27
28
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học s phạm hà nội Thái quang trung
Tình hình ruộng đất và kinh tế nông
nghiệp thừa thiên huế nửa đầu thế kỷ xix
Chuyên ngành:
lịch sử việt nam cổ đại và trung đại
Mã số: 62.22.54.01
- Th viện trờng ĐHSP Hà Nội
26
Các công trình đ công bố có liên quan đến đề tài luận án
1. Thái Quang Trung (1995), "Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1687) với
việc phát triển kinh tế nông nghiệp xứ Thuận Hóa". Thông báo khoa học và
giáo dục, Trờng Đại học S phạm - Đại học Huế, số 10, (tr .73 - 87).
2. Thái Quang Trung (1996), "Địa bàn Thừa Thiên - Huế trong quá trình mở
rộng lãnh thổ quốc gia vào phía Nam dới thời các chúa Nguyễn". Tạp chí
Huế Xa và nay, số đặc biệt 1306 - 1996, (tr. 44 - 48).
3. Thái Quang Trung(1998) "Tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp
các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế nửa đầu thế kỉ XIX",Đề tài NCKH cấp
Trờng, Mã số T98.XH.07.
4. Thái Quang Trung (1999), "Vài nét về tình hình kinh tế các tỉnh Quảng
bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế trớc 1858 qua một số th tịch cổ". Thông
báo khoa học, Trờng đại học S phạm - Đại học Huế, số 2 (33), (tr. 99 - 105).
5. Thái Quang Trung (1999), "Công tác trị thủy, thủy lợi ở Thừa Thiên Huế
nửa đầu thế kỉ XIX". Thông báo khoa học, Trờng Đại học S phạm Vinh,
số 22, (tr. 33 - 38).
6. Thái Quang Trung(2000), "Công cuộc khẩn hoang dới thời Nguyễn
(1558-1858)", Đề tài NCKH cấp Trờng, Mã số T2000.XH.14.
7. Thái Quang Trung (2001), "Mấy ý kiến về tình hình ruộng đất công ở
Thừa Thiên - Huế nửa đầu thế kỷ XIX", Tạp chí Nghiên cứu lịch sử,
số 1(314), (tr.62 - 67).
8. Thái Quang Trung (2001), "Một số biện pháp nhằm phát triển kinh tế nông
nghiệp ở Thừa Thiên Huế dới vơng triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX", Thông
XVI đến nửa đầu thế kỷ XIX.
1.2. Quá trình khẩn hoang lập làng của c dân ngời Việt và các cộng
đồng c dân khác trên đất Thừa Thiên Huế diễn ra trong bối cảnh rất đặc
biệt. Đặc điểm làng xã ở Thừa Thiên Huế vừa mang nét truyến thống của
làng xã Việt Nam, vừa tiếp nhận đặc trng của văn hóa c dân bản địa.
Trong quá trình cộng c đó đã có sự đan xen, hòa nhập của hai nền văn hóa
ngời Việt cổ và Chăm cổ. Luận án góp phần nghiên cứu mối quan hệ giữa
các thành phần c dân trong đời sống và sản xuất, nhất là quan hệ giữa hai
tộc ngời Việt và Chăm.
1.3. Thừa Thiên Huế có địa hình rất phức tạp: 9/10 là đồi núi; đồng
bằng hẹp, dốc, manh mún, bị cắt xẻ nhiều bởi hệ thống sông ngòi dày đặc.
Đặc điểm đó chi phối rất lớn đến tình hình ruộng đất và kinh tế nông
nghiệp. Tuy nhiên, là vùng đất đóng kinh đô, nhiều chính sách của triều
đình trong quản lí ruộng đất công và khuyến khích sản xuất nông nghiệp có
hiệu lực cao hơn. Mối quan hệ giữa nhà nớc và làng xã khá chặt chẽ.
1.4. Trên cơ sở phân tích đặc điểm, tình hình ruộng đất và kinh tế
nông nghiệp ở Thừa Thiên Huế nửa đầu thế kỷ XIX, để thấy rõ tính chất
đặc thù của vùng đất này so với những địa phơng khác trên cả nớc. Qua
đó để góp phần đánh giá triều Nguyễn trong tiến trình lịch sử Việt Nam.
2. lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Đối với địa bàn chung của cả nớc: Sau khi Cách mạng tháng
Tám thành công, vấn đề ruộng đất và kinh tế nông nghiệp đợc các nhà
nghiên cứu quan tâm. Đặc biệt sau khi hoà bình lập lại (1954), việc nghiên
cứu về ruộng đất - kinh tế nông nghiệp trở thành đề tài hấp dẫn. Một số nhà
lãnh đạo của Đảng và Nhà nớc đã viết một số công trình có tính chất định
2
hớng. Các nhà nghiên, đã công bố nhiều tác phẩm "Chế độ ruộng đất và
kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ" của Phan Huy Lê. Đến cuối những năm 70,
đầu 80 đã có một số công trình nghiên cứu về ruộng đất Việt Nam trong các
khắc, tôn giáo, tín ngỡng, lễ hội Gần đây, việc nghiên cứu Thừa Thiên
Huế đang đợc các nhà Huế học, các nhà sử học trong và ngoài nớc quan
tâm nh: Lê Văn Thuyên, Huỳnh Đình Kết, Lê Nguyễn Lu, Nguyễn Đình
Đầu, Trần Đại Vinh, Bùi Thị Tân, Nguyễn Thế, Lê Đình Phúc, Nguyễn
Hữu Thông, Đỗ Bang Có thể nói, cho đến nay cha có một công trình nào
nghiên cứu về tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp Thừa Thiên Huế
nửa đầu thế kỷ XIX một cách hoàn chỉnh và hệ thống.
3
3.mục đích, đối tợng, phạm vi và nội dung
nghiên cứu
Hệ thống hoá các nguồn t liệu và các kết quả nghiên cứu về tình
hình sở hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở Thừa Thiên Huế nửa đầu
thế kỉ XIX.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, bớc đầu phân tích và đa ra một số
nhận xét về tình hình sở hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở Thừa Thiên
Huế trong thời điểm trên.
Đối tợng và phạm vi khảo sát chính là địa bàn 3 huyện (Hơng Trà,
Quảng Điền, Phú Vang) thời Gia Long và chia làm 6 huyện (Hơng Trà,
Hơng Thuỷ, Quảng Điền, Phong Điền, Phú Vang, Phú Lộc) thời Minh
Mạng, cho đến cuối thế kỉ XIX.
Giới hạn về mặt thời gian: bao gồm nửa đầu thế kỉ XIX, cụ thể là từ
năm 1802 (Gia Long lên ngôi) cho đến 1858 (thực dân Pháp nổ súng xâm
lợc). Tuy nhiên, luận án cũng sử dụng nguồn t liệu trớc và sau thời gian
trên để tiện việc đối chiếu, so sánh.
Tuy nhiên, luận án cũng sử dụng số liệu và kết quả nghiên cứu của
một số địa phơng trên cả nớc để tiện việc so sánh, rút ra những đặc điểm
cơ bản của địa bàn nghiên cứu.
4. nguồn t liệu của luận án
Luận án khai thác triệt để nguồn sử sách và địa chí cổ nh: "Đại Việt
các tài liệu lu trữ đã phản ánh, qua đó để thấy đợc tính chính xác, hay
tính chân thực của các tài liệu đó.
Luận án còn sử dụng phơng pháp so sánh lịch đại và đồng đại, liên
ngành, kết hợp với phơng pháp thống kê, phân loại, nhằm rút ra sự tơng
đồng hay khác biệt về sở hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp của địa bàn
nghiên cứu qua các thời điểm, cũng nh giữa địa bàn với các nớc khác.
Ngoài ra, luận án còn sử dụng phơng pháp hệ thống đặt mối quan hệ
giữa sở hữu ruộng đất, kinh tế nông nghiệp với các yếu tố môi trờng tự
nhiên, điều kiện lịch sử xã hội của địa bàn nghiên cứu.
6. đóng góp của luận án
Là công trình đầu tiên tập hợp một cách có hệ thống các nguồn t liệu
và các kết quả nghiên cứu về tình hình sở hữu ruộng đất và kinh tế nông
nghiệp Thừa Thiên Huế nửa đầu thế kỷ XIX.
Là công trình đầu tiên phân tích có hệ thống dựa trên cơ sở nguồn t
liệu đáng tin cậy và đa ra một số nhận xét về đặc điểm của tình hình sở
hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở Thừa Thiên Huế. Qua đó để thấy
nét đặc thù của vùng đất nơi có kinh đô kinh đô Phú Xuân.
Luận án phân tích làm rõ vị trí, tác động của tình hình ruộng đất đến
kinh tế xã hội và khởi nghĩa nông dân ở Thừa Thiên Huế nửa đầu thế kỉ XIX.
Bổ sung thêm nguồn tài liệu vào việc nghiên cứu vấn đề ruộng đất và
kinh tế nông nghiệp ở thừa Thiên Huế nói riêng và trong cả nớc nói chung.
7. bố cục của luận án
Luận án bao gồm 184 trang, ngoài phần mở đầu 13 trang, kết luận 4
trang, tài liệu tham khảo 20 trang; phần nội dung bao gồm ba chơng:
5
Chơng 1: Khái quát về Thừa Thiên Huế trớc thế kỷ XIX
Chơng 2: Tình hình ruộng đất Thừa Thiên Huế nửa đầu thế kỷ XIX
Chơng 3: Tình hình kinh tế nông nghiệp Thừa Thiên Huế nửa đầu
Hệ thống sông ngòi ở Thừa Thiên Huế đợc phân bố đều trên lãnh
thổ. Đại bộ phận sông suối chảy theo hớng Nam - Tây Nam đến Bắc -
Đông Bắc. Nguồn nớc trên lu vực các con sông đợc hình thành chủ yếu
từ lợng ma (lợng ma trung bình năm rất lớn 3000mm), trong mùa ma
6
lũ với lợng ma rất lớn, cụ thể đạt gần 600mm/ngày, đồng thời với khả
năng bốc hơi kém nên dòng nớc chảy mùa này rất lớn. Ngợc lại, vào mùa
cạn, do lợng ma thấp, bốc hơi cao, nên dòng chảy mùa này kém, dòng
chảy của sông phụ thuộc vào nguồn cung cấp từ nớc ngầm.
Ngoài các đặc điểm trên, Thừa Thiên Huế còn có hệ thống đầm phá lớn
nhất nớc ta (chiếm 22000ha/ 28000ha trên cả nớc). Hầu hết sông ngòi đều
đổ vào đầm phá trớc khi đổ ra biển. Hệ thống đầm phá có tác dụng điều tiết
dòng chảy của các con sông, suối và thông ra biển Thuận an, T Hiền, Lăng
Cô, cho nên chế độ thuỷ văn của đầm phá chịu ảnh hởng trực tiếp của chế
độ thuỷ văn các con sông. Vùng cửa Thuận an và phá Tam Giang chịu chế
độ bán nhật triều đều, mỗi ngày nớc lên hai lần và xuống hai lần. Mực nớc
trong đầm phá biến động phức tạp theo không gian và thời gian, do sự chi
phối của mực nớc biển, nớc sông, đặc biển là lũ trên các sông.
1.2. Công cuộc khẩn hoang hình thành làng xã và tình hình dân
c Thừa Thiên Huế dới thời các chúa Nguyễn
Giữa thế kỷ XVI, Đoan quận công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận
Hoá, mở ra một thời kỳ mới cho sự khai thác vùng đất mới này. Tiên chúa
và các chúa kế vị đã tích cực xây dựng Thuận Hoá thành một địa bàn hết
sức quan trọng, chỗ dựa cho việc củng cố thế lực Đàng Trong. Cùng đi theo
Nguyễn Hoàng vào Thuận Hoá có gần 1000 nghĩa dũng quan quân và bà
con dòng họ ở quê hơng vùng Gia Miêu, huyện Tống Sơn, Thanh Hoá, họ
đã ồ ạt vào khai phá làm ăn trên vùng đất này. Theo mô tả của một số nhà
viết sử đơng thời đã cho rằng "đây là một cuộc di dân thực sự", có thể nói
đây là đợt c dân ngời Việt vào Thuận Hoá đông đảo nhất. Bằng những
là sao y bản thời Gia Long và một số địa bạ của những làng mới thành lập.
Ngay từ thời tiền sử và sơ sử, địa bàn Thừa Thiên Huế đã từng hiện
hữu nhiều nền văn hoá khác nhau. Điều đó chứng tỏ đã có sự đan xen, giao
lu văn hoá của các tộc ngời từng sinh sống trên mảnh đất này cho đến
ngày nay, ở Thừa Thiên Huế vẫn tồn tại nhiều tộc ngời, tuy thời gian các
lớp c dân đó đến đây sớm muộn có khác nhau:
C dân Chăm: Trong gần 7 thế kỷ cai quản của vơng quốc Chăm,
do nhiều biến động về tình hình chính trị, quân sự, c dân Chăm vốn chiếm
đa số ở Thừa Thiên Huế, họ đã lần lợt rời khỏi đất này đi về phía Nam.
Tuy nhiên, cũng có một số ở lại sống cộng c với ngời Việt, thêm vào đó
có một số quan tớng Chăm do bất đồng chính kiến đã từ đất Chăm ra định
c ở Thừa Thiên Huế.
C dân Việt: Về thành phần c dân, qua khảo sát số làng xã ở Thừa
Thiên Huế, đa số trong họ là dân nghèo quê đất Bắc, tập trung ở Nghệ An,
Thanh Hoá, Hải Dơng, Bắc Ninh, Cao Bằng Một số đợt bổ sung dân c
ngời Việt vào Thuận Hoá rất lớn và rất quan trọng là lúc Đoan quận công
Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận hoá (1558). Nhiều dòng họ lớn từ Thanh
Hoá và một số vùng khác đã vào lập nghiệp ở Thừa Thiên Huế, nh các họ
Nguyễn Hữu, Nguyễn Cửu quê Gia Miêu ngoại trang; Trơng Phúc quê
Hoàng Vân, Tống Phúc, Trơng Văn, Hồ quê tổng Thợng Bạn ; có một
số dòng họ khác nh Nguyễn Đình sau đổi Nguyễn Khoa quê làng Trạm
Bạc, Hải Dơng Đây là những dòng họ lớn, có vị trí ở Thừa Thiên Huế
thời các chúa Nguyễn và có thể đến ngày nay. Trong cuộc chiến tranh Trịnh
- Nguyễn kéo dài hàng thập kỷ, các chúa Nguyễn cũng nhiều lần đa quân
ra bắc đánh Hà Tĩnh - Nghệ An, họ Nguyễn đã bắt một số tù binh, dân
nghèo các vùng trên vào Nam làm ăn sinh sống, chẳng hạn qua các năm
1648, 1655
8
Ngoài lực lợng c dân Đàng Ngoài, giai đoạn cuối thế kỷ XVIII khi
bãi cát, thổ mộ
Kết hợp t liệu th tịch, chúng tôi đã tiến hành khai thác t liệu điền
dã ở các địa phơng. Do t liệu ruộng đất còn lại rất ít, việc khôi phục diện
mạo ruộng đất trớc thế kỷ XIX rất khó khăn. Trong hơn hai thế kỷ tồn tại,
các chúa Nguyễn và Tây Sơn đã nhiều lần khám đạc ruộng đất cho lập địa
bạ. Trong số địa bạ su tầm đợc, số lợng nhiều nhất là năm Cảnh Trị VII
(1669), loại sớm nhất là năm Quang Hng IX (1586) (loại này duy nhất chỉ
khai thác đợc 1 địa bạ của xã An Lỗ, huyện Quảng Điền); một số địa bạ
9
các năm Quang Hng XIV (1591), Hoằng Định VI (1605), Thịnh Đức VI
(1658), Cảnh Trị VII (1669).
Các loại hình sở hữu ruộng đất: cho đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ
XIX, ở Thừa Thiên Huế tồn tại 3 loại hình sở hữu ruộng đất.
+ Ruộng đất công làng xã: là loại ruộng đất tồn tại phổ biến, do làng
xã quản lý, loại đất này cũng thuộc quyền sở hữu tối cao của phủ chúa,
nhng vẫn duy trì ít nhiều tính chất công hữu của làng xã. Thực chất vấn đề
sở hữu và việc quản lí ruộng đất trong thời gian đầu của các chúa Nguyễn
không đợc chặt chẽ lắm, nhng càng ngày việc quản lí ruộng đất càng chặt
chẽ hơn do tình trạng bao chiếm ruộng đất của các quan lại địa phơng. Với
số ruộng đất thực có của làng xã, chúa Nguyễn đã đem chia cho dân làng xã
theo lệ quân điền nhà Lê. Ruộng đất công phần lớn tập trung chủ yếu ở
Thuận Hóa, càng vào phía Nam, ruộng đất công càng ít.
+ Ruộng đất t: vốn tồn tại từ trớc khi các chúa Nguyễn vào cát cứ,
nó đợc hình thành từ nhiều nguồn khác nhau và có xu hớng ngày càng
phát triển. Hình thức sở hữu t nhân về ruộng đất t Thừa Thiên Huế đợc
phát triển do chủ trơng của chúa Nguyễn Phúc Tần năm 1669, chúa sai văn
thần Hồ Quang Đại đo đạc lại ruộng đất thực canh và hạ lệnh "ai đem sức
mình ra khai phá những chỗ rừng rú, bỏ hoang thành ruộng thì cho làm bản
bức t điền".Tuy nhiên, tỷ lệ ruộng đất t hữu ở Thừa Thiên Huế thấp hơn
10419.6.0.8
28034.2.0.7.9
58,4
74,3
70,8
13845.5.8.8
3600.8.3.3
11540.4.4.8.1
41,6
25,7
29,2
Toàn tỉnh 86882.1.7.1 57895.9.5.1.9
66,6
28986.8.1.9.1
33,4
Nguồn: Lê Quí Đôn, Phủ biên tạp lục
Trong số lợng tổng diện tích thống kê trên, không phân loại ruộng
đất công, t. Tuy nhiên, dựa vào một số t liệu địa phơng thời các chúa
Nguyễn có thể thấy tỷ lệ các loại hình sở hữu ruộng đất công chiếm đa số,
ruộng đất t chiếm tỷ lệ rất thấp, thậm chí có địa phơng không ghi số
lợng ruộng đất t trong địa bạ.
1.3.2 Kinh tế nông nghiệp
Cũng nh các địa phơng khác ở nớc ta, cho đến nửa đầu thế kỷ
XIX, Thừa Thiên Huế vẫn sống chủ yếu bằng nông nghiệp. Điều kiện khí
tin về các loại ruộng đất công t, đẳng hạng, quan điền quan thổ các hạng,
hiện tợng xâm canh, loại ruộng đất không sử dụng Ngoài ra, địa bạ còn
ghi chép các loại: chiều dài sông, đờng thiên lí, quan lộ, xa lộ, thuỷ đạo,
đờng đê, tiểu cảng khê cừ (đơn vị, tầm, thớc), ao sen, đầm (đơn vị
sở) đây là thuận lợi cho nghiên cứu đặc điểm các loại ruộng đất và quá
trình chuyển biến của nó.
- Thứ ba, số lợng địa bạ trong su tập địa bạ triều Nguyễn ở Thừa
Thiên Huế có ở TTLTQGI có 329 tập của 210 làng xã. Số lợng theo địa
bàn từng huyện nh sau: huyện Hơng Trà còn 45 địa bạ trên 103 làng xã,
tỷ lệ 44,66%, huyện Phú Vang còn 117 địa bạ trên 162 làng xã, tỷ lệ 72,2%,
huyện Quảng Điền còn 55 địa bạ trên 89 làng xã, tỷ lệ 61,8%.
Qua số liệu thống kê trong su tập địa bạ triều Nguyễn, ruộng đất ở
Thừa Thiên Huế, bao gồm các loại hình và số lợng cụ thể nh sau:
Tổng diện tích các loại ruộng đất ở Thừa Thiên Huế là 87967.0.5.6.3
trong đó huyện Hơng Trà 6 tổng (An Hoà, An Ninh, Kế Thống, Kim
Long, Vi Dã, Phú Xuân) có 18216.5.11.8.1, huyện Phú Vang 6 tổng (Dã
Lê, Diêm Trờng, Dơng Nỗ, Đờng Hoa, Mậu Tài, S Lỗ) có
50684.5.6.3.1 huyện Quảng Điền 9 tổng (An Thành, Đông Lâm, Hạ Lang,
Hoa Lang, Khuông Phò, Phú ốc, Phù Lê, Phù Ninh, Phúc An (Yên)) với
19065.9.2.5.1. Trong tổng số diện tích các loại nêu trên bao gồm cả diện
tích sử dụng và diện tích không sử dụng: diện tích sử dụng toàn tỉnh
48705.0.2.6.7 tỷ lệ 55,3%, diện tích không sử dụng là 39262.0.2.9.6 tỷ lệ
44,7%. Đối với địa bàn từng huyện con số cụ thể nh sau:
12
Bảng 2. Diện tích ruộng đất Thừa Thiên Huế nửa đầu thế kỷ XIX
Sở hữu công Sở hữu t Huyện Tổng diện tích
Diện tích % Diện tích %
Nguồn: Địa bạ Triều Nguyễn ở Thừa Thiên
Trong toàn bộ diện tích cả phủ Thừa Thiên, phân chia theo các loại
ruộng đất, số liệu nh sau: Công điền công thổ 28569.9.9.2.6 tỷ lệ 32,5%;
quan điền quan thổ 1550.0.4.2.4 tỷ lệ 1,76%, viên c thổ 1841.2.4.7.1 tỷ lệ
2,0%; quốc gia công thổ 41497.3.1.3.3 tỷ lệ 47,24%; t điền t thổ
14516.8.14.0.9 tỷ lệ 16,5%. Nếu diện tích "quốc gia công thổ" bao gồm đất
đình, chùa, miếu, từ đờng, chợ, đồn thành, rừng cấm, bờ đê, đất ngập nớc
(vũng, vịnh, ao, bàu), cát trắng, mộ địa vào công điền công thổ thì tỷ lệ
trên sẽ rất lớn.
2.2 Các loại hình sở hữu ruộng đất ở Thừa Thiên Huế nửa đầu
thế kỉ XIX
Quan điền, quan thổ: Là bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu nhà nớc,
diện tích không nhiều lắm, nhà vua sử dụng ruộng đất này để ban thởng
cho các công thần, cho các chùa ở làng xã Thống kê trong địa bạ số diện
tích quan điền, quan thổ có 1550.0.4.2.4 chiếm 3,5% tổng diện tích ruộng
đất. Trong số đó quan điền các loại 967.5.0.6.4: gồm quan điền 551.2.12.1,
quan điền tam bảo 406.1.7.1.6, quan điền viên điền 69.5.2.7, quan đồn điền
6.1.7.5. Quan thổ các loại 582.5.3.6, gồm quan thổ 482.8.10.6.3, quan thổ
tam bảo 78.9.13.7.5, quan viên thổ 20.6.9.1.
Ruộng đất công làng x: Đây là loại ruộng đất rất quan trọng và
chiếm đa số, nó là cơ sở tồn tại của nhà nớc phong kiến, trên nguyên tắc
thuộc sở hữu nhà nớc. Tuy nhiên, thực chất loại ruộng này nhà nớc quản
lí gián tiếp, làng xã thực hiện phân chia cho nhân dân cày cấy nộp tô thuế.
Tại Thừa Thiên Huế tỷ lệ ruộng đất công chiếm đa số. Toàn diện tích Thừa
Thiên Huế 87967.0.5.6.3 trong đó sở hữu công là 73414.2.4.0.0, tỷ lệ
83,5%; sở hữu t 14516.8.3.0.9, tỷ lệ 16,5%; Ruộng đất công làng xã thuộc
quyền sở hữu tối cao của nhà nớc. Nhà nớc quản lí bộ phận ruộng đất này
thông qua bộ máy làng xã. Cho nên cộng đồng làng xã nắm quyền chiếm
13
Thứ hai là mọi chính sách quản lý ruộng đất của triều đình có hiệu
lực cao, nhng các làng xã ở Thừa Thiên Huế cũng thể hiện tính tự trị của
mình trong quản lý và phân chia ruộng đất. Việc quản lý của nhà nớc chỉ
trên mặt pháp lý.
Thứ ba, ruộng đất công tồn tại phổ biến và không ngừng đợc củng
cố, bổ sung bằng nhiều nguồn nh việc khai hoang do các làng xã tiến
hành, thành quả trở thành ruộng công.
Thứ t là việc duy trì, củng cố ruộng đất công ở Thừa Thiên Huế
trong nửa đầu thế kỷ XIX là không còn phù hợp với yêu cầu lịch sử, nó làm
14
hạn chế sự phát triển của nền kinh tế, buộc ngời nông dân vào những mảnh
ruộng công nghèo nàn, trung thành với nền kinh tế tự cung, tự túc lạc hậu,
đầy mâu thuẩn.
Ruộng đất t nhân: Thống kê số liệu qua su tập địa bạ triều
Nguyễn ở Thừa Thiên Huế nửa đầu thế kỷ XIX, có con số cụ thể nh sau:
tổng diện tích của cả tỉnh là 87967.0.5.6.3, ruộng đất t chỉ có
14516.8.3.0.9 tỷ lệ 16,5%. Cũng nh ruộng đất công, sự phân bố ruộng đất
t giữa các huyện, các tổng và từng làng xã không giống nhau. Trong diện
tích ruộng đất t bao gồm nhiều bộ phận nh: Bổn thôn điền thổ, ruộng phe,
ruộng giáp, ruộng hậu, ruộng hơng hoả, ruộng chùa (tam bảo) Tất cả
diện. Do tính chất phức tạp, cho nên địa bạ triều Nguyễn ở Thừa Thiên ít
ghi một cách rạch ròi các hình thức sở hữu. Thờng các làng xã gộp chung
các loại này ghi thành từng khoản: thần từ, phật tự, tam bảo điền thổ
Bảng 3: Diện tích ruộng đất t ở Thừa Thiên Huế nửa đầu thế kỷ XIX
Ruộng t Đất t Huyện Tổng diện
tích ruộng
đất t
Nguồn: Địa bạ Triều Nguyễn ở Thừa Thiên
Về qui mô sở hữu cá nhân: Số liệu ruộng đất t đợc thống kê qua
su tập địa bạ ở Thừa Thiên là 14516.8.3.0.9 chiếm tỷ lệ 17,54% tổng diện
tích của cả tỉnh. Tỷ lệ đó đối với phạm vi huyện không chênh lệch đáng kể.
Qua bảng thống kê diện tích ruộng đất t trên địa bàn huyện Phú
Vang cho thấy: tổng diện tích ruộng đất t toàn huyện là 9472.3.14.4.7,
trong đó t điền là 8046.8.8.3.3, t thổ 1416.4.6.5.4 (bao gồm cả diện tích
t điền t thổ xâm canh). Trong lúc đó số chủ sở hữu ruộng đất t của
Huyện ớc tính 10056 ngời, nếu tính bình quân 1 ngời cha đầy 1 mẫu.
Bình quân sở hữu một chủ trên 10 mẫu đất rất ít, chủ yếu tập trung ở tổng
Kế Thống huyện Hơng Trà, nơi có tỷ lệ t điền lớn so với diện tích thực
canh. Một số làng xã vên đô Phú Xuân, do có nhiều diện tích ruộng t
chuyển thành đất vờn, nhà, do vậy bình quân sở hữu cao.
Hầu hết các làng xã, bình quân sở hữu ruộng đất t rất thấp, từ 1 sào 5
thớc đến 1 mẫu 5 sào. Đây là một tỷ lệ rất khiêm tốn so với địa bàn các
tỉnh khác. Nếu áp dụng phơng pháp tính cơ học theo tỷ lệ, số ngời sở hữu
15
dới một mẫu ở Thừa Thiên Huế chiếm đa số, khoảng gần 80%, số ngời có
sở hữu trên 1 mẫu đến 5 mẫu khoảng 15%, từ 5 mẫu trở lên khoảng 5%, số
ngời sở hữu trên 50 mẫu không đáng kể.
Sự biến động về sở hữu ruộng đất ở Thừa Thiên Huế trong nửa đầu
thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX không đáng kể. Tỷ lệ ngời có sở hữu dới 1
mẫu vẫn chiếm u thế 78%; từ 1 đến 5 mẫu chỉ có 17,2%; số ngời chiếm
hữu từ 5 mẫu trở lên không tăng bao nhiêu. Tuy nhiên, trên địa bàn cả tỉnh
có 11 ngời sở hữu trên 50 mẫu. Mặc dù so sánh hai giai đoạn nửa đầu thế
kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, cha thể đa ra một nhận xét chính xác, nhng
cũng có thể có cái nhìn khái về tỷ lệ sở hữu t nhân về ruộng đất trên vùng
đất Thừa Thiên Huế.
Về qui mô của thửa ruộng: Một điều dễ nhận thấy là mức độ tập
rộng, phát triển ở Thừa Thiên Huế. Diện tích nhìn chung thấp, chiếm tỷ lệ
không quá 20%, ít có điều kiện mở rộng, điều này đợc lí giải bởi lý do
khách quan và chủ quan ở vùng đất kinh đô; tính cố kết cộng đồng trong
các làng xã rất chặt chẽ, họ duy trì và củng cố số lợng ruộng đất công rất
lâu dài, việc biến công vi t rất khó khăn; hiện tợng mua bán, chuyển
nhợng ruộng đất rất ít diễn ra, vì tô thuế ruộng đất công thấp hơn ruộng đất
t; tâm lý ngời dân trong làng xã cũng mong muốn duy trì ruộng đất công.
2.3 Các mối quan hệ x hội trong vấn đề ruộng đất
- Quan hệ giữa làng xã và nhà nớc: Việc quản lí ruộng đất của nhà
nớc thông qua bộ máy làng xã rất chặt chẽ, hiện tợng ẩn lậu ruộng đất
không diễn ra. Qua nghiên cứu của một số địa bạ ở một số làng xã kết hợp
với t liệu ghi chép về ruộng đất hiện đang lu giữ tại địa phơng số liệu
không thay đổi.
Biến động ruộng đất không đáng kể, thể hiện qua các lần lập địa bạ
trên một địa phơng nhất định. Các địa bạ đợc lập trong giai đoạn sau
thờng là bản tái lập, chỉ ghi thêm những biến đổi về diện mạo ruộng đất do
sạt lở, khai hoang thêm những diện tích đã đo đạc từ trớc, hiện ghi trong
địa bạ đang giữ tại Bộ Hộ, chiểu theo đóng triện của Phủ đờng và của Bộ ở
những chỗ sửa chữa. Một số diện tích ruộng đất của làng xã do nhà nớc sử
dụng vào việc công đều đợc đền bù bằng tiền hoặc miễn thuế. Tất cả
những vấn đề liên quan đến tranh kiện ruộng đất đều viết đơn gửi lên Bộ
Hộ,và đợc Bộ Hộ trực tiếp giải quyết. Điều này lí giải tại sao ở Thừa Thiên
Huế không thấy nêu hiện tợng ẩn lậu ruộng đất. Vai trò của nhà nớc đối
với các loại ruộng đất khá rõ nét, việc duy trì ruộng đất công khá chặt chẽ.
- Quan hệ giữa làng xã với làng xã: Quan hệ giữa làng xã với làng xã
xung quanh vấn đề ruộng đất trong suốt thời kỳ phong kiến nói chung là
xác định ranh giới giữa các làng xã. Điều đó phản ảnh qua địa bạ: hầu hết
các địa bạ, ngoài những thông tin chính của một địa bạ, có kèm theo các
bản thừa nhận ranh giới của các làng lân cận, có thể thấy rằng đây là đặc
trng của việc lập địa bạ ở Thừa Thiên. Có những làng xã, kèm theo 12 bản
nớc, nhì phân, tam cần, tứ giống
Trong sản xuất nông nghiệp, diện tích trồng lúa vẫn chiếm đa số. Tùy
theo độ cao, chất đất để gieo cấy các giống lúa thích hợp, sản xuất nông
nghiệp ở đây có hai vụ: vụ hè là vụ chính, vụ thu là vụ trái; ngoài ra còn có
vụ mời nhng diện tích không đáng kể, thu hoạch bấp bênh. Ngoài cây
lúa, những vùng cồn, trằm, đội (gần vùng núi) , soi, gò, bãi (bãi bồi ven
sông), ngay cả những xứ đồng thiếu nớcđợc dùng trồng các cây lơng
thực khác nh sắn, khoai, đỗ, ngôcây công nghiệp nh lạc, vừng (mè)
3.2. Công tác trị thủy - thủy lợi
Nhằm phục vụ cho công cuộc khai hoang mở rộng địa bàn trên đất
Thuận Hoá, ngay từ cuối thế kỷ XVI, XVII các chúa Nguyễn đã cho tiến
hành nhiều công trình đào kênh, đắp đập phục vụ đi lại và sản xuất nông
nghiệp. Sang đầu thế kỷ XIX, khi vua Gia Long lên cầm quyền, một mặt
đẩy mạnh công tác đê điều ở đồng bằng Bắc bộ, mặt khác tiến hành nhiều
công trình ở Thừa Thiên Huế, nơi có kinh đô Phú Xuân.
Từ khi Minh Mạng lên ngôi (1820), triều đình tập trung đẩy mạnh sản
xuất nông nghiệp. Đối với vùng đất Thừa Thiên Huế đợc sự quan tâm đặc
18
biệt. Hệ thống sông An Cựu đợc đào từ năm 1814, sau 7 năm hoạt động,
con sông đã đáp ứng đợc nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân huyện
Phú Vang, Hơng Thủy. Trên cánh đồng Thừa Thiên Huế, hệ thống những
con sông nhỏ nh sông Phú Xuyên là phổ biến. Do dòng chảy nhỏ, mực
nớc thấp so với độ cao đồng ruộng, muốn đa nớc vào ruộng phải đắp
đập ngăn sông giữ nớc, cho nên, các đập nhỏ đợc đắp rất nhiều Những
đập này thờng quy mô nhỏ và đắp hàng năm, dài từ 70- 100 trợng, cao 5
trợng, cửa sông rộng 1 trợng
Song song với hoạt động đào dắp các công trình phục vụ sản xuất
nông nghiệp và sinh hoạt, việc nạo vét các lòng sông đợc tiến hành thờng
xuyên. Từ năm 1840 về sau, dới triều vua Thiệu Trị, Tự Đức, công tác trị
nên vờn ở Thừa Thiên Huế rất đa dạng về giống cây trồng.
3.5 Hoạt động ng nghiệp của c dân sông nớc và đầm phá
Trong buổi đầu khai phá đất Thuận Hoá, c dân Đàng Ngoài chủ yếu
đi bằng đờng biển. Họ định c dọc theo bờ biển, ven đầm phá. Có thể nói
cùng với sản xuất nông nghiệp thì ng nghiệp ra đời sớm ở Thừa Thiên Huế.
Điều kiện tự nhiên ở Thừa Thiên Huế đã tạo cho ng nghiệp phát
triển. Hệ thống đầm phá nớc lợ chiếm tỷ lệ lớn nhất nớc ta, chiều dài
68km bắt đầu từ cửa sông Ô Lâu đến phá Tam Giang, thông qua các đầm
chuyển tiếp nh: An Truyền, Sam, Hà Trung, Thuỷ Tú rồi nối với đầm Cầu
Hai ở phía Nam. Giáp chân núi Vĩnh Phong, ngoài ra còn có đầm độc lập ở
cực nam là đầm Lăng Cô (đầm An C). Đầm phá chiếm 4,3% diện tích lãnh
thổ, 17,2% diện tích đồng bằng. Hệ thống đầm phá Thừa Thiên Huế nằm
trên địa phận 32 xã thuộc 5 huyện ven biển, giữ một vị trí quan trọng trong
sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
3.6 Chăn nuôi: Không phải là nghề quan trọng ở vùng đất này.
3.7 Một số ngành nghề hỗ trợ sản xuất nông nghiệp
3.7.1 Một số ngành nghề thủ công
Nh phần trên đã trình bày, sản xuất nông nghiệp là ngành kinh tế
chính của Thừa Thiên Huế, nhng do bình quân ruộng đất đầu ngời thấp,
thời vụ bấp bênh, cho nên ngời dân Thừa Thiên Huế không chỉ sống chủ
yếu bằng nông nghiệp mà còn có một nghề khác hỗ trợ cho kinh tế nông nghiệp.
Đến cuối thế kỷ XVIII, Lê Quí Đôn đã thống kê ở Thừa Thiên Huế
(phủ Triệu Phong) có đến 43 làng nghề, trong đó phổ biến nhất là nghề dệt
nh Phú Cam, Sơn Điền, Dơng Xuân, Vạn Xuân, Phú Xuân, Đồng Di,
Quan Lễ, Dơng Nỗ, An Lu, Quảng Xuyên, Lạc Nô, Địa Linh, Mỹ Lợi,
Kim Long ; nghề luyện rèn sắt nh Phù Bài, Mậu Tài, Phờng Đúc, Võng
Trì, An Lu; các nghề chế biến thực phẩm, làm bánh có La Khê, Tri Lễ;
làm đờng nh Long Hồ, Tân Quán, Tân Mỹ; làm muối nh Diêm Trờng,
Phụng Chính, Hà Thanh
Đến đầu thế kỷ XIX, triều Nguyễn đợc thành lập, vua Gia Long
còn lu giữ các hồ sơ xin lập chợ gửi lên triều đình và đợc triều đình phê
duyệt cho thành lập.
Đến nửa đầu thế kỷ XIX "Đại Nam nhất thống chí" đã ghi chép đầy
đủ hệ thống chợ ở đây bao gồm: 9 chợ vùng, chợ huyện, trong đó huyện
Hơng Trà có 4 chợ, các huyện còn lại 1 huyện 1 chợ và 34 chợ các xã thôn.
Có thể nói, đến thế kỷ XIX, hoạt động buôn bán ở Thừa Thiên Huế có
vai trò rất quan trọng đối với đời sống dân c, kết hợp nông nghiệp, thủ
công nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và thơng nghiệp là mô hình kinh tế thích
hợp nhất ở kinh đô trớc đây cũng nh hiện nay.
3.8. đời sống nông dân Thừa Thiên Huế nửa đầu
thế kỷ XIX
Do không phải là vùng trọng điểm nông nghiệp, sản xuất bấp bênh,
thu nhập bình quân đầu ngời thấp, cho nên ngời dân Thừa Thiên Huế dựa
vào nguồn lơng thực từ Đồng Nai - Gia Định. Một bộ phận nông dân đã
chuyển sang đi buôn từ Nam bộ về Phú Xuân; một bộ phận khác tranh thủ
nông nhàn chuyển sang làm nghề thủ công và các nghề phụ khác, nhìn
chung đời sống tơng đối ổn định.
21
Điều kiện tự nhiên, địa hình phức tạp, Thừa Thiên Huế đã gặp phải
nhiều trận lụt lớn gây h hại đê đập, ngập ruộng đồng, ảnh hởng đến đời
sống ngời dân. Bên cạnh những chính sách u ái của triều đình dành cho
vùng đất có kinh đô, nhân dân Thừ Thiên Huế lại chịu nhiều thiệt thòi hơn
những địa phơng khác trong cả nớc, chẳng hạn chế độ binh dịch, bên
cạnh đó, triều đình đã huy động số dân phu phục vụ xây dựng công trình
kinh đô Phú Xuân và các lăng tẩm kéo dài hàng chục năm, có lúc lên đến
hàng chục ngàn ngời, trong đó một bộ phận lớn là dân Thừa Thiên Huế.
Trong nửa đầu thế kỷ XIX, phong trào nông dân khởi nghĩa chống
triều Nguyễn diễn ra với quy mô lớn trong phạm vi cả nớc. Riêng địa bàn
Thừa Thiên Huế theo thống kê trong "Đại Nam thực lục" chỉ có 2 cuộc khỏi
nghiệp trồng lúa nh làm vờn, làm rẫy, đánh bắt thuỷ hải sản Bên cạnh
đó, lực lợng c dân đông đảo đã mang đến đất kinh đô nhiều nghề thủ
công truyền thống, hình thành những làng nghề nổi tiếng. Sản phẩm của họ
vừa phục vụ cho sinh hoạt ở cung đình, vừa phục vụ cho đại đa số đời sống
c dân làng xã; góp phần giúp ngời dân Thừa Thiên Huế tận dụng thời
gian nông nhàn làm thêm nghề phụ để tăng thu nhập.
2. Nằm trong tiến trình phát triển chung của lịch sử dân tộc nửa đầu
thế kỉ XIX, nhng tình hình ruộng đất nửa đầu thế kỷ XIX ở Thừa Thiên
Huế có những đặc điểm đáng chú ý sau:
Trớc hết là sự đa dạng về loại hình sở hữu, ngoài những loại hình sở
hữu chính: Sở hữu trực tiếp của nhà nớc nh quan điền, quan thổ; sở hữu
gián tiếp nh công điền, công thổ; sở hữu t nhân nh t điền t thổ; sở hữu
của làng xã nh bổn thôn điền thổ; ở đây còn tồn tại loại: quan điền tam
bảo, quan thổ tam bảo của nhà chùa, ruộng đất thờ cúng, tịch điền
Thứ hai, trong tỷ lệ sở hữu ruộng đất, bộ phận ruộng đất công chiếm
u thế với 70 đến 80% tổng số diện tích ruộng đất. Bộ phận ruộng đất công
này ra đời từ rất sớm cùng với quá trình khẩn hoang lập làng diễn ra từ thời
các chúa Nguyễn. Tình trạng kiêm tính ruộng đất cũng đã diễn ra khá gay
gắt, tuy nhiên do tính cố kết cộng đồng làng xã tồn tại lâu dài đã góp phần
duy trì, củng cố và mở rộng loại ruộng đất công này. Từ thời các chúa
Nguyễn đến các vua triều Nguyễn tiếp tục đề ra nhiều biện pháp nhằm cũng
cố công điền, nghiêm cấm tình trạng mua bán, xâm lấn ruộng đất công làng xã.
Sự tồn tại đa số công điền trong bối cảnh chung của đất nớc là t
điền chiếm đa số, là một đặc điểm nổi bật trong tình hình ruộng đất ở Thừa
Thiên Huế nửa đầu thế kỷ XIX. Đặc điểm này sẽ là cơ sở quan trọng để
nhìn nhận, đánh giá một cách khoa học tính chất của chế độ phong kiến mà
nhà Nguyễn xây dựng và bảo vệ.
Thứ ba, sự chuyển biến trong sở hữu ruộng đất không đáng kể, nhà
nớc quản lí ruộng đất rất chặt chẽ. Sở hữu ruộng đất công vẫn đợc duy trì
và củng cố trong một thời gian dài, điều này giúp triều đình ổn định vùng
thành ruộng đất công làng xã. Qua công tác trị thủy, thủy lợi, tính cố kết
cộng đồng càng đợc củng cố, ruộng đất công làng xã tiếp tục đợc duy trì
và phát triển.
Công tác trị thủy, thủy lợi ở Thừa Thiên Huế, ngoài ý nghĩa kinh tế
nó còn mang ý nghĩa chính trị khá sâu sắc. Các hệ thống sông đào ở đây đã
góp phần chia lũ trên sông Hơng để bảo vệ hoàng cung và dẫn nớc vào
hệ thống thủy đạo chung quanh kinh thành
- Kinh tế nông nghiệp là hoạt động kinh tế chủ đạo của hầu hết c
dân. Tuy nhiên, do những điều kiện tự nhiên nh địa hình, đất đai, khí hậu
của một vùng đất mà đồng bằng chỉ chiếm 1/10 diện tích, lại bị cắt xẻ
nhiều, đất có độ dốc và hay ngập mặn ở vùng ven đầm phá cho nên năng
suất lao động bấp bênh, sản phẩm nông nghiệp không cung cấp đầy đủ nhu
cầu lơng thực của c dân. Ngời dân Thừa Thiên Huế đã tiến hành nhiều
biện pháp để phát triển sản xuất nông nghiệp nh: sử dụng nhiều giống cây
trồng trên nhiều loại chất đất khác nhau, tận dụng tối đa về điều kiện địa
hình để có lịch thời vụ thích hợp.
- Tuy nhiên, Thừa Thiên Huế không phải là vùng trọng điểm nông
nghiệp và vì thế không thể phát triển kinh tế nông nghiệp, nguồn lơng thực
ở đây hoàn toàn lệ thuộc vùng Gia Định, Đồng Nai. Để góp phần ổn định
24
đời sống của c dân, triều đình và cả các làng xã đã tiến hành nhiều biện
pháp nh khai hoang, phục hóa, tận dụng những vùng đất ít ỏi còn lại để
trồng thêm hoa màu hoặc phát triển nghề làm vờn. Có thể nói, nghề vờn
là một nét đặc trng của vùng đất Thừa Thiên Huế.
- Song song với nghề trồng lúa và hoa màu, triều đình và các địa
phơng còn chú ý phát triển các ngành nghề phụ nh: thủ công nghiệp,
phát huy truyền thống các nghề thủ công đã có mặt tại vùng đất này từ thời
các chúa Nguyễn, triều Nguyễn tiếp tục thành lập các tợng cục của nhà
nớc, ở các địa phơng vẫn duy trì phát triển những nghề thủ công. Một số