NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH
TẾ NÔNG THÔN
1. Các khái niệm.
1.1 Khái niệm về cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có
quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trong những không gian và
thời gian , trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Nó thể hiện cả về mặt
định tính và định lượng, cả về số lượng và chất lượng, phù hợp với mục tiêu được
xác định của nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế không có tính chất cố định mà luôn vận
động, thay đổi để phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong từng thời kỳ
phát triển, nhằm tăng trưởng kinh tế nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội.
Cơ cấu kinh tế muốn phát huy được tác dụng cần có một quá trình, một thời
gian nhất định, quá trình ấy dài hay ngắn phụ thuộc từng hình thức chuyển dịch và
các chính sách kinh tế vĩ mô về ngành của Nhà nước...
Vì vậy cơ cấu kinh tế không mang tính ổn định lâu dài, mà từng thời kỳ phải
có một chính sách về cơ cấu kinh tế tương ứng thích hợp với sự biến động của điều
kiện tự nhiên ,kinh tế , xã hội.
Sự duy trì quá lâu hoặc thay đổi quá nhanh chóng cơ cấu kinh tế mà không
dựa vào những biến đổi của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội đều gây nên những
hại về kinh tế.
Vì vậy có nên chuyển dịch cơ cấu kinh tế hay không ? chuyển dịch nhanh
hay chậm không phải là sự mong muốn chủ quan, mà phải dựa vào mục tiêu, các
quy luật kinh tế để làm cơ sở cho quá tình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi nơi,
mỗi vùng và trong doanh nghiệp .
1.2. Khái niệm về cơ cấu kinh tế nông thôn:
Kinh tế nông thôn là một trong hai khu vực kinh tế đặc trưng của kinh tế
quốc dân: khu vực kinh tế nông thôn và khu vực kinh tế thành thị. Khu vực kinh tế
nông thôn có vị trí quan trọng, trước hết là khu vực sản xuất cung cấp lương thực,
thực phẩm cho toàn xã hội tồn tại và phát triển. Nó còn cung cấp ngày càng nhiều
các nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, cung cấp nguồn lao động phong phú
cho khu vực thành thị đó là thị trường rộng lớn để tiêu thụ sản phẩm công nghiệp
lưu thông tách khỏi sản xuất.
Như vậy sự phân công lao động theo ngành là cơ sở hình thành cơ cấu
ngành, sự phân công lao động phát triển ở trình độ cao, càng chặt chẽ thì sự phân
chia ngành càng đa dạng và sâu sắc. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất
và tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt sự phát triển của công nghiệp hiện đại,
cơ cấu kinh tế nông thôn được cải tiến nhanh chóng theo hướng công nghiệp hóa
và hiện đại hoá.
Cơ cấu kinh tế nông thôn bao gồm 3 nhóm: nông nghiệp (nông - lâm - ngư
nghiệp), công nghiệp nông thôn (bao gồm công nghiệp khai thác, chế biến, tiểu thủ
công nghiệp và công nghiệp truyền thống) và dịch vụ nông thôn (bao gồm dịch vụ
sản xuất và đời sống). Trong từng nhóm ngành được phân theo nhỏ hơn chẳng hạn
như trong nông nghiệp (theo nghiã hẹp) được phân theo như trồng trọt, chăn nuôi.
Trong ngành trồng trọt được chia tiếp thành: cây lương thực, cây công nghiệp, cây
rau đậu, cây ăn quả, cây dược liệu ...
Phân công lao động thực hiện càng sâu sắc thì cơ cấu ngành càng được phân
chia càng tỉ mỉ và đa dạng.Tiền đề của sự phân công lao động là năng suất lao động
nông nghiệp, chủ yếu là năng suất lao động của khu vực sản xuất lương thực, phải
đạt ở mức nhất định, đảm bảo số lượng và chất lượng lương thực cho xã hội mới
tạo nên sự phân công lao động giữa người sản xuất lương thực với người sản xuất
nguyên liệu cho công nghiệp, chăn nuôi... tạo nên sự phân công lao động giữa
những người làm nông nghiệp và những người làm ở các ngành khác... Có những
quốc gia không thể làm giàu bằng nông nghiệp mà phải làm giàu bằng công nghiệp
và dịch vụ. Nhưng muốn làm giàu bằng công nghiệp và dịch vụ có hiệu quả thì
trước hết phải coi trọng nông nghiệp, Nghĩa là nông nghiệp phải đảm bảo phát
triển đến mức độ nhất định tạo tiền đề và là điều kiện quan trọng cho sự phát triển
công nghiệp và dịch vụ với nhịp độ cao và ổn định.
2.2. Cơ cấu vùng lãnh thổ:
Sự phân công lao động theo ngành kéo theo sự phân công theo lãnh thổ. Đó
là 2 mặt của một quá trình gắn bó hữu cơ với nhau. Sự phân công lao động theo
ngành bao giờ cũng diễn ra trên vùng lãnh thổ nhất định.Nghĩa là cơ cấu vùng lãnh
các hộ chuyên làm thủ công nghiệp, dịch vụ. Để có sản xuất nông nghiệp hàng
hoá lớn chúng ta không dừng lại ở kinh tế hộ mà phát triển lên xây dựng kinh tế
nông trại rồi qui mô liên hộ. Tỷ trọng khu vực quốc doanh trong nông nghiệp
nông thôn có xu thế giảm dần, vì vậy cần rã soát lại sắp xếp lại và củng cố để
các đơn vị kinh tế quốc doanh trong nông nghiệp nông thôn phát triển có hiệu
quả.
Đối với khu vực kinh tế hợp tác chúng ta cần đổi mới các hợp tác xã kiểu cũ,
khuyến khích mở rộng và phát triển các hình thức hợp tác xã kiểu mới và trình độ
khác nhau, hợp tác xã và hộ nông dân cùng tồn tại, phát triển trên cơ sở tự nguyện
của các hộ thành viên và đảm bảo lợi ích thiết thực.
2.4. Cơ cấu kỹ thuật:
Cơ cấu kỹ thuật là quan hệ tỉ lệ về lượng giữa các yếu tố của quá tình sản
xuất, theo thời gian và điều kiện môi trường nhất định.
Cũng như cơ cấu thành phần kinh tế, trong thời gian dài cơ cấu kỹ thuật trong
nông thôn nước ta mang nặng tình cổ truyền và nông nghiệp truyền thống lạc hậu
phân tán, manh mún, và bảo thủ. Về kỹ thuật chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm qua
các thế hệ của từng hộ nông dân. Vì vậy, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất lớn
vào điều kiện tự nhiên.
Ngày nay dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và sự
phát triển mạnh mẽ của công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ đã làm phá
vỡ các hình thức, các phương thức sản xuất cổ truyển. Điều này đã làm cho cơ cấu
kỹ thuật ở nông thôn nước ta trong những năm qua có những chuyển biến chưa
từng có.
3. Đặc trưng của cơ cấu kinh tế nông thôn
* Cơ cấu kinh tế nông thôn mang tính khách quan và được hình thành do sự
phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội chi phối, ở một
trình độ phát triển nhất định sẽ có một cơ cấu kinh tế cụ thể tương ứng trong nông
thôn. ĐIều này khẳng định rằng việc xác lập cơ cấu kinh tế nông thôn phải tôn