Luận văn - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu potx - Pdf 15

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn
trên tất cả các lĩnh vực. Đặc biện là phát triển kinh tế đang từng bước hội
nhập kinh tee quốc tế.
Thực tiễn cho thấy để phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tăng sức mạnh cạnh tranh,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư phải dựa trên cơ sở phát huy thế
mạnh và lợi thế so sánh của đất nước, gắn với nhu cầu thị trường trong và
ngoài nước, nhu cầu đời sốn của nhân dân và quốc phòng an ninh tạo thêm
sức mua của thị trường trong nước và mở rộng thị trường ngoài nước.
Cơ cấu kinh tế thể hiện nội dung và mục tiêu chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước, của mỗi địa phương, không phải là sản phẩm
chủ quan mà luôn vận động theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
và nhu cầu của xã hội, đặc biệt là đối với Việt Nam chúng ta hiện nay là
một nước nông nghệp còn tương đối lạc hậu, đang trên con đường công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế thế giới.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam
đã nhấn mạnh: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và
nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông
dân”
1
. Chính vì vậy trong quá trình lãnh đạo, Đảng ta luôn quan tâm cho
đầu tư, phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, trong đó nội dung cơ bản là chuyển dịch mạnh cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung gắn
với công nghiệp hoá chế biến và thị trường. Áp dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật, nâng cao năng xuất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm,
tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và
1

2
Mặc dù đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ, song
nhìn chung, xét trên cơ sở kinh tế nông nghiệp, nông thôn của huyện Than
Uyên còn tương đối chậm, cơ cấu ở một số vùng còn mang tính tự phát,
chưa gắn với quy hoạch, chất lượng hàng hoá chưa cao, tỷ trọng nông
nghiệp chiếm trong cơ cấu nền kinh tế của huyện còn cao 45% Thực tế
đó chưa tương xướng với tiềm năng của một huyện có điều kiện thuận lợi
về đất đai có nhiều tuyến đường quốc lộ chạy qua sang Lào Cai, Yên Bái,
Sơn La, Lai Châu, nguồn lao động dồi dào… Vì thế, việc đẩy mạnh thực
hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ở huyện Than Uyên là hết sức cần thiết và có ý
nghĩa to lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội; xoá đói giảm nghèo, nâng
cao đời sống xã hội cho đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện, từng
bước góp phần thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng dân chủ và văn minh.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, để đưa nông nghiệp nông thôn
phát triển bền vững, theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tất yếu
khách quan trong nền kinh tế thị trường nói chung và thúc đẩy kinh tế của
huyện Than Uyên, phát triển theo hướng hiện đại nói riêng.
Với những kiến thức tiếp thu được trong chương trình lý luận Cao
cấp những thực tiễn tại địa phương tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu” để làm luận văn
Cao cấp lý luận Chính trị - Hành chính khoá học 2009-2010.
2. Mục tiêu nhiệm vụ của đề tài:
a. Mục tiêu:
Đánh giá đúng thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
nông thôn huyện Than Uyên theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
đưa ra phương hướng, mục tiêu và giải pháp trong thời gian tới.
b. Nhiệm vụ:

- Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
nông thôn huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Chương 3: Phương hướng, mục tiêu và giải pháp đẩy mạnh chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở huyện Than Uyên, tỉnh Lai
Châu.
Do điều kiện thời gian và trình độ bản thân còn hạn chế, đề tài không
thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, kinh mong thầy, cô giáo và các bạn
đồng nghiệp góp ý chân thành để đề tài được hoàn thiện hơn.
Cho phép tôi được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới cô giáo: Thạc sỹ
Đàm Thị Thanh Thủy khoa kinh tế phát triển, cùng các thầy, cô giáo trong
Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I, các đồng chí lãnh đạo Huyện
uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện Than Uyên, lãnh đạo, cán
bộ các phòng; tài chính kế hoạch, thống kê, nông nghiệp và phát triển nông
thôn, lao động thương binh và xã hội; công thương, tài nguyên và môi
trường đã hướng dẫn, góp ý và cung cấp số liệu để tôi hoàn thành luận văn
này.
5
NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH
TẾ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP
HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
I. CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
1. Cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, thôn thôn và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
1.1. Cơ cấu kinh tế, nông nghiệp nông thôn.
- Khái niệm cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu về
chất lượng và số lượng tương đối ổn định của các yếu tố, các bộ phận của
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong hệ thống tái sản xuất xã họi
trong những điều kiện kinh tế xã hội, trong những không gian, thời gian

mô hình mới, cao hơn.
Cơ cấu kinh tế phản ánh cơ bản, cô đọng nội dung của chiến lược
kinh tế, xã hôi trong từng giai đoạn, một cơ cấu kinh tế hợp lý phản ánh
được sự vận động của quy luật khách quan trong nền kinh tế. Vai trò chủ
quan của con người, chính là sự nhận thức và vận dụng theo đúng quy luật
khách quan đó để xác định cơ cấu, hoạch định chiến lược kinh tế, xã hội
đúng đắn. Mọi sự áp đặt chủ quan, nóng vội hay bảo thủ trong việc thay đổi
cơ cấu kinh tế, đều mang lại tác động xấu đối với sự nghiệp phát triển kinh
tế, xã hội của mỗi địa phương và đất nước.
+ Tính chất lịch sử xã hội: Cơ cấu kinh tế mang tính lịch sử nhất
định, ta biết rằng, nền kinh tế chỉ có thể phát triển bình thường, khi giữa
các mặt, các bộ phận của quá trình tái sản xuất xã hội; xác lập được những
mối liên hệ cân đối của sự phân công lao động xã hội. Tuy nhiên, tính ổn
định của cơ cấu kinh tế chỉ là tương đối, cơ cấu kinh tế luôn luôn vận động,
tới một chừng mực nhất định C.Mác viết: “Do tổ chức quá trình lao động
và phát triển kỹ thuật một cách mạnh mẽ, đã làm đảo lộn toàn bộ cơ cấu
kinh té của xã hội”
2
.
1
C.Mác. Tư sản. QII, TII, Nxb Sự thật. Hà Nội 1975, tr.102
2
C.Mác: Tư sản Q1, Nxb Sự thật, Hà Nội.1996, tr. 47.
7
Mỗi phương thức sản xuất, mỗi thời kỳ lịch sử có yêu cầu khác nhau
và nguyên tắc, nội dung, chất lượng, cách thứ thể hiện. Sự khác nhau đó là
quy luật kinh tế đặc thù của mỗi phương thức sản xuất trước hết là quy luật
kinh tế cơ bản của phương thức sản xuất ấy quy định. Cơ cấu kinh tế có
tính hai mặt vừa ổn định (tương đối) vừa vận động biến đổi thường xuyên
và ngoài tác động của lực lượng sản xuất thì yếu tốt quan hệ sản xuất và

nghiệp, nông thôn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi phát triển
theo những quy luật nhất định của tự nhiên con người trên cơ sở nhận thức
được các quy luật, có thể tạo điều kiện cho chúng phát triển và phát triển
tốt, một nền nông nghiệp có hiệu quả phải là nền công nghiệp có kết cấu hạ
tầng nông thôn, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phát triển,
năng xuất cây trồng vật nuôi đạt giá trị cao với chi phí thấp nhất trên một
đơn vị sản phẩm. Do vậy cần phải có những chính sách hợp lý và nhận thức
được các quy luật sinh học, lợi dụng tối đa các lợi thế của tự nhiên.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn hình thành và biến đổi gắn
liền với sự phát triển của xã hội và nền kinh tế sản xuất hàng hoá do vậy đã
tác động, thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển đa dạng và năng động
theo hưởng ngày càng tiến tiến và hiện đại hơn.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn gồm nhiều bộ phận hợp thành
song quan trọng là các bộ phận cơ bản sau:
+ Cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp biểu hiện ở mối quan hệ tỷ
lệ giữa các phân ngành trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp, và trong
từng phần ngành đó lại được phân chia thành nhiều ngành nhỏ hơn, tất cả
các bộ phần đó trong quá trình phát triển có sự tác động lẫn nhau, cùng cơ
cấu thành cơ cấu ngành trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phản ánh trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ tổ chức quản lý của một quốc
gia về nông nghiệp, xem xét cơ cấu ngành ngoài việc xem xét chỉ tiêu giá
trị, còn phải phân tích chỉ tiêu lao động. Chỉ tiêu vốn đầu tư, tổng hợp các
9
chỉ tiêu đó phản ánh thực trạng của cơ cấu ngành trong cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, cơ cấu của cơ cấu ngành là phân công lao động xã hội. Phân công
lao động càng được thực hiện sâu sắc thì cơ cấu ngành càng được phân chia
tỉ mỉ và đa dạng. Tiền đề của phân công lao động là năng suất lao động
nông nghiệp. Trước hết và chủ yếu là năng suất lao động của những người
sản xuất lương thực phải đạt tới một giới hạn chế nhất định, đảm bảo đủ

doanh trong lĩnh vực Nông nghiệp chủ yếu là các hộ nông dân, các hộ này
hoặc là làm ăn riêng lẻ hoặc liên kết với nhau trong mô hình kinh tế hợp
tác. Đây là bộ phận chủ yếu trong cơ cấu thành phần kinh tế nông nghiệp
này cùng với kinh tế hộ, kinh tế hợp tác tồn tại dưới nhiều hình thức khác
nhau, trong quá trình đổi mới hiện nay, kinh tế hợp tác đang từng bước
được củng cố và phát triển.
+ Cơ cấu kỹ thuật: Khác với công nghiệp và dịch vụ, cơ cấu kỹ thuật
trong nông nghiệp mang tính chất cổ truyền kỹ thuật và còn lạc hậu, cấu
tạo hữu cơ thấp xa so với công nghiệp sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc
vào tự nhiên, phương thức canh tác chậm đổi mới, hạ tầng kỹ thuật hết sức
khó khăn, bảo quản, chế biến sản phẩm sau thu hoạch ít được quan tâm
vv… Trong những năm gần đây, trước sự phát triển mạnh mẽ của cách
mạng khoa học công nghệ tính bảo thủ trì trệ đã từng bước được khắc phục,
các tiến bộ mới về khoa học kỹ thuật đã được ứng dụng như giống, phân
bón, hệ thống thuỷ lợi, bảo vệ thực vật vv… đã được sử dụng, một số khâu
như vận chuyển, làm đất, thu hoạch… đã từng bước được cơ giới hoá ở
mức độ khác nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể đã góp phần giải phóng sức lao
động của người nông dân. Đặc biệt là sự phát triển của công nghiệp chế
biến đã có tác động thúc đẩy việc ứng dụng những thành tựu khoa học –
công nghệ và sản xuất nông nghiệp.
Từ những cơ sở lý luận trên ta thấy xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất
nông nghiệp và kinh tế nông thôn cần phải dựa trên cơ sở: đảm bảo tuân
thủ theo các quy luật khách quan trong phát triển. Đảm bảo khả năng khai
11
thác, sử dụng nguồn lực trong nước một cách tối ưu, đáp ứng được nhu cầu
hội nhập quốc tế, và phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới.
1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình
tác động có hướng của các chủ thể quản lý kinh tế, nhằm biến đổi từ một cơ

Công nghiệp vùng nông thôn phải được tạo dựng và phát triển vừa
để phục vụ đầu vào và đầu ra của nông nghiệp, vừa để giải quyết việc làm
và nghề nghiệp mới cho số lao động dôi dư và mới tăng thêm ở nông thôn.
Đây là vấn đề lớn trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Xây dựng hạ tầng nông thôn mới cần tập trung đầu tư theo thứ tự ưu
tiên cho các công trình thiết yếu để phát triển và phục vụ sản xuất như hệ
thống giao thông, điện, thuỷ lợi, giáo dục – đào tạo, y tế - văn hoá vv…
phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tạo ra nền tảng vững chắc cho
quá trình đổi mới nông thôn đi lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn phải đảm bảo
tăng được chất lượng và giá trị sản phẩm, hàng hoá nông nghiệp nhưng
giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân
một các khoa học, hợp lý, mặt khác cơ cấu trong khối ngành nông nghiệp
cũng phải chuyển dịch theo hướng giảm cơ cấu giá trị ngành trồng trọt,
tăng giá trị ngành chăn nuôi, dịch vụ chế biến và xuất khẩu, xong phải ổn
định về lương thực và đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia.
+ Trong thực tế để đánh giá trình độ và hiệu quả của việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu
như: cơ cấu giá trị sản xuất, cơ cấu lao động, cơ cấu vốn đầu tư, năng suất
lao động….
Tuy nhiên tuỳ thuộc vào mục tiêu và phạm vi nghiên cứu, nguồn tư
liệu cho phép mà lựa chọn cho phù hợp. Song hai chỉ tiêu quan trọng nhất
là chỉ tiêu cơ cấu giá trị sản xuất và cơ cấu lao động.
13
Quá trình hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn liền
với quá trình phân công lao động xã hội, do đó gắn liền với sự biến đổi của
lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước thúc đẩy sự phát triển cũng như quan hệ sản xuất. Chính vì
vậy, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tiền đề vật chất và động lực
mạnh mẽ thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế

càng giảm do quá trình đô thị hoá và phát triển các các khu công nghiệp tại
nông thôn.
+ Trình độ ứng dụng khoa học trong nhiều lĩnh vực nông nghiệp còn
thấp về năng xuất, chất lượng dẫn đến khả năng cạnh tranh của đa số hàng
nông sản khó cạnh tranh tiêu thu trên thị trường.
+ Cơ cấu kinh tế nông thôn chậm chuyển dịch, chủ yếu vẫn là sản
xuất nông nghiệp thuần tuý công nghiệp và dịch vụ kém phát triển, trong
cơ cấu nông nghiệp , trồng trọt vẫn chiếm tỷ lệ lớn hơn rất nhiều so với
chăn nuôi và chủ yếu là sản xuất lương thực.
+ Thị trường tiêu thụ nông sản gặp nhiều khó khăn, ở trong nước thì
“được mùa rới giá”, thị trường nước ngoài không ổn định.
+ Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống cho người nông dân
còn yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, sản xuất theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Trước thực trạng nông nghiệp và nông thôn Việt Nam hiện nay,
thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn sẽ giúp cho
nông nghiệp nông thôn có bước phát triển nhanh, vững chắc, đạt được các
mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đề ra, góp phần công nghiệp hóa, hiện đại
hoá. Bởi vì:
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn tạo điều kiện
tiếp tục giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất xã hội, với hai nguồn lực quan
trọng là tài nguyên thiên nhiên và sức lao động rất dồi dào ở nông thôn, tạo
ra sản phẩm thích ứng với lợi thế từng vừng miền, có sức cạnh tranh cao
15
trên thị trường quốc tế, giúp cho đẩy mạnh xuất khẩu, tăng tích luỹ ngoại
tệ, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn tạo ra sản
phẩm có chất lượng cao, giá trị cao, tăng đóng góp cho thu nhập quốc dân.
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn còn tạo ra sự gắn kết chặt
chẽ giữa nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, giúp tăng cường sự hỗ trợ,

của sản xuất nông nghiệp là những cây trồng, vật nuôi là những cơ thể sống
và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Sự tác động của nhóm nhân tố
điều kiện tự nhiên mang tính thường xuyên và có tính quyết định đối với cơ
cấu cũng như sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, trước hết là cơ
cấu ngành. Trong điều kiện nhiên, nhân tố thời tiết khí hậu, nguồn nước có
tầm quan trọng đặc biệt, đồng thời cũng thường xuyên gây nên những rủi
ro đói với sản xuất nông nghiệp.
Do phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nên mỗi quốc gia, cũng như
mỗi vùng trong quốc gia có cơ cấu kinh tế nông nghiệp không giống nhau
và sự chuyển dịch cơ cấu đó có những nét riêng biệt. Cũng như cơ cấu
ngành cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế cũng phụ thuộc vào
điều kiện tự nhiên khá rõ nét. Cụ thể là với vị trí địa lý thuật lợi, các tiềm
năng tự nhiên phong phú, cơ cấu ngành phát triển làm cho cơ cấu vùng lãnh
thổ và cơ cấu thành phần kinh tế phát triển theo. Thông thường, ở những
vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi thì các thành phần kinh tế cũng phát
triển với quy mô lớn hơn và tốc độ cao hơn so với các vùng có điều kiện tự
nhiên không thuận lợi. Sự phát triển của cơ cấu ngành, của cơ cấu thành
phần kinh tế nhờ vào điều kiện tự nhiên thuận lợi, đến lượt nó lại tạo điều
kiện và nảy sinh nhu cầu ứng dụng khoa học – công nghệ mới, kỹ thuật tiến
bộ, đổi mới hình thức tổ chức kinh doanh…. điều đó có nghĩa là nó tác
động tới cơ cấu kỹ thuật và cơ cấu sản xuất.
2.2. Nhóm nhân tố kinh tế
17
Nhóm nhân tố này bao gồm nhiều loại:
Một là , nhân tố lực lượng lao động : Trong nhân tố này, số lượng,
chất lượng, cơ cấu của lực lượng lao động có ý nghĩa lớn hơn. Chỉ với một
số lượng lao động nhất định mới có thể thực hiện thâm canh tăng năng
suất . Với những vùng dân cư thưa thớt thì việc thâm canh là hết sức khó
khăn. Cũng như tại chất lượng và cơ cấu lao động là yếu tố quyết định đến
chất lượng công việc, năng suất và hiệu quả. Chỉ có đội ngũ lao động có

xuất cho ai, số lượng và chất lượng phải do thị trường quyết định. Chúng ta
đã gặp khó khăn khi động viên nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng rồi
để họ tự lo liệu đầu ra . Cách làm đó dẫn đến việc nông dân phá bỏ cây này
chuyển sang cây trồng khác mà thị trường có nhu cầu… làm thiệt hại kinh
tế không nhỏ cho họ .
Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế, thị trường ngoài nước có vai trò
ngày càng tăng lên. Yếu tố này chi phối mạnh tới sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong từng quốc gia. Việc lựa chọn đúng các lợi thế so sánh của
từng quốc gia đóng vai trò quyết định đến thành công của nước đó trong
hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là hội nhập trong lĩnh vực nông nghiệp.
Vì vậy, cần khai thác nhân tố này để giải quyết đầu ra vào đầu vào cho sản
xuất nông nghiệp. Cũng từ đó, lôi cuốn các thành phần kinh tế tham gia sản
xuất kinh doanh nông nghiệp, hình thành các vùng chuyên canh xuất khẩu,
khai thác lơị thế so sánh, sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực của
từng vùng .
2.3 Nhóm nhân tố văn hoá – xã hội , chính trị .
- Nhân tố văn hoá – xã hội : Việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
gắn với nông thôn, trong khi đó ở nông thôn còn nhiều phong tục tập quán,
lối sổng bảo thủ, lạc hậu .Do vậy, khi đề ra phương án trồng cây gì, nuôi
con gì phải được điều tra kỹ lưỡng về hiệu quả cũng như đầu ra cho sản
phẩm, phát huy tiềm năng và phương thức sản xuất truyền thống, tập quán
trồng trọt và chăn nuôi của địa phương .
19
- Về nhân tố chính trị : Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá cần có sự ổn định chính
trị - xã hội. Về điểm này, chúng ta có Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chính
sách phát triển kinh tế xã hội đúng đắn thông qua việc vận dung sáng tạo
lý luận Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và kinh nghiệm quốc tế vào
thực tiễn Việt Nam .
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1
. Với mục tiêu xây dựng nước ta trở thành một nước công
nghiệp, có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ
sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất .
Như vậy, theo quan điểm của Đảng ta, công nghiệp hoá, hiện đại hoá
cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá vần chú ý những vấn đề sau :
Một là , chuyển dịch cơ cấu toàn bộ, bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu
vùng và cơ cấu các thành phần kinh tế; huy động đồng bộ mọi điều kiện,
mọi biện pháp, mọi yếu tố để phát triển kinh tế .
Hai là, chú trọng cải tạo, nâng cao trình độ hiện đại của trang thiết
bị hiện có, đồng thời đổi mới quy trình công nghệ trong sản xuất và quản lý
ở mọi ngành,, mọi lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội .
Nói cách khác, quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ
cấu thành phần kinh tế theo hướng hợp lý và hiệu quả cao hơn đòi hỏi nền
kinh tế phải được công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Ngược lại công nghiệp
hoá hiện đại hoá làm cho nền kinh tế tăng trưởng và thúc đẩy mạnh quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế .
Ở nước ta, cung như từng địa phương xu hướng chung của chuyển
dịch cơ cấu kinh tế trong năm tới là :
- Về cơ cấu ngành : Chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng cơ cấu
nông nghiệp,tăng tỷ trọng cơ cấu công nghiệp và dịch vụ .
- Xây dựng cơ cấu các thành phần kinh tế phù hợp gồm : Kinh tế nhà
nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân ( cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân ),
kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài .
1
Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy BCH TW khoá VIII, tr.65.
21
- Về cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ : Chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ theo
hướng phát triển toàn diện và tập trung có trọng điểm, phát triển tổng hợp

Than Uyên là một huyện thuộc tỉnh Lai Châu, nằm ở phía Tây dãy
núi Hoàng Liên Sơn, có toạ độ địa lý từ 21
0
42’ 18’’ – 22
0
18’10’’ vĩ độ
Bắc, 103
0
32’23’’ – 103
0
53’38’’ độ kinh Đông .Cách thị xã Lai Châu 97 km
về phía Nam.
- Phía Bắc giáp huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu.
- Phía Nam giáp huyện Mù Cang Chải tỉnh Yên Bái .
- Phía Đông giáp huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai.
- Phía tây giáp huyện Quỳnh Nhai và huyện Mường La tỉnh Sơn La.
- Tổng diện tích tự nhiên : 79.687,6 ha. Toàn huyện có 11 xã và 1 thị
trấn, dân số 5,8 vạn người. Có hệ thống giao thông tương đối phát triển ( có
đường quốc lộ 132, quốc lộ 279 chạy qua và đường nối từ quốc lộ 132 qua
thuỷ điện Huội Quảng, Bản Chát Huyện Than Uyên với thuỷ điện Sơn La ).
1.2 Địa hình của huyện được chia thành hai vùng cơ bản .
- Vùng 1 : gồm 5 xã và 1 thị trấn. Vùng này nằm dọc theo trục đường
quốc lộ 132. Có tổng diện tích 25.016,52 ha, chiếm 31,4 % diện tích toàn
huyện .
- Vùng 2 : gồm 6 xã. Vùng này nằm dọc theo sông Nậm Mu thuộc
phía Tây và phía Nam của huyện .
1.3 Khí hậu, thuỷ văn, các nguồn tài nguyên .
- Khí hậu :
23
Khí hậu tại huyện Than Uyên mang tính nhiệt đới gió mùa, tổng

Tổng diện tích tự nhiên 79.686,6 100
1. Đất nông nghiệp 31.193,28 39,14
- Đất sản xuất nông nghiệp 6.948 8,72
+ Đất trồng cây hàng năm 6.486 8,13
+ Đất trồng cây lâu năm 462 0,58
- Đất lâm nghiệp 23.906,28 30
- Đất nuôi trồng thuỷ sản 160 0,2
- Đất nông nghiệp khác 179 0,22
2. Đất phi nông nghiệp 4.510,31 5,66
- Đất ở 420 0,52
- Đất chuyên dùng 2.024,09 2,54
- Đất sông suối, mặt nước 1.362,66 1,71
- Đất khác 703,56 0,88
3. Đất chưa sử dụng 43.984,01 55,2
( Nguồn : phòng tài nguyên môi trường huyện Than Uyên )
+ Tài nguyên nước :
Nguồn nước ở huyện Than Uyên khá phong phú nhờ hệ thống sông,
suối bắt nguồn từ dãy núi Hoàng Liên Sơn chảy xuống, cùng với một số hồ
tích nước của thị trấn xã Mường Than, Mường Cang… đáp ứng cơ bản cho
nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân .
+ Tài nguyên rừng :
Tài nguyên rừng của huyện Than Uyên cơ bản là rừng tái sinh và
một diện tích nhỏ rừng trồng phòng hộ , Toàn huyện hiện nay có 23.906,28
ha rừng trong đó khoanh nuôi tái sinh là 21.000 ha. Trồng mới là 1906,28
ha, rừng phòng hộ. Hiện nay còn lại 35.984,01ha, đất núi đồi chưa sử dụng
đang tiến hành quy hoạch dự án giao cho các hộ gia đình và doanh nghiệp
đầu tư trồng rừng sản xuất .
+ Tài nguyên khoáng sản và vật liệu xây dựng :
Chủ yếu là đá vôi, đá xây dựng và cát sỏi, thuận tiện cho việc khai
thác vật liệu xây dựng . Ngoài ra, còn có mỏ than ở xã Mường Than, mỏ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status