* * * * *
Luận văn
Thực trạng và một số biện
pháp đẩy mạnh cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nước trên
địa bàn Hà Nội
- 1 -
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
3
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC
5
1.1. Sự cần thiết phải cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
5
1.1.1. Doanh nghiệp nhà nước và vai trò của doanh nghiệp nhà nước 5
1.1.2. Sự cần thiết phải cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước tại Việt
Nam 7
1.2. Nội dung và qui trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
3.1. Quan điểm, mục tiêu cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước của
Hà Nội đến cuối năm 2005.
31
3.1.1. Quan điểm tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 31
3.1.2. Mục tiêu 32
3.2. Một số giải pháp đẩy mạnh tiến trình cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nước ở Hà Nội.
34
3.2.1. Nâng cao nhận thức của cán bộ công nhân viên về cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nước
34
3.2.2. Hoàn thiện cơ chế chính sách về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nước
35
3.2.3. Lựa chọn doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá đồng thời củng
cố lại doanh nghiệp trước khi tiến hành cổ phần hoá 42
3.2.4. Hoàn thiện cơ chế định giá doanh nghiệp nhà nước 43
3.2.5. Cần có cơ chế phân bổ và tổ chức bán cổ phiếu hợp lí hơn 46
3.2.6. Gắn sự phát triển thị trường chứng khoán với cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nước
49
KẾT LUẬN
50
TÀI LIỆU THAM KHẢO
51 - 3 -
MỞ ĐẦU
- 5 -
Nội dung khoá luận được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nước.
Chương 2: Thực trạng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trên
địa bàn Hà Nội.
Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh tiến trình cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nước.
- 6 -
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HOÁ
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1.1. Doanh nghiệp nhà nước và vai trò của doanh nghiệp nhà nước
1.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước
Theo luật doanh nghiệp nhà nước do Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội
chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 20/04/1995 thì doanh nghiệp nhà nước
được định nghĩa như sau: Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà
nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc
hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước
giao.
Như vậy doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế được nhà nước
thành lập để thực hiện những mục tiêu do nhà nước giao. Và vì doanh nghiệp
nhà nước do nhà nước đầu tư vốn nên tài sản trong doanh nghiệp là thuộc sở
hữu nhà nước, còn doanh nghiệp chỉ quản lý, sử dụng tài sản theo quy định
của chủ sở hữu là nhà nước.
Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân có các quyền và nghĩa vụ
đòi hỏi vốn lớn mà các thành phần kinh tế khác không đủ sức đầu tư, do đó
mà doanh nghiệp nhà nước lại càng có vai trò quan trọng. Việc đánh giá vai
trò quan trọng của kinh tế nhà nước không chỉ dựa vào sự lời lỗ trước mắt mà
phải tính đến hiệu quả kinh tế lâu dài. Sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước
là một tất yếu khách quan. Để doanh nghiệp nhà nước phát huy vai trò chủ
đạo của mình, đòi hỏi nhà nước phải có chính sách quản lý thích hợp đối với
doanh nghiệp nhà nước. Nhưng cũng phải tôn trọng quy luật kinh tế khách
quan, để các doanh nghiệp nhà nước không là gánh nặng cho nhà nước về
kinh tế mà kinh tế nhà nước phải được sắp xếp lại cho hợp lý nâng cao hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.
- 8 -
1.1.2. Sự cần thiết phải cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước tại Việt
Nam.
1.1.2.1. Quan niệm về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và những ưu
việt của công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng nhau
góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp
và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn
của mình góp vào công ty. (Theo luật công ty ngày 21 - 12 – 1990)
Công ty cổ phần mang lại hiệu quả kinh doanh cao góp phần hoàn thiện
cơ chế thị trường, do quan hệ đa sở hữu trong công ty cổ phần nên quy mô có
khả năng mở rộng, huy động vốn dễ, thu hút được nhiều nhà đầu tư và tiết
kiệm của dân cư, nên có thể mở rộng quy mô nhanh. Công ty cổ phần có thời
gian tồn tại lâu dài vì vốn góp có sự độc lập nhất định với các cổ đông. Trong
công ty cổ phần, quyền sử dụng vốn tách rời quyền sở hữu nên hiệu quả sử
dụng vốn cao hơn. Đó là vì vốn trao vào trong tay các nhà kinh doanh giỏi,
biết cách để làm cho đồng vốn sinh lời. Mặt khác, do cơ chế phân bổ rủi ro
đặc thù, chế độ trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ trong mức vốn của
công ty nên các nhà đầu tư tài chính có thể mua cổ phần, tạo cơ hội để huy
Từ những lý do nêu trên, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt
Nam hiện nay vừa là đòi hỏi khách quan, vừa là điều kiện quan trọng để thúc
đẩy phát triển kinh tế đất nước.
1.1.2.2. Sự cần thiết phải cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam được thành lập ngay sau khi
miền Bắc được giải phóng. Hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước đã góp
phần tích cực vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ( ví
dụ như: cung cấp các sản phẩm chủ yếu về tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu
dùng cho xã hội ). Nhưng do cơ chế bao cấp, nền kinh tế tự cung tự cấp kéo
dài cả khi đất nước đã hoà bình thống nhất, dẫn đến triệt tiêu động lực sản
- 10 -
xuất kinh doanh. Sản xuất không theo nhu cầu mà theo chỉ tiêu pháp lệnh của
nhà nước, sản xuất đình trệ không có hiệu quả. Nhất là vào những năm 1960
tình hình trở nên xấu hơn khi các doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh
trên thị trường quốc tế.
Mục đích của việc thành lập doanh nghiệp nhà nước nhằm tạo tích luỹ
cho ngân sách nhà nước, tạo việc làm cho người lao động nhưng trong thực tế
các doanh nghiệp nhà nước không đáp ứng được những mục tiêu này. Do
doanh nghiệp nhà nước thường có xu hướng tập trung vào những ngành cần
vốn lớn sử dụng ít lao động, cộng thêm với trình độ của đội ngũ quản lý
doanh nghiệp có nhiều yếu kém, nên doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém
hiệu quả không đảm bảo được các mục tiêu nhà nước đặt ra đối với doanh
nghiệp nhà nước khi thành lập.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng kém hiệu quả của doanh
nghiệp nhà nước là:
- Do ảnh hưởng của cơ chế kế hoạch hoá tập trung trong điều kiện chiến
tranh kéo dài. Trong cơ chế đó coi kinh tế quốc doanh dựa trên chế độ sở hữu
toàn dân, xem nhẹ quy luật kinh tế khách quan của thị trường nên hạch toán
doanh nghiệp mang tính hình thức, đội ngũ cán bộ lãnh đạo quan liêu, nóng
doanh nghiệp cùng loại hoạt động chồng chéo về ngành nghề kinh doanh, cấp
quản lý trên cùng 1 địa bàn tạo nên sự cạnh tranh không lành mạnh, nảy sinh
nhiều tiêu cực.
+ Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước rất yếu vì chưa
chứng tỏ khả năng cạnh tranh trên thị trường vì mang tâm lý trông chờ ỷ lại
không tự xây dựng kế hoạch kinh doanh cho doanh nghiệp. Trên thực tế đã
chứng minh khả năng cạnh tranh và khả năng thành công của doanh nghiệp
phụ thuộc nhiều vào kế hoạch kinh doanh và kế hoạch cạnh tranh của doanh
nghiệp. Việc lựa chọn sản phẩm cho doanh nghiệp là yếu tố quan trọng hàng
- 12 -
đầu. Vì doanh thu mà sản phẩm mang lại phải bảo đảm bù đủ chi phí ngoài ra
còn phải có lợi nhuận.
+ Tình trạng thiếu vốn là phổ biến: trung bình mỗi doanh nghiệp có
11,6 tỷ đồng vốn do nhà nước cấp nhưng vốn hoạt động thực tế chỉ bằng 80%
vốn ghi trên sổ sách. Vốn lưu động chỉ còn 50 % huy động vào sản xuất kinh
doanh. Còn lại là công nợ khó đòi tài sản mất mát, kém phẩm chất, trang thiết
bị lạc hậu.
Vì thế việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả
gây lãng phí nguồn lực quốc gia, sang hình thức công ty cổ phần hay tư nhân
hoá doanh nghiệp nhà nước là cần thiết để nâng cao hiệu quả cạnh tranh của
doanh nghiệp và nền kinh tế.
1.2. NỘI DUNG VÀ QUI TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.2.1. Nội dung cơ bản của chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nước
Chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã được đề ra từ lâu
nhưng đến nay mới được quan tâm hợp lý, nhà nước đã đề ra nhiều giải pháp
để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình cổ phần hoá như nghị định
44/1998/NĐ-CP, nghị định 64/2002/NĐ-CP, bao gồm một số nội dung cơ bản
về cổ phần hoá như sau:
hỗ trợ sắp xếp và cổ phần hoá tổng công ty nhà nước. Tiền thu từ bán phần
vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá được sử dụng để hỗ trợ
doanh nghiệp thanh toán trợ cấp cho người lao động thôi việc mất việc tại thời
điểm cổ phần hoá hoặc sau khi người lao động chuyển sang làm việc tại công
ty cổ phần trong 5 năm đầu, kể từ khi công ty cổ phần được cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh. Tiền thu từ bán phần vốn nhà nước tại doanh
nghiệp nhà nước cổ phần hoá được sử dụng để hỗ trợ doanh nghiệp có khó
- 14 -
khăn về khả năng thanh toán, để xử lý các khoản nợ quá hạn, nợ bảo hiểm xã
hội.
Về xác định giá trị doanh nghiệp: Cho phép áp dụng nhiều phương
pháp xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hoá, đồng thời quy định tổ
chức xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá như cơ quan có thẩm quyền
quyết định cổ phần hoá doanh nghiệp sẽ chỉ định người đại diện làm chủ tịch
hội đồng, cơ quan tài chính (cung cấp) cử người đại diện làm chủ tịch hội
đồng; hoặc lựa chọn công ty kiểm toán và tổ chức kinh tế có chức năng định
giá. Giá trị quyền sử đụng đất được tính vào giá trị doanh nghiệp đối với diện
tích đất nhà nước giao cho doanh nghiệp để kinh doanh nhà và hạ tầng; doanh
nghiệp nhà nước cổ phần hoá được hưởng các quyền sử dụng đất theo quy
định của luật đất đai. Xác định lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước
cổ phần hoá được so với lãi suất của trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm ở
thời điểm gần nhất. Cho phép tính giá trị thương hiệu vào giá trị doanh
nghiệp, nếu rõ ràng thì được thị trường chấp nhận. Kết quả xác định giá trị
doanh nghiệp là cơ sở xác định mức giá sàn để tổ chức bán cổ phần cho các
đối tượng bên ngoài doanh nghiệp. Toàn bộ giá trị doanh nghiệp nhà nước để
cổ phần hoá do bộ trưởng các bộ, chủ tịch UBND tỉnh thành phố quyết định,
trừ trường hợp giá trị doanh nghiệp thực tế nhỏ hơn so với trên sổ sách kế
toán của doanh nghiệp từ 500 triệu đồng trở lên, thì cần phải thoả thuận bằng
văn bản của bộ tài chính.
Các sáng lập viên triệu tập đại hội đồng thành lập để thông qua điều lệ
công ty và các thủ tục cần thiết khác.
Công ty cổ phần có thể được uỷ ban nhân dân thành phố trực thuộc
trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương nơi công ty cổ phần đặt trụ
sở chính cho phép phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu. Nếu có đủ tiêu chuẩn
và điều kiện phát hành cổ phiếu.
- 16 -
1.3. KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỀ
CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.3.1. Kinh nghiệm Trung Quốc.
Trung Quốc là một nước sớm đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Trong những thập niên trước đây, do áp dụng một cách giáo điều mô hình
kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp của các nước Liên Xô và
Đông Âu, cùng với tư tưởng đồng nhất chế độ công hữu với kinh tế, nên quy
mô doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc luôn chiếm tới 90% tổng tài sản
quốc gia.
Để thực hiện một trong những nhiệm vụ cơ bản là cải cách khu vực
doanh nghiệp nhà nước, Trung Quốc đã sớm đề ra nhiều chính sách cải cách:
như mở rộng nhường quyền và nhường lợi ích xí nghiệp, thực hiện khoán lợi
nhuận tuy nhiên các chính sách này vẫn nằm trong khuôn khổ duy trì, giữ
nguyên hiện trạng mà chưa thay đổi căn bản chủ sở hữu, do đó chưa tạo ra
chuyển biến tích cực trong khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Từ những năm 1980, bên cạnh việc tiếp tục đẩy mạnh cải cách cơ chế
quản lý đối với doanh nghiệp nhà nước (thông qua hình thức hợp đồng và cho
thuê) Trung Quốc bắt đầu vào chương trình cải cách sở hữu theo 3 hướng :
- Thành lập công ty cổ phần, cổ đông bao gồm nhà nước, tập thể, cá
nhân; đối với doanh nghiệp lớn và vừa nhà nước nắm cổ phần khống chế.
- Phát triển ở mức độ nhỏ loại hình doanh nghiệp tư nhân.
- Phát triển các mô hình doanh nghiệp thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
trạng đối với xí nghiệp cổ phần do Nhà nước nắm cổ phần khống chế vẫn
không thay đổi được cơ chế quản lý (ban lãnh đạo cũ), hoạt động kinh doanh
theo lối cũ làm cho xí nghiệp chưa thể vận hành theo nguyên tắc thị trường).
Trong bản báo cáo về "Vấn đề bảo đảm quyền lợi và lợi ích của cổ
phần nhà nước trong xí nghiệp cổ phần" tháng 6/1994 của ông Phạm Nhạc -
Phó cục trưởng Cục quản lý cổ phần nhà nước còn nêu ra 3 tồn tại khác gồm:
"Một là, đại diện quyền sở hữu nhà nước trong công ty cổ phần không rõ
- 18 -
ràng, không hoàn toàn đại diện cho nhà nước. Hai là, tỷ trọng cổ phần nhà
nước có xu thế suy giảm rõ rệt, các công ty cổ phần ban đầu mới thành lập, cổ
phần nhà nước đều chiếm trên 50%, nhưng sau đó cổ phần nhà nước cứ giảm
dần, có công ty hàng năm giảm 10%. Ba là, cổ phần nhà nước không thể vận
hành (mua bán) nên về cơ bản trong tình trạng ngưng trệ, vốn nhà nước rất
khó bảo tồn và tăng giá trị".
Quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc sau giai
đoạn này đã được đẩy lên một bước mới.
Văn kiện đại hội Đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ 14 coi việc xây
dựng chế độ doanh nghiệp hiện là nhiệm vụ trung tâm trong kế hoạch 5 năm
lần thứ 9 (1993-1997).
Theo đó các xí nghiệp mới mang bốn đặc trưng :
- Quyền sở hữu tài sản rõ ràng.
- Quyền lợi và trách nhiệm của mọi chủ thể rõ ràng
- Chính quyền và xí nghiệp tách rời nhau
- Quản lý khoa học.
Trên cơ sở này, doanh nghiệp nhà nước được chuyển thành 5 loại:
- DN nhà nước : gồm các doanh nghiệp lớn có vị trí then chốt, do Nhà
nước quản lý và sở hữu.
- Công ty chung vốn đầu tư nhà nước : Gồm các doanh nghiệp công
cộng, xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà nước sở hữu trên 51%.
nước ngoài chiếm tới 41%.
- Cổ phần hoá muốn phát triển và mở rộng phải có sự gắn kết với thị
trường chứng khoán. Đặc biệt, Trung Quốc đã xoá bỏ sự phân biệt giữ cổ
phiếu Nhà nước (cổ phiếu A) và cổ phiếu của các cá nhân, pháp nhân (cổ
phiếu B) gọi chung là cổ phiếu đầu tư, tạo một sân chơi bình đẳng cho các
nhà đầu tư.
- 20 -
- Chính phủ Trung Quốc chú trọng đến giải pháp kích cầu và tạo cơ sở
ban đầu cho việc hình thành thị trường vốn trong nước. Bên cạnh việc mở
rộng đối tượng bán để các công dân có thể tham gia chương trình cổ phần
hoá, chính phủ còn có biện pháp hỗ trợ vốn ban đầu cho người lao động trong
doanh nghiệp, có các chính sách lãi suất, chính sách tài chính đúng, mở rộng
thị trường mua, kể cả việc bán cho người nước ngoài và chuyển nợ thành vốn
đầu tư.
- Thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài.
1.3.2. Kinh nghiệm thành phố Hồ Chí Minh
- Năm 1999: Có 42 doanh nghiệp đã được thông qua ban đổi mới
doanh nghiệp thành phố trong số này đã có 35 doanh nghiệp có quyết định
chuyển thể từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần; 5 doanh nghiệp
gửi đề án trình TW (doanh nghiệp có vốn trên 10 tỷ đồng) và 2 doanh nghiệp
đang hoàn tất hồ sơ trình chuyển thể.
- Năm 2000: Có 23 doanh nghiệp đã được thông qua ban đổi mới quản
lý doanh nghiệp thành phố, trong số này có 18 doanh nghiệp đã có quyết định
chuyển thể từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần và 5 doanh nghiệp
đang hoàn tất hồ sơ trình chuyển thể.
- Năm 2001: Có 32 doanh nghiệp được thông qua đề án cổ phần hoá
trong đó 28 doanh nghiệp đã có quyết định chuyển thể và 4 doanh nghiệp
đang trình hồ sơ, chờ quyết định chuyển thể.
Sau cổ phần hoá số lượng lao động tăng 10% với thu nhập tăng 20 %.
- 22 -
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP
NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
2.1. SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ Ở VIỆT NAM.
2.1.1. Giai đoạn thí điểm (1992-5/1996)
Giai đoạn này cả nước mới chỉ có 5 doanh nghiệp được cổ phần hoá.
Trong đó Hà Nội không có doanh nghiệp nào được cổ phần hoá. Các công ty
được cổ phần hoá đó là công ty cổ phần chế biến thức ăn gia súc Việt
Phương, cổ phần hoá vào ngày 1/7/1995 với tổng vốn là 7.912 triệu đồng, nhà
nước nắm giữ 30% số cổ phần tại doanh nghiệp. Công ty cổ phần đại lý liên
hiệp vận chuyển cổ phần hoá ngày 1/7/1993 với số vốn là 6.200 triệu đồng.
Công ty cổ phần cơ điện lạnh ngày 1/10/1993 với số vốn ban đầu là 16.000
triệu đồng.
Còn các công ty khác được cổ phần hoá lại ở các địa phương khác, mà
nhà nước chủ yếu chỉ nắm giữ 30% cổ phần tại công ty. Riêng tại Công ty cổ
phần đại lý liên hiệp vận chuyển nhà nước chỉ nắm giữ 18% tổng số cổ phần.
Các nghị quyết hội nghị Trung ương 2 khóa VII, Nghị quyết 10 của Bộ
Chính trị, Thông báo số 63 TB/TW của Bộ chính trị, Nghị quyết Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nghị quyết kỳ họp thứ 10 quốc hội khóa VII
ngày 26/12/1991, Nghị quyết kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa IX tháng 12/1993
đều chủ trương:
- Thực hiện từng bước vững chắc việc cổ phần hoá một bộ phận doanh
nghiệp mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn nhằm ngăn chặn tiêu cực, thúc
đẩy doanh nghiệp Nhà nước làm ăn có hiệu quả.
- Phải làm thí điểm, chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi
mở rộng phạm vi thích hợp.
- 24 -
nghiệp phải xử lý trước khi tiến hành cổ phần hóa), làm cho các doanh nghiệp
gặp nhiều khó khăn hết sức lúng túng khi xử lý các vấn đề tồn tại. Thậm chí
một số doanh nghiệp đã xin thôi không làm thí điểm vì trong một thời gian
dài vẫn chưa xác lập được quyền sở hữu đối với một số tài sản được tiếp quản
trong quá trình cải tạo công thương, hoặc không tự xử lý nổi các tồn tại về
mặt tài chính khác như: các khoản lỗ, công nợ khó đòi hoặc hàng hóa ứ đọng
kém, mất phẩm chất
- Chưa có các chính sách ưu đãi thỏa đáng cho doanh nghiệp và người
lao động ở các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa, dẫn tới người lao động ở
các doanh nghiệp này cảm thấy quyền lợi mình không được đảm bảo, quá bị
thiệt thòi khi chuyển sang hình thức công ty cổ phần.
2.1.2. Giai đoạn mở rộng (5/1996-6/1998):
Trong giai đoạn này đã có nhiều doanh nghiệp nhà nước được cổ phần
hoá hơn trong giai đoạn trước nhờ chính phủ đã quan tâm hơn đến công tác cổ
phần hoá doanh nghiệp nhà nước. Và việc một số doanh nghiệp đã cổ phần
hoá thành công đã và đang thu được nhiều kết quả khả quan cải thiện đáng kể
năng lực cạnh tranh của công ty và hiệu quả sản xuất kinh doanh so với trước
khi cổ phần hoá, đã thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá ở Việt Nam nhưng tốc độ
vẫn chậm chạp chưa đảm bảo thực hiện được kế hoạch của nhà nước giao. Cụ
thể đã có 111 doanh nghiệp đã được tiến hành cổ phần hoá chiếm 2% so với
tổng số doanh nghiệp nhà nước.
Trong đó Hà Nội chiếm khoảng 3,6% tổng số doanh nghiệp cổ phần
hoá trên cả nước. Đặc biệt là năm 1998 trên địa bàn Hà Nội đã cổ phần hoá
được 30 công ty với tổng số vốn đầu tư đạt 119.341 triệu đồng trong đó vốn
nhà nước là 28.744 triệu đồng chiếm 24% tổng vốn đầu tư, vốn do cổ đông
trong doanh nghiệp nắm giữ là 61.655 triệu đồng chiếm 51,6% số cổ phần của
doanh nghiệp còn lại là số vốn do cổ đông ngoài doanh nghiệp nắm giữ, chỉ
chiếm 24,3%. Như vậy cổ đông trong doanh nghiệp là người nắm giữ tỷ lệ áp