Luận văn
Thực trạng và giải pháp
nhằm đa dạng hoá sản phẩm
nước ép trái cây tại Công ty
Cổ phần Thăng Long
Luận văn tốt nghiệp
1
LỜI MỞ ĐẦU
Công ty Cổ phần Thăng Long là một doanh nghiệp Nhà nước cổ phần
hoá từ tháng 6 năm 2000. Tiền thân là Công ty rượu - nước giải khát Thăng
Long. Từ khi thành lập đến nay, sản phẩm chủ yếu của Công ty là Vang hoa
quả các loại. Sản phẩm Vang hoa quả của Công ty không ngừng được hoàn
Phòng Thị trường và Công ty Cổ phần Thăng Long đã giúp tôi hoàn thành tốt
luận văn này. Luận văn tốt nghiệp
3
PHẦN THỨ NHẤT
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN THĂNG LONG
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Thăng
Long
Công ty Cổ phần Thăng Long, tiền thân là Xí nghiệp Rượu - nước giải
khát Hà Nội đã được thành lập từ năm 1989 theo Quyết định của UBND thành
phố Hà Nội. Từ đó cho đến nay, Công ty đã trải qua nhiều giai đoạn phát
triển. Quá trình đó có thể tạm chia thành ba giai đoạn phát triển chính như
sau:
Giai đoạn 1989 - 1993
Đây là giai đoạn bắt đầu thành lập, Công ty có tên là Xí nghiệp rượu -
nước giải khát Thăng Long. Xí nghiệp được thành lập theo quyết định số
6415/QĐUB ngày 24/3/1989 của UBND thành phố Hà Nội.
Khi thành lập, xí nghiệp chỉ là một đơn vị sản xuất nhỏ với 50 công
nhân, cơ sở vật chất nghèo nàn, sản xuất hoàn toàn thủ công. Vượt qua khó
khăn bước đầu thành lập, sản lượng sản xuất của xí nghiệp không ngừng tăng
lên, diện tích kho bãi ngày càng mở rộng. Đời sống cán bộ công nhân viên
được cải thiện. Mức nộp ngân sách tăng từ 337 triệu đồng (năm 1991) lên
1.976 triệu đồng (năm 1993). Sản phẩm vang Thăng Long đã dần tìm được
chỗ đứng trên thị trường.
Giai đoạn 1994 - 2001
Đây là giai đoạn phát triển vượt bậc về năng lực sản xuất, chất lượng
cực tham gia công tác xã hội. Công ty đã tổ chức và phối hợp tổ chức nhiều
hoạt động văn nghệ, thể thao lôi cuốn đông đảo người lao động tham gia.
Hiện nay công ty đang nhận phụng dưỡng 15 bà mẹ Việt Nam anh hùng, 3 bà
mẹ liệt sĩ. Với những thành tựu đó, Công ty đã nhận được danh hiệu Anh
hùng lao động thời kỳ đổi mới và nhiều huân, huy chương các loại. Sản phẩm
vang của Công ty đã nhiều năm liền giành được danh hiệu “Hàng Việt Nam
chất lượng cao” cùng nhiều cúp vàng, giải thưởng vàng Hội chợ quốc tế tại
Việt Nam.
Luận văn tốt nghiệp
5
Qua các giai đoạn, công ty ngày càng lớn mạnh và không ngừng phát
triển, có mức tăng trưởng sản xuất nộp Ngân sách cao, luôn xứng đáng là một
trong những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đi đầu trong ngành sản xuất
Vang.
2. Chức năng, nhiệm vụ của Công ty Cổ phần Thăng Long
Với những đặc điểm ngành nghề kinh doanh trên, Công ty đã quy định
chức năng, nhiệm vụ cụ thể trong điều lệ của Công ty như sau:
Tổ chức sản xuất kinh doanh các loại đồ uống có cồn, không có
cồn và các mặt hàng theo đăng ký kinh doanh, mục đích thành lập của
Công ty Cổ phần Thăng Long.
Bảo toàn và phát triển nguồn vốn kinh doanh.
Thực hiện các nhiệm vụ do HĐQT và Giám đốc điều hành đề ra.
Thực hiện các nghĩa vụ do HĐQT và Giám đốc điều hành đề ra.
Thực hiện các nghĩa vụ với Nhà nước theo luật định.
Thực hiện phân phối theo lao động, không ngừng chăm lo và cải
thiện đời sống vật chất tinh thần; bồi dưỡng nâng cao trình độ văn hoá,
khoa học, kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ cho nhân viên.
Bảo vệ sản xuất, bảo vệ môi trường và an ninh trật tự.
Công ty Cổ phần Thăng Long hoạt động theo nguyên tắc hạch
- Chủ tịch hội đồng quản trị: Là người lập chương trình, kế hoạch hoạt động
của Hội đồng quản trị, theo dõi quá trình tổ chức thực hiện các quyết định của
Hội đồng quản trị.
- Giám đốc điều hành: Là người trực tiếp điều hành toàn bộ mọi hoạt động
của công ty.
- Phó giám đốc điều hành: Là người giúp Giám đốc quản lý các nhiệm vụ của
sản xuất, chịu trách nhiệm trước Giám đốc những nhiệm vụ được giao.
- Phòng Tổ chức: Chức năng chính là thực hiện quản lý nhân sự, đảm bảo
nguồn lao động của công ty hợp lý; tuyển lao động mới; lập kế hoạch tiền
lương công nhân.
- Phòng Hành chính: Thực hiện quản lý hành chính; quản lý hồ sơ văn thư lưu
trữ và các thiết bị văn phòng, nhà khách; tổ chức công tác thi đua tuyên
truyền.
- Phòng Kế toán: Chịu trách nhiệm về sổ sách hành chính của công ty; thực
hiện nhiệm vụ lập kế hoạch tài chính, tính toán chi phí, thu hồi công nợ, hạch
toán lãi, thanh toán lương cho công nhân, thanh toán tiền hàng cho khách
hàng, đảm bảo cho hoạt động tài chính của công ty được hoạt động thông
suốt.
- Phòng Cung tiêu: Làm nhiệm vụ nghiên cứu, tiếp cận và phân tích nguồn
nguyên vật liệu đầu vào; đảm bảo cung cấp kịp thời, đầy đủ cả về số lượng và
Luận văn tốt nghiệp
9
chất lượng cho quá trình sản xuất; đồng thời tổ chức công tác tiêu thụ sản
phẩm.
- Phòng Nghiên cứu - Đầu tư và Phát triển: Hoàn thiện quy trình sản xuất
đồng thời nghiên cứu sản phẩm mới.
- Phòng Thị trường: Nghiên cứu và phát triển, mở rộng thị trường; phát hiện
sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng và thực hiện công tác tiêu
thụ sản phẩm.
nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Trong giai đoạn đầu tiên từ 1991 - 1995,
tốc độ tăng trưởng của Công ty đạt mức cao nhất, trung bình khoảng 70% một
năm. Đến giai đoạn thứ hai 1996 - 2000, tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 2,0
- 2,5%/năm. Riêng năm 2001, tốc độ tăng trưởng đạt 5,7%. Còn giai đoạn
2002 - 2004, kết quả kinh doanh cụ thể được thể hiện trong bảng Các chỉ tiêu
kinh doanh chủ yếu dưới đây:
Luận văn tốt nghiệp
11
Luận văn tốt nghiệp
12
Qua bảng trên ta có thể thấy tình hình sản xuất - kinh doanh của Công
ty đang có xu hướng phát triển tốt. Điều đó được thể hiện rất rõ qua các chỉ
tiêu doanh thu tăng đều từ năm 2002 - 2004. Doanh thu năm 2003 là 65.000
triệu đồng, tăng 9,73% so với năm 2002 ( doanh thu là 59.235 triệu đồng).
Doanh thu năm 2004 là 66.290 triệu đồng, tăng 1,98% so với năm 2003.
Doanh thu liên tục tăng chứng tỏ tình hình sản xuất - kinh doanh của Công ty
đang phát triển, khả năng tiêu thụ hàng hoá cao. Bên cạnh việc tăng doanh thu
thì chi phí sản xuất - kinh doanh của Công ty cũng tăng trong giai đoạn này.
Tổng chi phí năm 2003 tăng 5.715 triệu đồng so với năm 2002 ( 10,94%).
Tổng chi phí năm 2004 tăng 959 triệu đồng so với năm 2003 ( 1,59%). Việc
tăng chi phí sản xuất - kinh doanh của Công ty trong giai đoạn này là một điều
dễ hiểu do mức sản lượng sản xuất của Công ty tăng. Mặc dù chi phí sản xuất
- kinh doanh tăng nhưng mức lợi nhuận đạt được hàng năm của Công ty vẫn
tăng. Năm 2003, lợi nhuận của Công ty tăng 50 triệu đồng so với năm 2002 (
1,05%). Lợi nhuận năm 2004 tăng 331 triệu đồng so với năm 2003 ( 6,89%).
Qua việc phân tích ba chỉ tiêu doanh thu, chi phí, lợi nhuận ta có thể thấy tình
hình sản xuất - kinh doanh của Công ty năm 2004 đạt hiệu quả cao hơn so với
năm 2003.
Tổng vốn kinh doanh của Công ty cũng liên tục tăng trong giai đoạn
2002 - 2004. Năm 2003, tổng vốn kinh doanh của Công ty tăng gần 1.587
năm đều giảm 0,01. Điều đó cho thấy Công ty chưa sử dụng hiệu quả về mặt
lao động. Sau khi xem xét các chỉ tiêu trên ta có thể thấy các chỉ tiêu hiệu quả
tương đối của Công ty là chưa cao so với mức tăng trưởng chung của toàn
ngành. Cụ thể, chỉ tiêu Lợi nhuận/Tổng doanh thu của ngành này trung bình ở
mức 30 - 40% nhưng Công ty chỉ đạt trung bình ở mức 7,71% trong giai đoạn
này.
Luận văn tốt nghiệp
14
PHẦN THỨ HAI
THỰC TRẠNG ĐA DẠNG HOÁ SẢN PHẨM TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN THĂNG LONG
1. Những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của Công ty ảnh hưởng đến
hoạt động đa dạng hoá sản phẩm
1.1. Đặc điểm về nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu chủ yếu cho quá trình sản xuất sản phẩm Vang bao gồm:
các loại quả, cồn thực phẩm, men giống, đường, chai, nhãn, nút, nắp chai, vỏ
hộp.
1.1.1. Các loại quả
Hiện nay, với 14 sản phẩm Vang và rượu khác nhau, Công ty sử dụng 7
loại nguyên liệu quả chính là: nho, vải, dứa, mơ, mận, dâu, sơn tra. Với đặc
điểm Việt Nam là một nước nông nghiệp, có khí hậu là nhiệt đới gió mùa nên
hoa quả của Việt Nam rất phong phú, đa dạng và số lượng lớn. Vang là sản
phẩm lên men từ trái cây thiên nhiên nên từ các loại quả khác nhau có thể sản
xuất một sản phẩm Vang khác nhau. Đây là một trong những điều kiện thuận
lợi cho việc đa dạng hoá sản phẩm Vang. Công ty đã khai thác nguồn nguyên
liệu sẵn có của các địa phương trong nước cụ thể là:
Bảng 2. Danh mục nguyên liệu quả chủ yếu
STT Các loại quả Vùng nguyên liệu quả
1 Nho Ninh thuận, Phan Rang
nhiều hạn chế về chất lượng như hàm lượng axit tổng hợp lớn, dễ chảy vữa do
đó dễ bị tạp nhiễm các vi sinh vật, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng sản phẩm.
Loại chai được sử dụng để chứa đựng sản phẩm vang là chai thuỷ tinh,
nhập từ hai nguồn khác nhau. Nguồn thứ nhất là mua chai mới của một Công
ty liên doanh. Nguồn thứ hai là thu mua chai cũ (đã qua sử dụng) của công ty.
Việc thu mua chai qua con đường thứ hai có vai trò rất quan trọng đó là tiết
Luận văn tốt nghiệp
16
kiệm chi phí, giảm lượng rác thải và quan trọng nhất là tránh nạn làm hàng
giả, hàng nhái.
Các loại Vang khác nhau chỉ khác nhau ở loại nguyên liệu quả được sử
dụng. Còn các loại phụ gia đi kèm (men, đường nguyên liệu, cồn thực
phẩm ) và bao gói sử dụng đều giống nhau. Như vậy, các doanh nghiệp sản
xuất Vang có thể tận dụng các nguyên vật liệu sẵn có để sản xuất nhiều sản
phẩm Vang khác nhau. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện đa dạng
hoá sản phẩm Vang theo dòng sản phẩm. Ngoài ra, có nhiều sản phẩm khác
cũng được chế biến từ hoa quả các loại như nước ép trái cây, nước hoa quả đã
qua chế biến, nước hoá quả lên men, nước hoa quả có ga nhẹ. Công ty có thể
tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có để đa dạng hoá những sản phẩm mới hoàn
toàn để đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng.
1.2. Đặc điểm máy móc thiết bị và công nghệ
Trước năm 1994, công nghệ sản xuất Vang của Công ty là công nghệ
truyền thống nên khá lạc hậu, khả năng cơ giới hoá chỉ chiếm 20% trong khi
lao động thủ công chiếm tới 80% khiến cho năng suất lao động thấp và chất
lượng sản phẩm không đồng đều. Nhận thức được tầm quan trọng đó, ban
lãnh đạo Công ty đã quyết tâm khắc phục mọi khó khăn để đầu tư đổi mới
máy móc thiết bị và công nghệ sản xuất. Đến nay, Công ty đã tập trung vào
công tác nghiên cứu khoa học; mạnh dạn đầu tư mua sắm máy móc thiết bị;
xây dựng nhà xưởng và đã làm chủ được dây chuyền sản xuất hiện đại vào
bậc nhất nước ta hiện nay. Thông qua Bảng cơ cấu máy móc thiết bị chủ yếu
Biểu đồ 1. Tổng số lao động qua các năm
292
295
310
315
280
290
300
310
320
2001 2002 2003 2004
N¨m
Tæng sè lao ®éng
(Nguồn: Phòng Tổ chức – Công ty Cổ phần Thăng Long, năm 2004)
Luận văn tốt nghiệp
20
Trong tổng số lao động như vậy, cơ cấu nam - nữ của công ty tương đối
đồng đều. Năm 2003, trong tổng số 310 lao động bao gồm 155 nam và 155
nữ; như vậy tỷ lệ tương ứng là 50 % - 50%. Năm 2004, trong tổng số 315 lao
động bao gồm 158 nam và 157 nữ; tỷ lệ tương ứng là: 50,01% - 49,99%. Bên
cạnh việc không ngừng tăng lên về số lượng, chất lượng lao động trong doanh
nghiệp cũng ngày càng được nâng cao. Điều đó được thể hiện rất rõ qua Bảng
cơ cấu lao động theo trình độ của Công ty dưới đây
Bảng 4. Cơ cấu lao động theo trình độ của Công ty Cổ phần Thăng Long
Năm (ĐVT: người) 2002/2001 2003/2002 2004/2003 Chỉ
tiêu
2001 2002 2003 2004 Chênh
lệch
Tỷ lệ
- 4.44
CNKT
17
5
177
158
163 2
1.14
- 19 -10.73
5
3.16
LĐPT 42
41
30
29 - 1 -2.38 - 11 -26.83
-1 -3.33
Tổng
số
292
295
310
315 3
1.03
15
5.08
( Nguồn: Phòng Tổ chức – Công ty cổ phần Thăng Long, năm 2005)
Công ty có hai xưởng sản xuất là xưởng Vĩnh Tuy và xưởng ngay tại
trụ sở Công ty. Các xưởng sản xuất của Công ty bao gồm 4 phân xưởng chính
là phân xưởng đóng vang và rửa chai, phân xưởng lên men, phân xưởng lọc
vang, phân xưởng thành phẩm. Nhiệm vụ chủ yếu của phân xưởng thành
phẩm là phụ trách khâu chiết chai, đóng nút, dán nhãn, đóng thùng. Dưới các
phân xưởng là các tổ sản xuất. Như vậy có thể thấy cơ cấu sản xuất của Công
ty được xây dựng theo kiểu trực tuyến. Việc xây dựng cơ cấu sản xuất như
vậy là do đặc điểm sản xuất của công ty là theo dây truyền. Quản lý theo kiểu
trực tuyến sẽ giúp cho quá trình sản xuất được thông suốt, tránh trồng chéo
tuy vậy cũng hạn chế việc kiểm soát lần nhau giữa các bộ phận.
Cơ cấu tổ chức sản xuất theo quá trình tại các xưởng sản xuất, bố trí các
hoạt động sản xuất có chức năng tương tự tại các phân xưởng, là cơ sở thuận
lợi cho việc thực hiện các hoạt động đa dạng hoá tại Công ty Cổ phần Thăng
Long. Nếu cơ cấu tổ chức theo sản phẩm, tức là lập dây chuyền khép kín để
Công ty
Xưởng sản xuất Vĩnh
Tuy
Xưởng sản xuất Lạc Long
QuânPhân xưởng
đóng Vang
phẩm
Các tổ sản xuất
Tổ
kho
vận
Tổ
kho
vận
Luận văn tốt nghiệp
22
chuyên môn hoá sản xuất một loại Vang sẽ làm cho số lượng Vang bị hạn chế.
Thêm vào đó, nếu muốn đa dạng hoá (đổi mới, hay tạo ra sản phẩm mới ) sẽ
yêu cầu thay đổi toàn bộ dây chuyền sản xuất. Như vậy sẽ rất tốn kém về chi
phí, thời gian và công sức. Thay vì tổ chức sản xuất như vậy, Công ty Cổ
phần Thăng Long bố trí sản xuất theo quá trình, cơ cấu tổ chức sản xuất này
cho phép thiết lập được rất nhiều quy trình sản xuất. Do đó, có thể sản xuất
được rất nhiều sản phẩm khác nhau theo nhu cầu của thị trường. Hầu hết các
loại Vang đều có quy trình công nghệ khác nhau, sự khác biệt chỉ thể hiện ở
ba công đoạn cơ bản, gồm có: Sơ chế quả, lên men và ngâm dịch. Thông qua
hình thức bố trí này Công ty có thể sử dụng các máy móc thiết bị, công cụ
khác nhau trong 3 công đoạn trên để tạo ra các loại Vang khác nhau.
1.5. Đặc điểm về vốn
Nhìn chung tổng vốn kinh doanh của Công ty Cổ phần Thăng Long có
chiều hướng tăng lên trong những năm qua (2001-2004), từ 39.463.768 nghìn
đồng năm 2001 tăng lên 49.152.315 nghìn đồng năm 2004 (tăng 124,5%).
Trong đó, tỷ trọng vốn cố định có xu hướng tăng lên, từ 16.127.251 nghìn
đồng lên đến 22.800.101 nghìn đồng (tăng 141,376%). Ngược lại, vốn lưu
động có xu hướng giảm trong tổng số vốn của Công ty, từ 59.13% năm 2001
giảm còn 53.61% năm 2004.Có thể thấy rõ điều này thông qua bảng sau:
Bảng 5. Cơ cấu vốn của Công ty cổ phẩn Thăng Long (Đơn vị: 1000đ)
53.61
Vốn cố
định
16.127.251
40.87
20.729.935
46.3
21.243.000
45.82
22.800.101
46.39
( Nguồn: Phòng Kế toán – Công ty Cổ phần Thăng Long, năm 2004)
Như vậy có thể thấy trong những năm qua Công ty đã chú trọng đầu tư
vào tài sản cố định. Nguyên nhân cơ bản là do Công ty đã đầu tư vốn vào việc
cải tiến dây chuyền vừa nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm vừa mua thêm
Luận văn tốt nghiệp
23
nhiều thiết bị để sản xuất ra các sản phẩm Vang mới, đẩy mạnh thực hiện
chính sách đa dạng hóa sản phẩm của Công ty.
Khả năng hiện tại về vốn của Công ty Cổ phần Thăng Long là khá lớn.
Không những thế trong những năm qua do kinh doanh có hiệu quả nên uy tín
2.1.2 Nhu cầu thị trường trong nước
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu
tiêu dùng Vang tại thị trường Việt Nam đã tăng lên đáng kể. Điều này có thể
thấy thông qua tổng số lượng Vang được tiêu thụ của các doanh nghiệp sản
xuất Vang chính ở Việt Nam và lượng Vang được nhập từ nước ngoài như
bảng sau:
Bảng 6. Tổng nhu cầu tiêu dùng Vang trong thời kỳ 2001-2004
Năm 2001 2002 2003 2004
Sản lượng tiêu thụ
(Đơn vị: Lít)
14.854.000
17.356.000 21.846.000
25.467.000
Tốc độ tăng trưởng(%)
- 116,84 125,87 116,57
(Nguồn: Tổng Công ty Rau Quả Việt Nam)
Ngoài ra, theo các kết quả nghiên cứu của các chuyên gia nước ngoài,
nhu cầu tiêu dùng Vang chịu ảnh hưởng bởi một số nhân tố cơ bản như: dân
số, thu nhập dân cư, truyền thống văn hoá dân tộc và tốc độ đô thị hoá. Những
yếu tố này đang phát triển khá mạnh mẽ ở Việt Nam. Dân số Việt Nam dự báo
năm 2005 sẽ khoảng 80 triệu dân và đến năm 2010 là 90 triệu dân, trong đó
lứa tuổi thường xuyên dùng Vang (từ 20 tuổi đến 50 tuổi) chiếm tỷ trọng
37%. Cụ thể lứa tuổi này vào năm 2005 khoảng 30 triệu và năm 2010 là 34
triệu. Như vậy, có thể nói Việt Nam là một thị trường tiềm năng đối với các
nhà sản xuất và kinh doanh Vang.
Nhu cầu tiêu dùng Vang sẽ còn tăng mạnh thông qua nghiên cứu tốc độ