Đề tài: TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT VÀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HUYỆN BA BỂ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX - Pdf 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN ĐỨC THẮNG
TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT
VÀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HUYỆN BA BỂ
NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐÀM THỊ UYÊN
THÁI NGUYÊN - 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài
Giáo sư Trần Văn Giàu từng viết: “Trải qua mấy ngàn năm, nước ta vẫn
là một xứ nông nghiệp và lấy xã thôn làm đơn vị cơ sở. Tới đầu thế kỷ XIX,
cương vực nước ta mới ổn định và thống nhất về mặt hành chính suốt từ ải
Nam Quan tới mũi Cà Mau, gồm khoảng 18.000 làng với các tên gọi khác

Từ những kinh nghiệm được đúc kết trong quá trình nghiên cứu tình
hình ruộng đất và nông nghiệp không chỉ có tác dụng tìm hiểu địa phương đó
trong một khoảng thời gian nhất định là nửa đầu thế kỷ XIX, mà còn có ý
nghĩa trong cuộc sống hiện đại. Chúng ta có thể học tập từ cha, ông ta trên
nhiều lĩnh vực như: quản lý ruộng đất, kinh nghiệm canh tác, cải tạo tự nhiên,
tìm hiểu về dòng họ mình thời xưa, kết cấu làng bản trong lịch sử…
Xuất phát từ quan điểm nghiên cứu, tìm hiểu tình hình nông nghiệp và
chế độ quản lý ruộng đất triều Nguyễn - một trong những vấn đề cơ bản của
lịch sử phong kiến Việt Nam, từ đó tìm hiểu tình hình ruộng đất, nông nghiệp
của huyện Ba Bể qua một thời kỳ lịch sử cụ thể là nửa đầu thế kỷ XIX. Việc
nghiên cứu này cũng có thể góp phần thực hiện chính sách của Đảng, nhà
nước trong việc đầu tư phát triển kinh tế, xã hội các tỉnh trung du miền núi
phía Bắc nói chung và Bắc Kạn nói riêng. Chúng tôi lựa chọn đề tài “Tình
hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp huyện Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) nửa
đầu thế kỷ XIX ” làm đề tài tốt nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp từ lâu đã được các sử gia
phong kiến nhà Nguyễn chú ý. Có thể ra các tác phẩm tiêu biểu có đề cập đến

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
vấn đề nông nghiệp và ruộng đất như: Lịch triều hiến chương loại chí, Đại
Nam nhất thống chí, Đồng Khánh dư địa chí
Từ sau năm 1945 trở lại đây đã có nhiều công trình nghiên cứu sâu rộng
về tình hình ruộng đất và nông nghiệp Việt Nam trong lịch sử như: Chế độ
ruộng đất ở Việt Nam từ thế kỷ XI-XVIII của Trương Hữu Quýnh, Tìm hiểu
chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX của Vũ Huy Phúc, Tình hình
ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn của Trương
Hữu Quýnh - Đỗ Bang (chủ biên), Địa Bạ Hà Đông của Phan Huy Lê và

của Lê Thị Thu Hương…
Chúng tôi xem các thành quả nghiên cứu của những người đi trước là
những ý kiến gợi mở, những kinh nghiệm quý báu để thực hiện đề tài nghiên
cứu địa bạ của mình, nhằm mục đích tìm hiểu các vấn đề trên. Đặc biệt
những địa phương có đặc thù gần gũi về mặt địa lý đối với địa bàn huyện Ba
Bể sẽ là đối tượng để chúng tôi so sánh và đối chiếu.
Như vậy, cho đến nay, chưa có một tác phẩm là kết quả của một công
trình nghiên cứu toàn diện về nông nghiệp và địa bạ vùng trung du và miền
núi phía Bắc được xuất bản. Chính vì vậy, vẫn còn nhiều vấn đề về chế độ sở
hữu ruộng đất, thành phần dân tộc, tình hình ruộng đất nông nghiệp của
vùng này còn trống vắng cần được nghiên cứu.
3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: thực hiện đề tài “Tình hình ruộng đất và kinh
tế nông nghiệp huyện Ba Bể(tỉnh Bắc Kạn) nửa đầu thế kỷ XIX ”, trên cơ
sở nguồn tư liệu khai thác được, chúng tôi mong muốn góp phần phản ánh
một cách khách quan, khoa học về ruộng đất và kinh tế nông nghiệp huyện Ba
Bể, tỉnh Bắc Kạn vào thời điểm giữa thế kỷ XIX. Từ đó, đề tài tiến hành phân
tích và đưa ra một số nhận xét về tình hình ruộng đất và cơ cấu kinh tế - xã
hội của địa phương.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
- Đối tượng nghiên cứu: tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp
huyện Ba Bể nửa đầu thế kỷ XIX.
- Giới hạn nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu tình hình ruộng đất và
kinh tế nông nghiệp huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn nửa đầu thế kỷ XIX. Đây là
giai đoạn lịch sử Việt Nam có nhiều biến động về kinh tế, chính trị, xã hội.
Điều đó đã tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển của huyện Ba Bể, khi
đó còn nằm trong tỉnh Thái Nguyên.

phương pháp hồi cố và điền dã làm trọng tâm. Sử dụng phương pháp lịch sử
và phương pháp lôgíc, phương pháp thống kê, đối sánh,phương pháp phân
tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân loại, phương pháp phê phán
tư liệu nhằm mục đích làm rõ vấn đề nghiên cứu.
5. Đóng góp của luận văn
Đề tài này được thực hiện nhằm đạt được những thành quả cụ thể:
Từ góc độ địa lý lịch sử phân tích một cách khái quát về vị trí địa lý
huyện Ba Bể.
Thống kê chi tiết địa bạ huyện Ba Bể tới từng chủ sở hữu.
Trên cơ sở các kết quả thống kê diện tích, chúng tôi tiến hành phân tích
và đối chứng so sánh, rút ra những kết luận về ảnh hưởng của những thập kỷ
chiến tranh, loạn lạc tới tình hình ruộng đất và nông nghiệp, đặc điểm chế độ
sở hữu ruộng đất của huyện Ba Bể. Trên cơ sơ phân tích địa bạ, luận văn tìm
hiểu phong tục tập quán liên quan đến ruộng đất và nông nghiệp của đồng bào
các dân tộc huyện Ba Bể nửa đầu thế kỷ XIX.
Đúc rút những kinh nghiệm của cha, ông trong việc quản lý và khai thác
đất đai. Cung cấp thêm tư liệu giúp địa phương phát triển kinh tế nông nghiệp
một cách có hiệu quả nhất.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
6. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 103 trang, được chia làm 3 phần, phần mở đầu (7 trang),
phần nội dung ( 86 trang), phần kết luận (5 trang). Ngoài ra còn có 5 trang tài
liệu tham khảo và phần phụ lục.
Phần nội dung được chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về huyện Ba Bể - Tỉnh Bắc Kạn (17 trang).
Chương 2: Tính hình ruộng đất huyện Ba Bể nửa đầu thế kỷ XIX (41
trang).

Theo số liệu thống kê mới nhất năm 2009, huyện có tổng diện tích là
678,09km
2
tương đương 68.412 ha (bằng 14,1% diện tích tỉnh Bắc Kạn),
trong đó hơn 90% là rừng núi và sông, hồ. Trung tâm của huyện là huyện lị
Chợ Rã và 15 xã trực thuộc là: Mỹ Phương, Chu Hương, Yến Dương, Địa
Linh, Hà Hiệu (đầu thế kỷ XIX có tên là Hạ Hiệu đến cuối thế kỷ XIX đổi tên
thành Hà Hiệu) [20,tr.3], Phúc Lộc, Bành Trạch, Cao Trĩ, Khang Ninh, Cao
Thượng, Thượng Giáo, Nam Mẫu, Quảng Khê, Đồng Phúc, Hoàng Trĩ.
Ba Bể là một huyện miền núi với bề mặt địa hình bị chia cắt mạnh và có
độ dốc lớn, hướng núi không đồng nhất. Độ cao trung bình trên 600m so với
mặt nước biển, nơi có địa hình cao nhất là 1517m nằm trên đỉnh Phia Bjooc.
Địa hình Ba Bể nghiêng dần theo hướng đông bắc - tây nam. Huyện Ba Bể có
địa hình hiểm trở nhưng hùng vĩ và đa dạng về sinh thái. Cánh cung sông

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
Gâm chạy dài theo hướng đông bắc - tây nam xuyên suốt địa giới của huyện
với dãy Phja Bjoóc trùng điệp, hùng vĩ như một bức trường thành. ở Phía tây
bắc và đông nam có hai ngọn núi Phja Mạ cao 1.980m và Phja Ngoàm cao
1.190m. Ba Bể có nhiều hang động kỳ thú, độc đáo có thể cải tạo thành nhiều
điểm du lịch đặc sắc, hấp dẫn.
Trên địa bàn huyện có hồ Ba Bể, đây là một hồ kiến tạo lớn nhất và cũng
là một danh thắng nổi tiếng cả nước. Hồ Ba Bể nằm trên độ cao 145m, chứa
khoảng gần 5 triệu m
3
gồm ba hồ (Pộ Nằm, Pộ Lự, Pộ Làng) dài gần 9 km,
nơi rộng nhất tới gần 2 km, sâu chừng 30 - 40m, là hồ kiến tạo được cấu tạo
trong đá phiến và đá vôi. Hồ hơi eo lại ở giữa thành dạng một hành lang giữa

Vùng trung tâm huyện và các xã phụ cận là các thung lũng phân bố dọc
theo các dòng sông, dòng suối. Xen giữa các thung lũng là các dãy núi có độ
cao trung bình từ 200 - 300m. Diện tích vùng này khoảng 1000ha đây là vùng
tập trung các cánh dồng mầu mỡ của huyện.
Với đặc điểm bao gồm cả ba loại hình núi đá vôi, núi đất và thung lũng
là đặc điểm thuận lợi phát triển nông lâm nghiệp kết hợp,đa dạng hoá cây
trồng, vật nuôi
Về khí hậu: Theo sách Đồng Khánh dư địa chí thì khí hậu chung của
châu Bạch Thông là: “Khí trời nhiều lạnh rét, khí đất ẩm ướt, cuối xuân còn
lạnh, đến mùa hạ mới hơi nóng, đầu thu đã rét, đến mùa đông rét đậm. Mùa
đông và mùa xuân sương mù khí núi che phủ bầu trời, trước giờ Tý sau giờ
Thân từ nhìn quanh không thấy núi” [10, tr.820]
Ba Bể có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa nóng từ tháng tư đến
tháng mười, mùa lạnh từ tháng mười một đến tháng ba năm sau. Nhìn chung
Ba Bể có đặc điểm khí hậu tương đối thuận lợi cho việc phát triển nông - lâm
nghiệp theo hướng đa dạng hoá cây trồng, vât nuôi.
- Các dạng thời tiết chính: Thời tiết giá rét-gió Mùa Đông bắc, thời tiết
nồm, thời tiết sương muối, thời tiết khô nóng, thời tiết mây mù

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
Sông ngòi, thuỷ văn: Ba Bể có những hệ thống sông suối khá dày và
trực tiếp chi phối chế độ thuỷ văn của huyện, song các sông suối đa phần đều
có đầu nguồn hẹp, độ dốc lớn nên thường gây ra lũ ống, lũ quét và ngập úng
về mùa mưa, ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất cây trồng và làm xói lở, vùi
lấp một phần diện tích nông nghiệp. Cụ thể Ba Bể có các hệ thống sông chính:
- Sông Năng: Bắt nguồn từ vùng núi thuộc huyện Bảo Lạc - Cao Bằng
chảy vào tỉnh Bắc Kạn ở xã Bằng Thành, huyện Pác Nặm. Một nhánh phụ bắt
nguồn từ phần phía đông của dãy Phia Bjooc, theo hướng đông - tây, chảy

12
- Sông Tả Han và suối Bó Lù đều bắt nguồn từ dãy Phia Bjooc chảy vào
hồ Ba Bể.
- Suối Cao Thượng bắt nguồn từ xã Cổ Linh huyện Pắc Nặm chảy qua
địa bàn xã Cao Thượng rồi hoà vào sông Năng.
Điều kiện tự nhiên của Ba Bể có nhiều thuận lợi để phát triển nông - lâm
nghiêp. Mặc dù vậy, Ba Bể cần phải đầu tư nâng cấp và phát triển mạng lưới
giao thông đường bộ để mở rộng thị trường, tạo điều kiện thông thương giao lưu
hàng hoá phát triển. Trong thời gian vừa qua mạng lưới giao thông của tỉnh
Bắc Kạn nói chung và huyện Ba Bể nói riêng đã được quan tâm đầu tư xây dựng.
Mạng lưới đường bộ gồm hệ thống quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện,
đường đô thị, đường xã và đường thôn xóm với tổng chiều dài 1166 km, trong
đó: Quốc lộ với tổng chiều dài 160 km với 42 cầu; Đường tỉnh với tổng chiều
dài 367 km với 47 cầu; Đường huyện có tổng chiều dài 673 km với 106 cầu,
mật độ đường đạt 24,31 km/km
2
. Do địa hình vùng này phức tạp nên hệ thống
đường giao thông của tỉnh rất nhiều cầu, cống, với trên 1000 km đường bộ có
tới 195 cây cầu và 1673 cống. Quốc lộ 3 chạy suốt theo chiều dài của tỉnh và
các đường tỉnh lộ đều bắt đầu từ trục quốc lộ 3.
Quốc lộ 279 (đường vành đai II) cũng đã và đang được từng bước năng
cấp nối Bắc Kạn với Lạng Sơn và Tuyên Quang. Các tuyến khác như đường
254 Đèo So - Chợ Đồn- Ba Bể và đường Bằng Lũng qua Ba Hồ – Yên
Thượng, huyện Chợ Đồn cũng đã được nâng cấp. Trong thời kỳ 2001-2006 đã
đầu tư nâng cấp, xây dựng mới trên 500 km đường huyện, trên 1000 km
đường liên xã, liên thôn đạt tỷ lệ 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã.
Hoàn thành các cầu lớn như Thác Giềng, Yên Đĩnh, Hảo Nghĩa, Dương
Quang, Bắc Kạn II.
Đường liên xã tổng chiều dài trên 1000 Km, đạt tiêu chuẩn giao thông
nội tỉnh loại A, B, mặt đường là đất cấp phối tự nhiên, ngoài ra hệ thống

khoảng 43.54 người (chiếm tỷ lệ 92,7%). Mật độ dân số trung bình là 69

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
người/km
2
. Trong quá trình lịch sử, huyện Ba Bể đã tiếp nhận nhiều dân tộc
di cư đến cùng làm ăn, sinh sống:
“Trong toàn huyện, người Thổ (người Tày), người Nùng, người Mán ở
xen nhau. Tiếng nói, quần áo, tập tục ăn cũng giống dân huyện Cảm
Hoá.Người Mán cũng có Mán Đại Bản, Mán Đeo Tiền, Mán Sơn Miêu, phong
tục khác nhau” [10, tr.820]
1.2.1. Người Tày:
Người Tày ở Bắc Kạn là cộng đồng dân số có số dân đông nhất với
149.459 người chiếm 54,32% dân số toàn tỉnh. Người Tày ở Bắc Kạn gồm ba
bộ phận cấu thành với những tên gọi khác nhau:
+ Bộ phận người Tày bản địa từ thời nguyên thuỷ đã có mặt và sinh sống
ở Bắc Kạn
+ Bộ phận người Tày gốc Kinh từ dưới xuôi lên theo thời gian lâu dài đã
Tày hoá
+ Bộ phận người Tày - Nùng từ Quảng Tây (Trung Quốc) sang Bắc Kạn.
Bộ phận người Tày ở Ba Bể chủ yếu là người Tày Nặm (Tày nước để
phân biệt với Tày Bốc tức Tày cạn ở huyện Pắc Nặm). Người Tày Nặm sống
ở vùng thấp nhiều sông nước như các xã hạ lưu sông Năng, sông Cầu. Ngoài
ra còn có người Tày Slo ở Mường Slo thuộc thung lũng sông Năng.
Người Tày sống tập trung thành làng bản trong các thung lũng lòng chảo,
lòng máng hoặc dọc theo hai bờ sông, suối. Có bản đông tới vài chục nóc nhà,
cũng có bản chỉ có vài ba nóc nhà đơn sơ dựng bên sườn núi. Ở nhà sàn cho
tới nay vẫn là truyền thống của đồng bào. Tại một số địa phương như Nghiêm

vốn quê ở Bắc Kạn đã trở về quê hương. Ngày này nhiều người là cán bộ chủ
chốt của tỉnh Bắc Kạn.
Từ năm 1963 trở đi, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đưa một số đồng bào
Kinh lên miền núi khai hoang phát triển kinh tế- văn hoá, số người Kinh lên Bắc
Kạn tăng nhanh với hàng nghìn hộ, phân bố hầu khắp các xã trong toàn tỉnh.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
Người Kinh định cư ở Ba Bể chủ yếu từ sau năm 1963, hiện nay vẫn có
người Kinh lên Ba Bể lập nghiệp theo con đường buôn bán hoặc hôn nhân.
Người Kinh ở Ba Bể sống tập trung chủ yếu ở thị trấn, số đông làm nghề
buôn bán.
1.2.3.Người Nùng:
Người Nùng từ Trung Quốc đến sinh sống ở Bắc Kạn chủ yếu từ 6 - 7
đời gần đây. Ở Bắc Kạn chủ yếu có các nhóm Nùng là Nùng Phản Sinh, Nùng
An, Nùng Giang, Nùng Cháo.
Người Nùng ở Ba Bể chủ yếu là người Nùng An, phần lớn theo đường
Quảng Hoá - Cao Bằng sang, một số sang Hoà An ngược sông Nguyên Bình
đến các huyện Ba Bê, Bạch Thông. Người Nùng chủ yếu sống ở vùng thấp,
lấy nghề nông lúa nước làm nguồn sống chính, họ ở xen canh trong vùng
người Tày, sớm hoà nhập vào cộng đông dân cư địa phương, một số có xu
hướng chuyển sang dân tộc Tày.
1.2.4 Người Dao:
Có số dân đứng thứ hai sau người Tày, người H’Mông có số dân khoảng
hơn nửa số dân người Dao. Người Dao và người H’Mông sinh sống chủ yếu ở
vùng núi cao, làng bản thưa thớt, nhà cửa đơn sơ. Địa bàn sinh sống tập trung
của đông bào là quanh chân núi Phja Bjoóc với phương thức du canh, du cư,
phát nương làm rẫy, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu. Ngày nay, Đảng bộ, chính
quyền địa phương đang từng bước giải quyết, ổn định đời sống của đồng bào,

Người Mông ở Bắc Kạn tập trung đông nhất ở Ba Bể và Pắc Nặm với
dân số là 9.938 người. Trong đó ở Ba Bể tập trung đông nhất ở xã Nam Mẫu:
“+ Nam Mẫu (Ba Bể): 211 hộ, 1428 người, 49% dân số xã” [3, tr.319].
Người Mông ở Ba Bể là nhóm Mông Trắng từ Trung Quốc di cư sang
Việt Nam, trước hết vào Cao Bằng, sau đó di cư tới các tỉnh trong đó có Bắc
Kạn. Nhóm người Mông Trắng là nhóm người Mông đầu tiên di cư đến sống
ở Bắc Kạn. “…Sớm nhất là các nhóm Mông Trắng đến phía Bắc các huyện

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
Pắc Nặm, Ba Bể tìm đất cư trú, lập nghiệp ở khu vực núi đá vôi thuộc các xã
Nhạn Môn, Cổ Linh, Cao Tân, Cao Thượng…cách đây khoảng hơn trăm
năm…Cũng từ Cao Bằng, nhóm người Mông Trắng còn chuyển đến cư trú tại
các xã Nghiêm Loan huyện Pắc Nặm, Nam Mẫu huyện Ba Bể…” [3, tr.323].
Người Mông ở Ba Bể thường sống rải rác, ít khi tới 5 - 10 hộ, ở trên núi
cao. Hộ thường sống phân tán nhà nọ cách nhà kia vài trăm mét trở lên.
Người Mông độc lập với các dân tộc khác, rất hiếm khi làng người Mông có
dân tộc khác cư trú và ngược lại. Hoạt động nông nghiệp chủ yếu của họ là
trồng ngô trên những nương du canh, ít có nương cày (thổ canh) để trồng các
loại cây lương thực, thực phẩm và chăn nuôi. Người Mông là những người thợ
thủ công lành nghề trong việc trồng lanh dệt vải, đan lát, làm đồ gỗ, rèn sắt…
1.2.6. Đồng bào Sán Chí:
Người Sán Chí sống trong các thung lũng, sườn đồi làm nghề nông như
đồng bào các dân tộc Tày - Nùng. Người Sán Chí có dân số ít ỏi chỉ khoảng
15 hộ từ huyện Pắc Nặm xuống sinh sống lẫn với khu vực của người Dao ở
quanh dãy Phja Bjoóc.
1.3. Sự biến đổi địa danh - địa giới huyện Ba Bể qua các thời kỳ lịch sử
Thời Hùng Vương, vùng đất là huyện Ba Bể ngày nay thuộc bộ Vũ
Định, một trong mười lăm bộ của nước Văn Lang.

Tuyên. Theo sách Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu thì “Ninh
Sóc Thừa Tuyên lúc đó lĩnh 3 phủ là phủ Cao Bằng, phủ Thông Hoá và phủ
Phú Bình”. Cũng theo sách trên, riêng phủ Thông Hoá có: “1 huyện là huyện
Cảm Hoá (gồm 50 xã và 10 trang) và 1 châu là châu Bạch Thông (gồm 70 xã
và 3 trang) huyện Ba Bể là đất của ba tổng thuộc châu Bạch Thông. Vào thời
kỳ này lần đầu tiên một đơn vị hành chính của huyên Ba Bể là Chợ Rã đã xuất
hiện với tên gọi riêng trong một tài liệu chính thống của triều đình với tên gọi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20
Chợ Slo. Tên gọi này xuất hiện trong tác phẩm Dư địa chí của Nguyễn Trãi ở
mục Thái Nguyên thổ sản.
Đời Hồng Đức thứ 21 (1483), vùng đất Ba Bể hiện nay vẫn thuộc xứ
Thái Nguyên. Từ thời Lê Trung Hưng đến hết thời Nguyễn Gia Long (1802 -
1814) xứ Thái Nguyên lệ thuộc vào Bắc Thành, vùng đất Bắc Kạn vẫn thuộc
trấn này.
Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) đất nước được chia thành các tỉnh hạt,
trấn Thái Nguyên lúc đổi được đổi tên thành tỉnh Thái Nguyên. Sách “Đại
Nam nhất thống chí” (1882) đã ghi lại phạm vi của châu Bạch Thông lúc đó
như sau: “ở cách phủ 41 dặm v ề phía Tây; đông tây cách nhau 271 dặm, nam
bắc cách nhau 283 dặm; phía đông đến địa giới châu Vũ Nhai phủ Phú Bình
188 dặm, phía tây đến điạ giới châu Chiêm Hoá tỉnh Tuyên Quang 83 dặm,
phía nam đến địa giới huyện Phú Lương và châu Định phủ Tùng Hoá 100
dặm, phía Bắc đến địa giới huyện Vĩnh Điện tỉnh Tuyên Quang 103 dặm. Từ
đời Trần về trước, gọi là huyện Vĩnh Thông; thời thuộc Minh vẫn theo như
thế, lệ phủ Thái Nguyên; đời Lê đổi tên hiện nay và gọi là châu, lệ phủ Tùng
Hoá, do phiên thần họ Hoàng nối đời quản trị; bản triều đầu đời Gia Long
vẫn theo như thế; năm Minh Mệnh thứ 16 đổi đặt lưu quan. Lãnh 9 tổng, 60
xã” [7, tr.153-155]. Huyện Ba Bể khi đó thuộc châu Bạch Thông, phủ Thông

“- Tổng Quảng Khê, 6 xã:
1.Xã Quảng Khê 2. Xã Đồng Phúc 3. Xã Mỹ Hoá
4. Xã Xuân Ổ 5. Xã Bằng Châu 6. Xã Nam Mẫu
- Tổng Thượng Giáo,11 xã:
1. Xã Thượng Giáo 2. Xã Công Bật 3.Xã Bộc Bố
4. Xã Xuân Phương 5. Xã Xuân La 6. Xã Nhạn Môn
7. Xã Nhân Tiếp 8. Xã Bành Trạch 9. Xã Địa Linh
10. Xã Truyền Cố 11.Xã Cao Trĩ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

22
- Tổng Hạ Hiệu, 7 xã:
1. Xã Hạ Hiệu 2. Xã Dạ Nham 3. Xã Nghiêm Loan
4. Xã Chư Hương 5.Xã Cao Thượng
6. Xã Cổ Đạo 7. Xã Bằng Thành” [10, tr.819]
Sau khi đánh chiếm và áp đặt bộ phận cai trị trên địa phận Thái Nguyên,
thực dân Pháp đã nhiều lần thay đổi đơn vị hành chính. Trong vòng 4 năm từ
1896 đến 1900 thực dân Pháp tiếp tục phân chia địa giới hành chính của các
châu Bạch Thông, Chợ Rã, Thông Hoá, Cảm Hoá. Theo nghị định ngày 20 -8
- 1891 của Toàn quyền Đông Dương, địa bàn Bắc Kạn thuộc 2 đạo quan binh:
Phần phía đông và nam thuộc Tiểu quân khu Thái Nguyên (Đạo quan binh I)
và phần bắc thuộc Tiểu quân khu Lạng Sơn (Đạo quan binh II).
Đến ngay 11 - 4 -1900, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định lấy phần
đất thuộc phủ Thông Hoá thành lập tỉnh Bắc Kạn gồm 4 châu (sau đổi thành
huyện) là: Bạch Thông, Chợ Rã (sau là huyện Ba Bể), Thông Hoá (sau đổi
thành Na Rì) và Cảm Hoá (sau đổi thành Ngân Sơn). Huyện Ba Bể với tư
cách là một đơn vị hành chính riêng của tỉnh Bắc Kạn lần đầu tiên xuất hiện.
Theo tác phẩm Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ của tác giả Ngô Vi
Liễn xuất bản năm 1938, đến đầu thế kỷ XIX, huyện Ba Bể có tên là châu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status