyễn
Văn Định- tr
ưởng bộ môn Kinh tế bảo hiểm, Đại học Kinh tế Quốc dân-Hà nội đã
tận tình hướng dẫn em trong quá trình thực tập và hoàn thành luận văn.
lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện một số
nhu cầu mới như: cần được
khám chữa bệnh khi ốm đau, tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc
nuôi dưỡng Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội
loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như:
San sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng; Đi vay, đi xin hay d
ựa vào sự
cứu trợ của nhà nước song đó là những cách làm thụ động và không chắc chắn.

6
Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổ
biến. Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã phải cam
kết cả việc bảo đảm cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang
trải những nhu cầu thiết yếu khi không may bị ốm đau, tai nạn Trong thực tế,
nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra và ngườ
i chủ không phải chi ra một
đồng nào. Nhưng cũng có khi sảy ra dồn dập buộc họ phải bỏ ra một lúc nhiều
khoản tiền lớn mà họ không mong muốn. Vì thế mâu thuẫn chủ- thợ phát sinh,
giới thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ thực hiện cam kết. Cuộc đấu tranh ngày
càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội. Do vậy Nhà
nước
đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn. Sự can thiệp này một mặt
làm tăng được vai trò của nhà nước, mặt khác buộc cả giới chủ và giới thợ phải
đóng một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở
xác suất rủi ro sảy ra đối với người làm thuê. Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ
hình thành một qu
ỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Quỹ này còn được bổ
xung từ ngân sách nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao
động khi họ gặp phải những biến cố bất lợi.
Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao

ph
ần đảm bảo an toàn xã hội.
b, Đối tượng của bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là một hệ thống bảo đảm khoản thu nhập bị giảm hoặc mất
đi do người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm vì các
nguyên nhân như ốm đau, tai nạn, già yếu Chính vì vậy, đối tượng của bảo hiểm
xã hội chính là thu nhậ
p của người lao động bị biến động giảm hoặc mất đi của
những người tham gia bảo hiểm xã hội.
Chúng ta cũng cần phân biệt giữa đối tượng của bảo hiểm xã hội và đối
tượng tham gia bảo hiểm xã hội, ở đây đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội chính
là những người lao động đứng trước nguy cơ mất an toàn về thu nhập và cả nh
ững
người sử dụng lao động bị ràng buộc trách nhiệm trong quan hệ thuê mướn lao
động.
c, Chức năng của Bảo hiểm xã hội
 Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập bị giảm của người lao động tham
gia bảo hiểm xã hội. Sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra, vì
suy cho cùng, mất khả năng lao động sẽ đến v
ới tất cả mọi người lao động khi hết
tuổi lao động theo các điều kiện quy định của bảo hiểm xã hội. Còn mất việc làm
và mất khả năng lao động tạm thời làm giảm hoặc mất thu nhập, người lao động
cũng sẽ được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội với mức hưởng phụ thuộc vào các
điều kiện cần thi
ết. Đây là chức năng cơ bản nhất của bảo hiểm xã hội, nó quyết
định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của bảo hiểm xã hội.

8
 Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia
bảo hiểm xã hội. Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ nhiều nguồn: Người lao

n xuất ổn định, kinh tế, chính trị và xã hội được bình ổn
và không ngừng phát triển.
3.Tính chất của Bảo hiểm xã hội
 Tính tất yếu, khách quan trong đời sống xã hội:
Chúng ta biết rằng bảo hiểm xã hội ra đời do xuất hiện những mâu thuẫn
trong hệ chủ-thợ. Người lao động trong quá trình lao động khó có thể tránh được
những biến cố, rủi ro, có những trường hợp rủ
i ro xảy ra như là một tất yếu. Khi
đó người sử dụng lao động cũng rơi vào tình trạng khó khăn bởi sự gián đoạn

9
trong sản xuất kinh doanh. Khi nền sản xuất càng phát triển thì những rủi ro trong
lao động càng nhiều và trở lên phức tạp dẫn đến mối quan hệ chủ-thợ ngày càng
căng thẳng và nhà nước phải đứng ra can thiệp thông qua bảo hiểm xã hội. Do đó,
Bảo hiểm xã hội hoàn toàn mang tính khách quan trong đời sống kinh tế xã hội
của mỗi nước.
 Tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và không gian:
Xuất phát từ nhữ
ng rủi ro mang tính ngẫu nhiên không lường trước được, khó có
thể xác định được khi nào thì người lao động gặp rủi ro trong lao động và cũng
không phải tất cả những người lao động đều gặp rủi ro vào cùng một thời điểm.
Tính chất này thể hiện bản chất của bảo hiểm là lấy số đông bù số ít.
 Bảo hiểm xã hội vừa có tính kinh tế, vừa có tính dịch vụ:
Xét dưới góc độ kinh tế, cả người lao động và người sử dụng lao động đều
được lợi khi không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để trang trải cho những người
lao động khi họ bị mất hoặc gảm thu nhập. Với nhà nước, bảo hiểm xã hội góp
phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách, đồng thời quỹ bảo hiểm xã hội còn là
nguồn đầu tư đáng kể
cho nền kinh tế quốc dân. Ngoài ra bảo hiểm xã hội còn
mang tính dịch vụ trong lĩnh vực tài chính bằng các hình thức phân phối và phân

7. Trợ cấp thai sản.
8. Trợ cấp tàn tật.
9. Trợ cấp mất người nuôi dưỡng.
Ở từng nước, tuỳ theo điều kiện có thể thực hiện có thể thực hiện một số chế
độ cơ bản hoặc mở rộng. Tuy nhiên, ILO quy định rằng các thành viên phê chuẩn
công ước phải thực hiện ít nhất 3 trong 9 chế độ nêu trên, trong đó phải có ít nhất
một trong các chế độ 3, 4, 5, 8 hoặc 9. Các chế độ bảo hiểm xã hội hiện nay ở Việt
nam bao gồm:
1.Trợ c
ấp ốm đau.
2.Trợ cấp thai sản.
1. Trợ cấp tai nạn lao động_ bệnh nghề nghiệp.
2. Trợ cấp hưu trí.
3. Trợ cấp tử tuất.
Ngoài ra ở Châu
Âu, các thành viên của cộng đồng châu âu đã ký một đạo
luật gọi là Đạo luật Châu
Âu về bảo hiểm xã hội. Đạo luật này về cơ bản tương tự
như công ước 102 nhưng ở mức độ cao hơn và những điều kiện chặt chẽ hơn, phù
hợp với trình độ phát triển kinh tế và xã hội của các nước thuộc cộng đồng châu
Âu.
5. Những quan điểm cơ bản về bảo hiểm xã hội

11
a, Mọi người lao động đứng trước nguy cơ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị
giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm đều có quyền tham
gia bảo hiểm xã hội
Bởi vì bảo hiểm xã hội ra đời là để phục vụ quyền lợi của người lao động và
mọi người lao động ở mọi ngành nghề thuộc mọ
i thành phần kinh tế khác nhau

thành quỹ bảo hiểm xã hội độc lập, tập trung
Nhờ sự đóng góp của các bên tham gia mà phương thức riêng có của bảo
hiểm xã hội là dàn trải rủi ro theo nhiều chiều, tạo điều kiện để phân phối lại thu
nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang mới
được thực hiện. Hơn nữa, nó còn tạo

12
ra mối liên hệ ràng buộc chặt chẽ giữa quyền lợi và trách nhiệm của mỗi bên tham
gia, góp phần tránh những hiện tượng tiêu cực như lợi dụng chế độ bảo hiểm xã
hội.
d, Phải lấy số đông bù số ít
Bảo hiểm nói chung hoạt động trên cơ sở xác suất rủi ro theo quy luật số
lớn, tức là lấy sự đóng góp của số đông ng
ười tham gia san xẻ cho số ít người
không may gặp rủi ro.
Trong số đông người tham gia đóng góp bảo hiểm xã hội, chỉ những người
lao động mới là đối tượng hưởng trợ cấp và trong số những người lao động lại chỉ
có những người bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hay tuổi già có đủ các điều
kiện cần thiết mới được hưởng trợ c
ấp bảo hiểm xã hội.
e, Phải kết hợp hài hoà các lợi ích, các khả năng và phương thức đáp ứng nhu
cầu bảo hiểm xã hội
Việc xác định lợi ích của các bên tham gia bảo hiểm xã hội thì đã được làm
rõ và quyền lợi luôn đi đôi với trách nhiệm, điều đó đòi hỏi phải có một sự cân đối
giữa trách nhiệm và quyền lợi của mỗi bên tham gia, ngh
ĩa là xác định mức đóng
góp của mỗi bên tham gia phù hợp với lợi ích mà họ nhận được từ việc tham gia
đó. Việc thực hiện bảo hiểm xã hội cho người lao động sẽ không được thực hiện
nếu như gánh nặng thuộc về bất cứ bên nào làm triệt tiêu đi lợi ích mà họ đáng
được hưởng.

kiện về kinh tế xã hội, trình độ quản lý của nhà nước hay sự hoàn chỉnh của nền
pháp chế mỗi quốc gia. Việc thực hiện toàn bộ 9 chế độ trong công ước 102 của
ILO là mong muốn và mục tiêu phấn đấu của mỗi quốc gia, song không phải quốc
gia nào cũng thực hiện được do sự hạn chế về nhiều mặt. Khi xã h
ội đã đạt tới một
bước phát triển mới làm nảy sinh những vấn đề mà hệ thống bảo hiểm xã hội hiện
thời không còn phù hợp thì yêu cầu đặt ra là sự đổi mới hệ thống bảo hiểm xã hội
( Cơ cấu các bộ phận của hệ thống, số lượng và cơ cấu các chế độ trợ cấp, mức
đóng phí ) cho phù hợp với s
ự phát triển chung của toàn xã hội.
II. BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1. Giai đoạn 1945- 1959
a, Văn bản pháp quy quy định
Sau Cách mạng tháng 8-1945 Nhà nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà ra đời
và mặc dù đang phải giải quyết trăm công ngàn việc quan trọng mang tính sống
còn của đất nước nhưng Đảng và Nhà nước vẫn quan tâm đến công tác bảo hiểm
xã hội đối với công nhân viên chức khi ốm đau, thai sản, TNLĐ, tuổi già và tử
tuất.
 Tháng 12-1946 Quốc hội đã thông qua Hiến pháp đầ
u tiên của Nhà nước
dân chủ nhân dân. Trong Hiến pháp có xác định quyền được trợ cấp của người tàn
tật và người già.
 Ngày 12-3-1947 Chủ tịch nước Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 29/SL quy
định chế độ trợ cấp cho công nhân.

14
 Ngày 20-5-1950 Hồ chủ tịch ký hai Sắc lệnh số 76, 77 quy định thực hiện
các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí cho cán bộ, công nhân viên
chức.
b, Đặc điểm của chính sách bảo hiểm xã hội

đau, thai sản.

15
- Chính sách BHXH đã góp phần ổn định đời sống của cán bộ, công nhân viên
chức góp phần xây dựng xã hội nhân văn, tiến bộ và góp phần vào sự nghiệp đấu
tranh giải phóng đất nước.
- Do hoàn cảnh của đất nước thời kỳ nay nền kinh tế còn kém phát triển và nhà
nước thực hiện quản lý kinh tế xã hội theo cơ chế bao cấp nên việc thực hiện
BHXH còn rất hạn h
ẹp ( mới chỉ thực hiện được với công nhân viên chức nhà
nước) và nguồn tài chính chủ yếu để thực hiện trợ cấp các chế độ BHXH là do
NSNN bảo đảm.
3. Giai đoạn 1995 đến nay
a, Văn bản pháp quy quy định
- Để thực hiện BHXH đối với người làm công ăn lương và phát triển các hình
thức BHXH khác, ngay 23-6-1994 Quốc hội đã thông qua Bộ luật lao động trong
đó có một chương quy định v
ề BHXH .
- Ngày 26-01-1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 12/CP kèm theo Điều
lệ Bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức và người lao động.
- Ngày 15-7-1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 45/CP kèm theo Điều lệ
Bảo hiểm xã hội đối với quân nhân trong lực lượng vũ trang.
Nội dung cơ bản của những văn bản pháp quy này:
1, Từng bước mở rộng đối tượng tham gia BHXH bằng hình thứ
c kết hợp bắt
buộc và tự nguyện đối với người lao động trong mọi thành phần kinh tế.
2, Hệ thống các chế độ trợ cấp BHXH gồm: ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động- bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất.
3, Hình thành quỹ BHXH độc lập, nằm ngoài NSNN. Quỹ BHXH hình thành
chủ yếu từ 3 nguồn: Nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động.

lao động và để thực hiện chức năng này, đến lượt nó, BHXH phải tự bảo vệ mình
trước nguy cơ mất an toàn về tài chính. Để tạo sự an toàn này, về nguyên tắc tổng
số tiền hình thành nên quỹ phải bằng tổng số tiền chi ra từ quỹ. Tuy nhiên, không
phải cứ đồng tiền nào vào quỹ là được dùng để
chi trả ngay ( nếu vậy đã không
tồn tại cái gọi là quỹ BHXH ) mà phải sau một khoảng thời gian nhất định, đôi khi
tương đối dài ( như đối với chế độ hưu trí ) số tiền ấy mới được chi ra, cùng thời
gian ấy đồng tiền luôn biến động và có thể bị giảm giá trị do lạm phát, điều này
đặt ra yêu cầu quỹ BHXH không chỉ phải bảo đảm về
mặt số lượng mà còn phải
bảo toàn về mặt giá trị. Điều đó lý giải tại sao trong điều 40 Điều lệ BHXH nước
ta quy định “ Quỹ bảo hiểm xã hội được thực hiện các biện pháp để bảo tồn giá trị
và tăng trưởng theo quy định của chính phủ ”.
 Tính tích luỹ.

17
Quỹ BHXH là “ của để dành ” của người lao động phòng khi ốm đau, tuổi
già và đó là công sức đóng góp của cả quá trình lao động của người lao động.
Trong quỹ BHXH luôn tồn tại một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi ở một thời điểm
hiện tại để chi trả trong tương lai, khi người lao động có đủ các điều kiện cần thiết
để được hưởng tr
ợ cấp ( chẳng hạn như về thời gian và mức độ đóng góp BHXH
). Số lượng tiền trong quỹ có thể được tăng lên bởi sự đóng góp đều đặn của các
bên tham gia và bởi thực hiện các biện pháp tăng trưởng quỹ.
 Quỹ BHXH vừa mang tính hoàn trả vừa mang tính không hoàn trả.
Tính hoàn trả thể hiện ở chỗ, mục đích của việc thiết lập quỹ BHXH là để

chi trả trợ cấp cho người lao động khi họ không may gặp các rủi ro dẫn đến mất
hay giảm thhu nhập. Do đó, người lao động là đối tượng đóng góp đồng thời cũng
là đối tượng nhận trợ cấp. Tuy nhiên, thời gian, chế độ và mức trợ cấp của mỗi

Cách phân loại này giúp chúng ta có thể cân đối giữa mức hưởng và mức đóng
góp đối với từng chế độ.
c, Theo đối tượng quản lý, có:
 Quỹ BHXH cho công chức nhà nước.
 Quỹ BHXH lực lượng vũ trang.
 Quỹ BHXH cho nông đân.


Ở mỗi nước, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể mà có thể thành lập quỹ bảo
hiểm xã hội phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, trình độ quản lý nhà nước
Thông thường, khi mới thực hiện BHXH các nước thành lập một quỹ chung nhất
cho mọi người lao động do: Trình độ tổ chức và quản lý còn hạn chế, đối tượng
BHXH còn hạn hẹp và các chế
độ bảo hiểm xã hội còn ít ( một vài chế độ ).
Nhưng khi nền kinh tế phát triển đến một mức độ nhất định, trình độ quản lý được
nâng cao, đối tượng tham gia ngày càng lớn thì xuất hiện những bất cập mà đòi
hỏi phải thành lập ra các quỹ BHXH thành phần.
Ở Việt nam, nên chăng chúng ta cũng thành lập ra các quỹ BHXH thành
phần và thành lập theo cách nào là tốt nhất. Việc thành lập theo cách tiếp cận thứ
hai và thứ ba đối với Việt nam trong điều kiện hiện nay dường như không thích
hợp vì như thế sẽ đẫn tới tình trạng quá phân tán nguồn đóng góp của các đối
tượng tham gia bảo hiểm xã hội ( theo cách tiếp cận thứ hai chúng ta phải thành
lập ra 5 quỹ BHXH tương ứng vớ
i 5 chế độ BHXH hiện hành và theo cách tiếp
cận thứ ba thì ít nhất cũng phải thành lập ra không dưới 5 quỹ BHXH). Trong điều
kiện hiện nay, chúng ta nên thành lập ra các quỹ BHXH thành phần theo cách tiếp
cận thứ nhất là hợp lý hơn cả và những lý do sẽ được trình bày ở phần sau.
3. Tạo nguồn
a, Đối tượng tham gia và đóng góp.
Những câu hỏi cơ bản nhất liên quan đến tài chính BHXH là: Ai đóng góp,

qua như trường hợp của các nông dân, ngư dân, người tự lao động (
làm tư).
Ở các nước khác, một số nằm ngoài đã được cho phép tham gia vào
chương trình trên cơ sở tự nguyện.
b, Phương thức đóng góp
 Đóng góp theo mức cố định:
Đối tượng tham gia đóng một mức cố định không phụ thuộc vào mức thu
nhập của họ, mặc dù vậy vẫn có có thể có những tỷ lệ đóng góp khác nhau ( ví dụ
tỷ lệ đóng góp của người trẻ khác với c
ủa người già, của nam khác với nữ )
nhưng trong phạm vi một nhóm người thì mức đóng góp sẽ như nhau và không
gắn với thu nhập của họ và khi đó mức hưởng cũng sẽ là một khoản được ấn định
trước.

20
 Đóng góp gắn với thu nhập:
Theo phương thức này, mức đóng góp sẽ gắn với thu nhập của từng cá nhân
và được ấn định bằng cách sử dụng cách tính phần trăm đơn giản so với thu nhập,
khi hưởng trợ cấp thì mức trợ cấp cũng được căn cứ vào mức thu nhập khi còn
làm việc của người lao động. Phương thức này được áp dụng phổ bi
ến nhất trên
thế giới.
 Đóng góp theo nhóm tiền công:
Trong từng nhóm tiền công có các mức tiền công và đối với mỗi mức tiền
công sẽ có một mức đóng góp tương ứng theo mức độ luỹ tiến. Nhóm tiền công
cũng có thể được sử dụng như là một công cụ thúc đẩy việc phân phối lại nguồn
quỹ giữa các thành viên.
 Đóng góp theo tỷ lệ đặc biệt:
Một số nước dựa vào mức đóng góp theo một tỷ lệ đặc biệt dựa vào sự khác
biệt giữa các công việc của người lao động. Chẳng hạn trong chế độ bảo hiểm tai

trữ quốc gia ở các nước Malayxia và Singapore lại là những ví dụ điển hình
về hệ thống bảo hiểm có mức đóng góp xác định.
Nhiệm vụ của những người chịu trách nhiệm thực hiện là phải xác định được
chính xác những khoản chi phí chính đáng trong tương lai sẽ chi ra từ
quỹ nhưng
điều đó dường như không thể bởi những thay đổi không tiên đoán trước được sẽ
xảy ra. Do những ước tính là không thể thực hiện được nên khi xác định mức
đóng góp người ta phải xác định thêm một lượng đủ để dự trữ cho các sự cố phát
sinh làm tăng thêm các chi phí trong tương lai. Hơn nữa, việc xác định mức trợ
cấp lại không hoàn toàn mang tính kỹ thuật mà còn liên quan đế
n nhiều vấn đề
kinh tế xã hội ( nghĩa là việc xác định mối quan hệ giữa đóng và hưởng chỉ mang
tính chất tương đối ).
Khi xác định mức đóng góp BHXH phải đảm bảo nguyên tắc:
- Phải cân bằng Thu - Chi.
- Lấy số đông bù số ít.
- Có dự phòng.
Khoản tiền đóng góp của những người tham gia BHXH cho quỹ BHXH được
gọi là phí BHXH :
Ptp = Ptt + Phc + Pdp
Trong đó: Ptp: phí toàn phần.
Ptt: phí thuần tuý.
Phc: chi phí hành chính.
Pdp: phần an toàn.
 Phí thuần tuý được dùng để chi trả trợ cấp các chế độ BHXH và đó là phần
mà những người lao động tham gia BHXH sẽ được nhận khi họ có đủ các điều
kiện hưởng trợ cấp. Đây là phần chiếm tỷ trọng lớn nhất trong quỹ BHXH việc
xác định phí thuần tuý liên quan trực tiếp đến mức trợ cấp BHXH. Thông thườ
ng,


Philippin Bù thiếu 2,85 9,25 6,85 8,05
Malaixia Chi toàn bộ
chế độ ốm
đau, thai sản
9,5 12,75
Nguồn: BHXH ở một số nước trên thế giới.
4. Sử dụng nguồn
a, Điều kiện hưởng trợ cấp

23
Như đã nêu, không phải tất cả những người tham gia đều được nhận trợ cấp và
không phải ai cũng nhận được một khoản trợ cấp như nhau mà chỉ khi họ thực sự
bị mất hay giảm thu nhập. Nghĩa là họ gặp phải các rủi ro trong quá trình lao động
và trong cuộc sống. Các rủi ro này có thể là:
- Theo nguyên nhân:
+ Những rủi ro thể chất: Làm giảm hoặc mất thu nh
ập từ nghề nghiệp do
những nguyên nhân nghề ngiệp như bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp hoặc
không do nguyên nhân nghề nghiệp như ốm đau, sinh đẻ, tuổi già làm cho sức
lao động của đối tượng bị giảm sút hoặc mất hẳn.
+ Rủi ro kinh tế: Loại rủi ro này cũng làm giảm hoặc mất thu nhập do sức lao
động không được sử dụng. Đó là trường hợ
p thất nghiệp.
+ Làm giảm mức sống vì những chi tiết bất thường: Đây là loại rủi ro liên
quan đến sử dụng thu nhập. Thu nhập của người lao động trong các trường hợp
này không phải do giảm hay mất đi mà do phải sử dụng thu nhập để chi cho các
khoản chi bất thường như chi phí thuốc men, chữa bệnh hoặc các đảm phụ gia
đình.
- Theo hậu quả:
Về biểu hiện, có nhi

Ôxtrâylia: 65 cho nam, 60 cho nữ; Sri lanka: 55 cho nam và 50 cho nữ ). Thời
gian tham gia BHXH trước khi hưởng chế độ hưu trí thường là từ 20 đến 30 năm.
b, Xác định mức trợ cấp
Theo quan điểm của BHXH, mức trợ cấp phải thấp hơn mức tiền lương lúc
đang đi làm, nhưng phải đảm bảo mức sống tối thiểu. Nhưng mức trợ cấp là bao
nhiêu ?. chúng ta bi
ết rằng mục đích của BHXH là bù đắp lại một phần thu nhập
đã bị mất và góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động. Do đó, để xác định
mức trợ cấp người ta dựa vào:
 Mức giảm hoặc mất thu nhập do giảm hoặc mất khả năng lao động. Khi
những rủi ro xảy ra, mức độ suy giảm khả năng lao động khác nhau d
ẫn tới việc
giảm thu nhập khác nhau. Do đó, mức trợ cấp BHXH phải căn cứ vào mức suy
giảm thu nhập để có thể bù đắp một cách hợp lý. Tuy nhiên đối với cả một tập hợp
người lao động với những mức độ suy giảm khả năng lao động khác nhau và do
đó mức suy giảm thu nhập khác nhau thì cần phải tính toán những “ thiếu hụt có
tính xã hội ” chung, có khả năng đạ
i diện cho mọi người lao động trong các
trường hợp cụ thể.
 Những chi phí cần thiết để đảm bảo cuộc sống tối thiểu của người lao động:
Đó là các khoản chi phí để đáp ứng những nhu cầu tối thiểu như: nhu cầu ăn, ở,
mặc, đi lại, nhu cầu chữa bệnh, nhu cầu học tập Đây là những khoản chi phí cần
thi
ết khách quan và phải tuỳ thuộc vào khả năng của nền kinh tế quốc dân cũng
như khả năng tài chính của cơ quan BHXH mà có thể xác định những chi phí cần
thiết đó, đáp ứng mức độ nhất định nhu cầu đòi hỏi.
 Mức và thời gian đóng BHXH: Mối liên hệ giữa mức đóng và mức hưởng
liên quan chặt chẽ với nhau, và mặc dù những chi phí như đ
ã nêu trên là khách
quan và chính đáng nhưng khả năng đáp ứng nhu cầu đó lại phụ thuộc rất nhiều

5. Cơ quan tổ chức thực hiện.
Vi
ệc tiến hành tổ chức thực hiện có thể do nhà nước đảm nhận và cũng có
thể do tư nhân tiến hành và đôi khi cùng tồn tại một lúc hai hệ thống thành phần.
Nhà nước được lợi từ BHXH nhưng như thế không có nghĩa là nhà nước phải trực
tiếp đứng ra thực hiện mà chỉ cần đóng vai trò của một bên tham gia và thực hiện
chức năng quản lý. Với hệ thố
ng bảo hiểm xã hội do nhà nước lập ra, quỹ BHXH
có sự bù đắp thêm của Ngân sách nhà nước và nó không hoạt động theo phương
thức kinh doanh đối với người lao động. Còn hệ thống bảo hiểm xã hội do tư nhân
và các tổ chức xã hội thực hiện theo quy định của pháp luật và có sự bảo trợ của
nhà nước thì hoạt động theo phương thức kinh doanh và trong phí bảo hiểm được

26
thêm một phần gọi là lãi định mức cho tổ chức bảo hiểm xã hội ( Plđm, khi đó
Ptp=Ptt+Phc+Pdp+Plđm ).
Liệu rằng, quản lý Nhà nước hay quản lý tư nhân các hệ thống bảo hiểm xã
hội có hiệu quả hơn ? Chúng ta thử so sánh hai hình thức này thông qua việc lập
quỹ hưu trí:

Bảng 02: Quản lý Nhà nước và tư nhân các hình thức quỹ BHXH.
Quản lý nhà nước Quản lý tư nhân An toàn
thu nhập
khi nghỉ
hưu
- Các quỹ có thể liên quan tới việc
tái phân phối.

hưu.
- Quản lý tư nhân các quỹ có thể đễ bị
tổn hại bởi tình trạng lừa đảo của người
quản lý.
Các vấn
đề tài
chính
- chi phí quản lý có thể thấp mặc
dù do thiếu động lực lợi ích cho
cán bộ, và cũng ít bị thúc ép để
giảm thiểu chi phí.
- Tuy nhiên tổng chi phí có thể
tăng lên do lãi thấp từ các khoản
đầu tư tồi từ quỹ.
- Tính phi kinh tế bởi quy mô
trong quản lý tài sản dẫn đến sự
không có khả năng trong việc dịch
chuyển đầu tư.
- Đầu tư có hiệu quả sẽ giảm chi phí do
tăng lãi ở mức rủi ro nhất định.
- Lượng quỹ có thể phi kinh tế do nhỏ,
chi phí quản lý có thể cao.
- Chi phí marketing của lương hưu cá
nhân cao.
- Cơ cấu quản lý phức tạp hơn do yêu
cầu của quản lý tài sản tư nhân .
Các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status