Đề tài: Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán tại công ty chứng khoán ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, thực trạng và giải pháp potx - Pdf 15

Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
Luận văn
ĐỀ TÀI: HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN TẠI
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ & PHÁT TRIỂN VIỆT
NAM, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP.
Nhóm I – K41DQ2 Page 1 of 38 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
Mục lục
Mục lục 2
Nhóm I – K41DQ2 Page 2 of 38 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Mục tiêu nghiên cứu.
Đề tài “Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán tại Công ty chứng
khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, thực trạng và giải pháp”
nghiên cứu một cách tổng quát, hệ thống cơ sở lý luận chung về hoạt động bảo lãnh
phát hành chứng khoán. Đồng thời đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá, nhận định cụ
thể về thực trạng hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán, những tồn tại và
nguyên nhân, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện và nâng
cao hiệu quả hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán tại Công ty chứng khoán
Ngân hàng ĐT & PT Việt Nam.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đề tài lấy hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán tại Công ty chứng khoán
Ngân hàng ĐT & PT Việt Nam làm đối tượng nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở một số vấn đề lý luận, thực tiễn có liên quan
trực tiếp đến hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán nói chung và hoạt động bảo
lãnh phát hành chứng khoán tại Công ty chứng khoán Ngân hàng ĐT & PT VN.
3. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo phần nội dung của đề tài
bao gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về công ty chứng khoán và nghiệp vụ bảo lãnh phát

chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi
sổ hoặc dữ liệu điện tử bao gồm: cổ phiếu (stock), trái phiếu( bond), chứng chỉ quỹ
đầu tư, quyền mua cổ phần (right), chứng quyền ( warrant ), quyền chọn (option),
hợp đồng tương lai (future)…
Công ty chứng khoán là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có
thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số nghiệp vụ chính là môi giới chứng khoán, tự
doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, và tư vấn đầu tư chứng khoán.
2. Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán.
Thứ nhất, chịu ảnh hưởng của thị trường tài chính. TTCK là một bộ phận của thị
trường tài chính do đó những biến động của thị trường tái chính nói chung và TTCK
nói riêng đều có những ảnh hưởng nhất định đến hoạt động, các dich vụ và có thể cả
lợi nhuận của các công ty chứng khoán. Thị trường tài chính càng phát triển thì sẽ
càng có nhiều cơ hội hơn cho sự phát triển của TTCK và các công ty chứng khoán,
Nhóm I – K41DQ2 Page 4 of 38 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
các công cụ tài chính, các dịch vụ, sản phẩm hay trình độ chuyên môn của một thị
trường tài chính phát triển sẽ là những cơ hội cho sự phát triển của TTCK và các
công ty chứng khoán.
Thứ hai, trình độ chuyên môn hoá và phân cấp quản lý. Các bộ phận của
một công ty chứng khoán bao giờ cũng hoạt động độc lập với nhau và không phụ
thuộc lẫn nhau do các mảng hoạt động của các bộ phận của CTCK là khác nhau như
môi giới, tự doanh. bảo lãnh phát hành, tư vấn… Do đó mức độ chuyên môn hoá và
phân cấp quản lý của các CTCK là rất cao và rõ rệt, các bộ phận có thể tự quyết
định hoạt động của mình.
Thứ ba, nhân tố con người giữ vai trò quyết định. Do đặc điểm chuyên
môn hoá cao nên con người cần có những khả năng độc lập trong quyết định,
côngviệc. Khả năng làm việc mỗi nhân viên trong công ty là nhân tố rất quan trọng
giúpcho sự thành công của CTCK, họ là cầu nối giữa khách hàng và công ty, tìm
kiếmkhách hàng cho công ty và hiểu được tiềm lực của chính những khách hàng đó
dođó góp phần quan trọng cho thành công của công ty.

chứng khoán có vai trò quản lý chứng khoán hộ khách hàng do đó sẽ dễ dàng trách
được các rủi ro về mất hay hỏng chứng khoán, rủi ro về chứng khoán không còn giá
trị lưu hành… Nhờ đó kịp thời đưa ra các quyết đinh xử lý, đảm bảo quyền lợi của
khách hàng.
 Đối với thị trường chứng khoán.
Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường. Giá cả chứng khoán là do thị trường
quyết định, tuy nhiên để đưa ra mức giá cuối cùng người mua và người bán phải
thông qua các công ty chứng khoán vì họ không được tham gia trực tiếp vào quá
trình mua bán. Với việc cung cấp cơ chế giá cả, CTCK góp phần đưa giá chứng
khoán phản ánh đúng cung cầu của thị trường. Ngoài ra, CTCK còn thực hiện vai
trò ổn định thị trường. Vai trò này xuất phát từ nghiệp vụ tự doanh, qua nghiệp vụ
này các công ty chứng khoán nắm giữ một tỷ lệ nhất định các chứng khoán qua đó
góp phần bình ổn thị trường. Bằng hoạt động bảo lãnh phát hành các CTCK tạo ra
hàng hoá cho và tạo ra tính hấp dẫn của hàng hoá cho cho thị trường, các tổ chức
phát hành chứng khoán thông qua hoạt động bảo lãnh của các công ty chứng khoán
thì chứng khoán phát hành sẽ có uy tín hơn trên thị trường và sẽ dễ dàng giao dịch
trên thị trường, đồng thời giá của chứng khoán cũng sẽ được các CTCK xác định
một cách chính xác, phù hợp với tổ chức phát hành góp phần bình ổn giá chứng
khoán trong giai đoạn đầu. Điều này giúp cho chứng khoán của các tổ chức phát
hành phát hành thông qua CTCK sẽ đựoc tín nhiệm hơn góp phần làm tăng tính
thah khoản của các chứng khoán phát hành trên thị trường sơ cấp. Bên cạnh đó,
Nhóm I – K41DQ2 Page 6 of 38 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
hoạt động môi giới và tư vấn của các công ty chứng khoán trên thị trường chứng
khoán thứ cấp tạo nên tính thanh khoản cho các chứng khoán.
Các chứng khoán có tính thanh khoản càng cao càng hấp dẫn được công chúng
đầu tư hơn từ đó tạo điều kiên thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp phát
hành chứng khoán trên thị trường.
 Đối với cơ quan quản lý thị trường.
Các cơ quan quản lý thị trường có mục tiêu là quản lý và bình ổn thị trường giúp

Để thực hiện thành công các đợt phát hành chứng khoán để huy động vốn tổ chức
phát hành phải cần đến các công ty chứng khoán tư vấn cho đợt phát hành và thực
hiện bảo lãnh phát hành, phân phối chứng khoán ra công chúng. Đây chính là
nghiệp vụ bảo lãnh phát hành của các công ty chứng khoán và là nghiệp vụ chiếm tỷ
lệ khá cao trong tổng doanh thu của CTCK.
Như vậy, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là việc CTCK có chức năng bảo lãnh
giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ
chức việc phân phố chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn
đầu sau khi phát hành. Khi một tổ chức muốn phát hành chứng khoán tổ chức đó gửi
yêu cầu bảo lãnh phát hành đến công ty chứng khoán. CTCK có thể sẽ ký hợp đồng
tư vấn quản lý để tư vấn cho tổ chức phát hành về loại chứng khoán cần phát hành,
số lượng chứng khoán phát hành, định giá chứng khoán và phương thức phân phối
chứng khoán đến các nhà đầu tư thích hợp.
 Hoạt động tự doanh chứng khoán:
Là việc công ty chứng khoán tự tiến hành các giao dịch mua, bán chứng khoán
cho chính mình. Hoạt động này được thực hiện thông qua cơ chế giao dịch trên thị
trường giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC, nghiệp vụ này hoạt động song
hành với nghiệp vụ môi giới, vừa phục vụ lệnh của khách hàng vừa phục vụ cho
chính mình .Vì vậy trong hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa thực hiện
giao dịch cho khách hàng và bản thân công ty. Do đó luật pháp các nước yêu cầu
phải tách biệt rõ ràng hoạt động tự doanh chứng khoán và hoạt động môi giới chứng
khoán, theo đó công ty chứng khoán phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng
trước khi thực hiện lệnh của công ty. Khác với hoạt động môi giới chứng khoán
công ty chứng khoán chỉ làm trung gian thực hiện lệnh cho khách hàng và hoạt động
chỉ vì mục tiêu là hưởng hoa hồng từ các giao dịch thì hoạt động tự doanh chứng
khoán hoạt động bằng chính nguồn vốn của công ty nên ngoài mục tiêu lợi nhuận là
đầu tư để hưởng chênh lệch giá hoạt động này của các Công ty chứng khoán
Nhóm I – K41DQ2 Page 8 of 38 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
(CTCK) còn nhằm mục tiêu là bình ổn thị trường, kiểm soát thị trường hay đóng vai

ký, phí gửi, phí rút và phí chuyển nhượng chứng khoán.
 Quản lý thu nhập của khách hàng:
Nhóm I – K41DQ2 Page 9 of 38 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
Thông qua nghiệp vụ lưu ký chứng khoán cho khách hàng CTCK có trách nhiệm
thông báo cho khách hàng về tình hình của thu lãi, cổ tức của chứng khoán và đứng
ra thu nhận cổ tức cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.
 Nghiệp vụ tín dụng:
Hoạt động này là việc các CTCK cho khách hàng vay chứng khoán để khách hàng
thực hiện giao dịch bán khống, hoặc cho khách hàng vay tiền để khách hàng thực
hiện mua ký quỹ.
 Nghiệp vụ quản lý quỹ:
Là nguồn vốn được hình thành từ nguồn vốn góp của các nhà đầu tư trên thị
trường, được uỷ thác cho các công ty quản lý quỹ đầu tư đầu tư nhằm thu lại lợi
nhuận cho nhà đầu tư. Theo pháp luật của một số thị trường các nước cho phép các
CTCK được thực hiện quản lý quỹ đầu tư, các CTCK cử đại diện của mình để quản
lý quỹ và sử dụng vốn và tài sản của quỹ đầu tư để đầu tư vào chứng khoán. Công ty
chứng khoán được thu phí và dịch vụ quản lý quỹ đầu tư.
Tóm lại, hoạt động của các công ty chứng khoán có vai trò rất lớn đối với thị
trường chứng khoán và toàn nền kinh tế, mỗi nghiệp vụ hoạt động độc lập với nhau
và tuy theo khả năng tài chính hay thế mạnh mỗi CTCK mà các CTCK có thể phát
triển tất cả các nghiệp vụ hoặc các nghiệp vụ khác nhau nhằm thu lại lợi nhuận lớn
nhất cho công ty chứng khoán.
II. Hình thức phát hành chứng khoán
Phát hành chứng khoán: Là hoạt động chào bán chứng khoán có thể
chuyểnnhượng được thông qua tổ chức trung gian cho ít nhất một số lượng các nhà
đầu tưnhất định ngoài tổ chức phát hành. Theo nghị định 144/20003/NĐ – CP của
chínhphủ Việt Nam thì số lượng tối thiểu các nhà đầu tư mà tổ chức phát hành chào
bánlà 50 nhà đầu tư ngoài tổ chức phát hành. Là hoạt động của thị trường sơ cấp
nhằmhuy động vốn cho tổ chức phát hành, thông thường các tổ chức phát hành sử

hành chứng khoán ra công chúng phải tiến hành công khai và chịu sự giám sát của
Luật chứng khoán. Công ty đã thực hiện phát hành chứng khoán được gọi là công ty
đại chúng.
Phát hành chứng khoán ra công chúng được phân biệt giữa phát hành cổ phiếu ra
công chúng và phát hành trái phiếu ra công chúng. Đối với phát hành cổ phiếu ra
công chúng, việc phát hành được thực hiện theo một trong 2 hình thức: phát hành lần
Nhóm I – K41DQ2 Page 11 of 38 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
đầu ra công chúng và phân phối sơ cấp. Trong khi phát hành trái phiếu ra công
chúng chỉ thực hiện bằng một hình thức duy nhất là phân phối sơ cấp.
• Phát hành lần đầu ra công chúng ( IPO – Initial Public Ofering): là đợt phát
hành trong đó cổ phiếu của công ty lần đầu tiên được bán rộng rãi cho công chúng
đầu tư.
• Phân phối sơ cấp ( PO – Primary offering): là đợt phát hành cổ phiếu bổ sung
của công ty đại chúng cho rộng rãi công chúng đầu tư và các đợt phát hành trái phiếu
ra công chúng
- Lợi ích phát hành chứng khoán ra công chúng
 Phát hành ra công chúng nhằm huy động vốn
 Phát hành chứng khoán ra công chúng là điều kiện để tham gia niêm yết trên thị
trường tập trung
 Tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
 Nâng cao uy tín, quảng bá hình ảnh
 Giảm chi phí tiếp cận vốn
III. Những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán.
1. Khái niệm bảo lãnh phát hành chứng khoán.
Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp đơn vị phát hành thực hiện
các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và
giúp bình ổn giá chứng kháon trong giai đoạn đầu sau khi phát hành. Trên thế giới,
các ngân hàng đầu tư, các công ty chứng khoán thường là những tổ chức đứng ra
làm bảo lãnh phát hành.

không. Trong hình thức theo “ cam kết chắc chắn”, một nhóm các tổ chức bảo lãnh
phát hình thành một tổ hợp đêt mua chứng khoán của tổ chức phát hành với giá chiết
khấu so với giá chào bán ra công chúng ( POP) và bán lại các chứng khoán đó ra
công chúng theo giá POP. Chênh lệch giữa giá mua chứng khoán của các tổ chức
bảo lãnh vơi giá chào bán ra công chúng được gọi là hoa hồng chiết khấu.
2.2. Bảo lãnh theo phương thức dự phòng
Đây là phương thức thường được áp dụng khi một công ty đại chúng phát hành
bổ sung thêm cổ phiếu thường ở các nước phát triển. Trong trường hợp đó, công ty
cần phảo bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện hữu, và như vậy, công ty phải chào
bán cổ phiếu bổ sung cho các cổ đông cũ trước khi chào bán ra công chúng bên
ngoài.
2.3. Bảo lãnh với cố gắng cao nhất
Là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh thỏa thuận làm đại lý
cho tổ chức phát hành. Tổ chức phát hành không cam kết bán toàn bộ số chứng
Nhóm I – K41DQ2 Page 13 of 38 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
khoán mà cam kết sẽ cố gắng hết sức để bán chứng khoán ra thị trường, nhưng nếu
không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành phần còn lại.
2.4. Bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không
Trong phương thức này tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh phát hành
bán một số lượng chứng khoán nhất định ra công chúng, nếu không phân phối được
hết sẽ hủy toàn bộ đợt phát hành.
2.5. Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu – tối đa
Là phương thức trung gian giữa phương thức bảo lãnh với cố găng cao nhất và
phương thức bảo lãnh bán tất cả hoặc không. Theo phương thức này, tổ chức phát
hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoán nhất định (mức
sàn). Vượt trên mức ấy, tổ chức bảo lãnh được tụ do chào bán chứng khoán đến
mức tối đa quy định (mức trần). Nếu lượng chứng khoán bán được tỷ lệ thấp hơn
mức yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị hủy bỏ.
3. Các chủ thể tham gia đợt bảo lãnh phát hành chứng khoán.

4.2 Phối hợp với đơn vị phát hành chuẩn bị hồ sơ đăng kí phát hành
Sau khi hợp đồng bảo lãnh phát hành được kí kết tổ chức bảo lãnh phát hành sẽ
phối hợp với đơn vị phát hành để thực hiện công tác chuẩn bị hồ sơ đăng kí phát
hành. Việc chuẩn hồ sơ đăng kí phát hành cần sự tham gia của các chuyên gia tài
chính, kế toán và pháp lí. Các chuyên gia này là nhân viên của tổ chức bảo lãnh hoặc
cũng có thể là do tổ chức bảo lãnh tập hợp từ các công ty tài chính, kế toán hay luật
pháp khác.
Luật pháp của hầu hết các quốc gia đều quy định tổ chức bảo lãnh phải chịu
trách nhiệm liên đới đối với hồ sơ đăng kí phát hành của đơn vị phát hành. Tức là tổ
chức bảo lãnh phải chịu trách nhiệm trước sai sót hay thiếu hụt thông tin trong hồ sơ
xin phép phát hành. Quy định này nhằm đảm bảo tổ chức bảo lãnh có những cố gắng
tối đa trong việc kiểm tra tính đúng đắn, đầy đủ và hợp pháp của các thông tin đưa ra
trong hồ sơ xin đăng kí phát hành và các thông tin trong bản cáo bạch. Quy định này
sẽ đảm bảo cho các nhà đầu tư có được những thông tin xác thực và đầy đủ để đưa ra
quyết định đầu tư
Trong trường hợp bảo lãnh phát hành theo hình thức tổ hợp bảo lãnh thì tổ chức
bảo lãnh chính sẽ phải quyết định quy mô tổ hợp và xác định các thành viên tham
gia tổ hợp. Việc thành lập tổ hợp bảo lãnh cũng có những lợi ích nhất định đối với
các tổ chức bảo lãnh bởi nó có thể phân tán rủi ro. Tổ chức bảo lãnh tham gia tổ hợp
Nhóm I – K41DQ2 Page 15 of 38 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
bảo lãnh phát hành có thể do tổ chức bảo lãnh chính lựa chọn hoặc do chính các tổ
chức bảo lãnh tiếp xúc với tổ chức bảo lãnh chính để tìm cơ hội tham gia.
Tổ chức bảo lãnh chính cũng có thể thành lập nhóm bán, bao gồm các đại lí
phân phối. Thông thường các địa lí phân phối được xác định sau khi tổ hợp bảo lãnh
được thiết lập.
Để phân định quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên tham gia vào quá trình bảo
lãnh phát hành, các hợp đồng sau phải được ký kết trước khi quá trình phát hành
được khởi động: hợp đồng giữa các tổ chức bảo lãnh, hợp đồng bảo lãnh phát hành
hay còn có thể gọi là cam kết bảo lãnh phát hành, hợp đồng với các đại lý được lựa

của tổ hợp.
Công tác bình ổn giá có thể thực hiện trên bất kì thị trường nào mà chứng
khoán chào bán được giao dịch. Khi thực hiện mua để ổn định, người mua phải
thông báo cho bên nhận lệnh rằng việc mua này nhằm mục đích ổn định. Tổ hợp bảo
lãnh chỉ được đặt mua để ổn định trên thị trường với cùng mức giá. Trong quá trình
bình ổn giá, thành viên của tổ hợp bảo lãnh phát hành thường bị cấm bán cổ phiếu
dưới giá chào bán trong một khoảng thời gian nhất định sau thời điểm kết thúc việc
chào bán, phân phối cổ phiếu ra công chúng và sau khi tổ hợp bảo lãnh phát được
giải thể. Sau thời hạn này, thành viên tổ hợp bảo lãnh phát hành có thể bán cổ phiếu
theo bất kì giá nào.
5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán
tại công ty chứng khoán.
5.1. Nhân tố bên ngoài
5.1.1. Điều kiện kinh tế trong nước:
Là một yếu tố rất quan trọng cho sự phát triển của thị trường chứng khoán. Nền
kinh tế đất nước có phát triển thì sẽ có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thị
trường chứng khoán, sẽ nhanh chóng áp dụng được các mô hình quản lý, khoa học
kỹ thuật của các nước đi trước… tiết kiệm được chi phí, thời gian nghiên cứu. Do
đó, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ổn định và bền vững của thị trường
chứng khoán. Thị trường chứng khoán phát triển thì các công ty chứng khoán sẽ có
điều kiện thuận lợi hơn trong việc phát triển các nghiệp vụ của mình, phát triển hoạt
động bảo lãnh phát hành chứng khoán giúp cho các tổ chức phát hành phát hành đạt
hiệu quả cao nhất.
Nhóm I – K41DQ2 Page 17 of 38 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
5.1.2. Môi trường pháp lý
Thị trường chứng khoán Việt Nam là thị trường còn rất non trẻ mới đi vào hoạt
động được vài năm gần đây, vì vậy sẽ không thể tránh khỏi các văn bản pháp lý, quy
định của các cơ quan quản lý, chính phủ còn nhiều thiếu sót và chưa chính xác. Do
đó, hạn chế sự phát triển của thị trường chứng khoán đất nước yêu cầu đòi hỏi cần

Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH PHÁT HÀNH
CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM.
I. Tổng quan về tình hình kinh doanh của công ty.
Công ty chứng khoán Ngân hàng ĐT & PT Việt Nam được thành lập ngày 07
tháng 07 năm 2000, Công ty Chứng khoán Ngân hàng ĐT & PT Việt Nam (BSC)
vinh dự trở thành Công ty chứng khoán đầu tiên trong ngành ngân hàng tham gia
kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán và cũng là một trong hai công ty chứng
khoán đầu tiên tại Việt Nam.
Ban đầu vốn điều lệ là 300 tỷ đồng tăng lên 700 tỷ đồng ( năm 2007).Tính đến
cuối năm 2009 tổng tài sản của BSC đã là 3.897 tỷ đồng, trong đó vốn điều lệ là 700
tỷ đồng, đứng thứ ba TTCK Việt Nam. Trong đó tài sản ngắn hạn là 3.698 tỷ đồng
chiếm 95% trong tổng tài sản, tài sản dài hạn là 200 tỷ đồng chiếm 5% trong tổng tài
sản. Tỷ trọng nguồn vốn ngắn hạn / tài sản ngắn hạn của Công ty là 85%, tỷ lệ vốn
khả dụng của Công ty là 21%. Ngoài số vốn hiện có, Công ty có thể huy động vốn
từ hoạt động kinh doanh vốn và hoạt động đầu tư tự doanh.
Từ đến năm 2007, doanh thu của BSC đạt gần 100 tỷ đồng, tăng 51% so với
mức thực hiện cả năm 2006. Trong đó, thu phí môi giới đạt gần 42 tỷ đồng, gấp 6,8
lần so với cùng kỳ năm trước và gấp 2,3 lần so với mức thực hiện của năm 2006. Lợi
nhuận trước thuế của công ty 6 tháng đầu năm đạt 62 tỷ đồng, gấp 3 lần so với cùng
kỳ năm trước và xấp xỉ bằng mức thực hiện cả năm 2006. Năm 2007 BSC hiện giữ
vững thị phần môi giới ở mức 14-16% so với tổng giá trị giao dịch của toàn thị
trường. Đây là lần tăng vốn điều lệ thứ hai của BSC trong năm 2007. Do nền kinh tế
suy thoái toàn cầu, suy giảm nền kinh tế trong nước , TTCK ảm đạm và sụt giảm
mạnh , tính đến cuối năm 2008 trong khi vốn điều lệ của Công ty la 700 tỷ đồng
BSC chỉ còn vẻn vẹn 274 tỷ đồng vốn chủ sở hữu do khoản lỗ lên đến 554 tỷ đổng,
tổng các khoản trích lập dự phòng giảm giá của BSC là gần 633.5 tỷ đồng. Tuy
nhiên, tỷ lệ vốn /vốn điều lệ của BSC chỉ là 79.16%.
Bảng 1: Doanh thu của BSC.

lập dự
phòng
2007 2008 2007 2008
BSC 700
274.28
7
306.14
6
478.923 114.32
-
554.08
8
-
79.16%
633.497
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
tiếp tục hoàn tất xây dựng trung tâm dữ liệu tại BSC và triển khai trang giao dịch
mua bán cổ phiếu trực tuyến. Phát triển trang Web mới của Công ty thành công cụ
hỗ trợ đắc lực cho các hoạt động kinh doanh.
Song song với nhiệm vụ kinh doanh , công tác xây dựng và hoàn thiện các quy
chế , quy trình được đặt lên như nhiệm vụ hàng đầu của Công ty. Cùng với đó là đào
tạo và quản trị nhân lực – là một hoạt động thiết yếu của Công ty nhằm nâng cao
năng lực cán bộ, nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty sẵn sàng đáp ứng mọi
yêu cầu của thị trường. BSC đã phối hợp với Công ty Chứng khoán Okasan cảu
Nhật Bản triển khai cà hoàn thành tốt chương trình hợp tác và đào tạo giữa hai bên ,
tiếp thu được nhiều kinh nghiệm về giá trị các chuyên đề nghiệp vụ tư vấn, thương
mại, cổ phiếu , M & A, bảo lãnh phát hành, phát triển dịch vụ khách hàng , đồng
thời tạo động lực tốt cho cán bộ xây dựng và triển khai các nghiệp vụ , sản phẩm
mới, hiện đại.
Hiện đại hóa công nghệ thông tin – nền tảng hỗ trợ nâng cao chất lượng, năng

với chủ đề: “ Buổi gặp gỡ giữa các chuyen gia phân tích độc lập của BSC với nhà
đầu tư ” nhằm thúc đẩy sự hợp tác của BSC và các nhà đầu tư, đồng thời tổ chức các
buổi hướng dãn giao dịch tại sàn Upcom tới các doanh nghiệp, nâng cao công tác
dịch vụ khách hàng lên tầm cao mới.
- Hoạt động kinh doanh vốn : năm 2009 doanh thu đạt 315 tỷ đồng chiếm 50% tổng
doanh thu. Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh vốn bao gồm repo ( giao dịch mua và
bán chứng khoán), tiền gửi là 70 tỷ đồng.
- Hoạt động đầu tư tự doanh : BSC đã cơ cấu danh mục đầu tư hướng tới mục tiêu an
toàn, phản ứng linh hoạt với thị trường. BSC đã cơ cấu danh mục đầu tư hướng tới
mục tiêu an toàn, phản ứng linh hoạt với thị trường. Lượng tiền mặt rút ra khỏi thị
trường từ cơ cấu danh mục năm 2009 là 1.133 tỷ đồng. Tỷ trọng cổ phiếu – tiền 1:3.
Lợi nhuận từ hoạt động tự doanh trái phiếu là 14 tỷ đồng , từng bước mở rộng thị
phần , đối tác giao dịch trái phiếu và nâng cao vị thế của BSC.
- Hoạt động tư vấn, bảo lãnh phát hành : số hợp đồng tư vấn của công ty trong năm
2009 thực hiện là 65 tăng gấp 3 lần so với năm 2008 chỉ đạt 22 hợp đồng bao gồm: tư
vấn CPH, tư vấn tài chính, tư vấ niêm yết, tư vấn đại hội cổ đông.
II. Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán của công ty BSC.
1. Thực trạng hoạt động bảo lãnh phát hành của BSC.
Nhóm I – K41DQ2 Page 23 of 38 Hà nội, tháng 08 năm 2011
Tiểu luận : Kinh doanh Chứng khoán.
Sự ra đời của TTCK Việt Nam như là một xu thế của thời đại, muốn nền kinh
tế của đất nước phát triển thì nhất thiết không thể thiếu hoạt động của TTCK vì
TTCK là một kênh huy động vốn hiệu quả nhất của nền kinh tế thị trường. TTCK
Việt Nam mới chỉ ra đời và đi vào hoạt động từ năm 2000, qua 10 năm phát triển
nhưng thị trường đã có những bước phát triển rất đáng kể, từng bước vững chắc
khảng định vai trò, tầm quan trọng của mình trong nền kinh tế.
Hiện nay, trên TTCK Việt Nam đã có rất nhiều công ty hoạt động. Do phạm vi
hoạt động khác nhau, đồng thời mỗi công ty lại học tập cách thức tổ chức từ các
nước khác nhau trên thế giới nên gần như không có điểm chung nào trong tổ chức
của các công ty chứng khoán. Nhưng hầu hết các công ty chứng khoán đều tham gia

1. Chênh lệch lãi nhượng bán, thanh lý
TSCĐ - -
2. Thu bảo hiểm và đền bù tổn thất - -
3. Thu nợ phải thi đã xử lý - -
4. Thu nhập khác - -
B/ Chi phí 52.968.209.582 135.471.770.539
I. Chi phí hoạt động kinh doanh 52.970.359.582 135.456.770.539
1. Chi phí hoạt động kinh doanh 49.164.164.253 131.584.107.961
1.1. Chi phí môi giới CK 86.676.542 3.303.835.769
1.2. Chi phí hoạt động tự doanh CK 7.760.000 2.158.633.285
1.3. Chi phí quản lý DMĐT - 3.000.000
1.4. Chi phí bảo lãnh, phát hành CK 183.054.900 207.286.074
1.5. Chi phí tư vấn cho người đầu tư - -
1.6. Chi phí lưu ký chứng khoán - 142.764.120
1.7 Chi phí( dự phòng, trích trước…) - 618.105.220
1.8 Chi phí vốn kinh doanh 44.458.030.498 115.878.244.420
1.9 Chi phí trực tiếp hoạt động KD CK 4.428.642.313 9.272.239.073
2. Chi phí quản lý doanh nghiệp 3.806.195.329 3.872.662.578
II. Chi Phí ngoài hoạt động kinh doanh (2.150.000) 15.000.000
C/ Xác định kết quả kinh doanh 16.084.096.331 65.066.262.340
1. kết quả từ hoạt động kinh doanh CK 16.081.946.331 65.081.262.340
2. kết quả từ hoạt động KD ngoài CK 2.150.000 (15.000.000)
Nguồn: Công ty chứng khoán BSC
Bảng 4 : Kết quả kinh doanh năm 2009
Chỉ tiêu Năm Thực hiện
2009
% thực
hiện so với
2008
KH


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status