Ruộng đất và kinh tế nông nghiệp Tổng Hà Quảng, huyện Thạch Lâm, tỉnh Cao Bằng thế kỷ XIX - Pdf 24



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HOÀNG THỊ THU THỦY
RUỘNG ĐẤT VÀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỔNG HÀ QUẢNG HUYỆN THẠCH LÂM
TỈNH CAO BẰNG THẾ KỶ XIX

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

Thái Nguyên, năm 2014

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn khoa học
PGS.TS Đàm Thị Uyên, các thầy cô trong tổ Lịch sử Việt Nam – Khoa học lịch
sử, trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, đã chỉ bảo tận tình, động viên khích
lệ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thiện luận văn.
Trong thời gian đi thực tế làm luận văn tại các làng xã, tác giả đã nhận
được sự giúp đỡ của già làng, trưởng bản, Ủy ban nhân dân huyện Hà Quảng.
Tác giả xin cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Tác giả xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đồng nghiệp đã giúp
đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2014
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Thu Thủy

ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 08 năm 2014
Tác giả luận văn Hoàng Thị Thu Thủy

Danh mục các biểu đồ vi
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
4. Nguồn tư liệu của đề tài. 5
5. Phương pháp nghiên cứu 6
6. Đóng góp của đề tài 6
7. Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1: KHÁI QUÁT TỔNG HÀ QUẢNG HUYỆN THẠCH LÂM
TỈNH CAO BẰNG 8
1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên. 8
1.1.1. Vị trí địa lý 8
1.1.2. Điều kiện tự nhiên 9
1.2. Khái quát lịch sử hành chính 13
1.3. Các thành phần dân tộc 15
1.3.1. Dân tộc Nùng 17
1.3.2. Dân tộc Tày 19
1.3.3. Dân tộc Mông 20
1.3.4. Dân tộc Kinh 21
1.3.5. Dân tộc Dao 22
1.3.6. Các dân tộc khác 23
1.4. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội Hà Quảng 24
1.4.1. Về kinh tế 24
iv

1.4.2. Về văn hóa – xã hội 28
Chương 2: RUỘNG ĐẤT Ở TỔNG HÀ QUẢNG HUYỆN THẠCH LÂM
TỈNH CAO BẰNG THẾ KỶ XIX 31
2.1. Địa bạ Hà Quảng nửa đầu thế kỷ XIX 31

STT Ký hiệu Tên đầy đủ
1

ĐHSPHN Đại học Sư phạm Hà Nội.
2

ĐHSPTN Đại học Sư phạm Thái Nguyên
3

HN Hà Nội
4

KHXH Khoa học xã hôi
5

M.s.th.t.p Mẫu, sào, thước, tấc, phân
Thí dụ: 302 mẫu 3 sào 13 thước 9 tấc 0 phân sẽ
được viết tắt là 302.3.13.9.0
6

Nxb Nhà xuất bản
7

PGS Phó giáo sư
8

TS Tiến sĩ
9

TTLTQG I Trung tâm lưu trữ Quốc gia I

Bảng 2.7: Tình hình giới tính trong sở hữu tư nhân 43

Bảng 2.8: Quy mô sở hữu ruộng tư theo các nhóm họ 45

Bảng 2.9: Tình hình sở hữu ruộng đất của các chức sắc 46

Bảng 2.10: Tình hình ruộng đất của Hà Quảng qua địa bạ Minh Mệnh 21 (1840) 48

Bảng 2.11: Diện tích các loại ruộng đất theo địa bạ Minh Mệnh 21(1840) 49

Bảng 2.12: Quy mô ruộng đất thuộc sở hữu của 3 xã ở Hà Quảng theo địa bạ
Minh Mệnh 21 (1840) 50

Bảng 2.13 : Bình quân sở hữu ruộng đất của một chủ trong 3 xã ở Hà Quảng
theo địa bạ Minh Mệnh 21 (1840) 52

Bảng 2.14: Diện tích thổ trạch viên trì theo địa bạ Minh Mệnh 21 (1840) 52

Bảng 2.15: Quy mô sở hữu ruộng tư theo các nhóm họ theo địa bạ Minh
Mệnh 21 (1840) 53

Bảng 2.16: Tình hình sở hữu ruộng đất của các chức dịch theo địa bạ Minh
Mệnh 21 (1840) 54

Bảng 2.17 : So sánh sự phân bố các loại ruộng đất theo địa bạ Gia Long 4
(1805) và Minh Mệnh 21 (1840) 55
vi

Bảng 2.18 : So sánh quy mô sở hữu ruộng đất tư theo địa bạ Gia Long 4
(1805) và Minh Mệnh 21 (1840) 57

Biểu đồ 2.1: Sự phân bố các loại ruộng đất ở Hà Quảng năm 1805 36

Biểu đồ 2.2: Quy mô sở hữu ruộng tư của Hà Quảng (1805) 39

Biểu đồ 2.3: Sự phân bố các loại ruộng đất ở Hà Quảng năm 1840 49

Biểu đồ 2.4: Quy mô sở hữu ruộng tư của Hà Quảng (1840) 50

Biểu đồ 2.5: Sự thay đổi các loại ruộng đất ở Hà Quảng năm 1805, 1840 56

Biểu đồ 2.6: Quy mô sở hữu ruộng đất tại hai thời điểm 1805 và 1840 57

Biểu đồ 2.7: So sánh quy mô sở hữu theo nhóm họ ở Hà Quảng giữa hai thời
điểm 1805 và 1840 60
1

MỞ ĐẦU


xa trung tâm của đất nước, đây là nơi sinh sống chủ yếu của các đồng bào dân
tộc thiểu số. Nên có những đặc điểm kinh tế riêng biệt mang tính đặc thù. Cho
đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu, khai thác về vấn đề ruộng đất
và kinh tế nông nghiệp của Hà Quảng vào thế kỷ XIX. Nên chúng tôi quyết
định chọn đề tài luận văn của mình là “Ruộng đất và kinh tế nông nghiệp tổng
Hà Quảng huyện Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng thế kỷ XIX”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Với tầm quan trọng cũng như rộng lớn của vấn đề ruộng đất. Nên vấn đề
này đã thu hút được sự quan tâm, cũng như nghiên cứu của nhiều nhà khoa học.
Địa bạ là một nguồn tài liệu quý, để trên cơ sở đó nghiên cứu về vấn đề ruộng
đất được toàn diện và mang tính chính xác cao. Đã có nhiều công trình nghiên
cứu về vấn đề, ruộng đất dựa trên nguồn tư liệu địa bạ. Các công trình đề cập
đến ruộng đất và kinh tế nông nghiệp nói chung, nhà Nguyễn nói riêng có thể
kể đến như sau:
Thời kỳ phong kiến, các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đã
được đề cập trong Đại Nam thực Lục, Đại Nam nhất thống chí, Khâm Định Đại
Nam hội điển sử lệ, Đồng Khánh dư địa chí, Vân Đài loạn ngữ…
Bộ “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” của Quốc sử quán triều
Nguyễn, bản dịch của nhà xuất bản Thuận Hóa (Huế ) được xuất bản năm
2005. Bộ sách đã cung cấp những tư liệu quan trọng về kinh tế, chính trị, xã
hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX. Đặc biệt là trong tập III, viết khá rõ về chế
độ ruộng đất, chế độ tô thuế dưới triều Nguyễn.
Năm 2003, cuốn sách “Đồng Khánh dư địa chí ” tập 1, bản dịch của các
tác giả Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin, cuốn sách viết về
lịch sử và địa lý các tỉnh Việt Nam trong đó có Cao Bằng.
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong lịch sử chế độ phong
kiến Việt Nam, vấn đề ruộng đất được các nhà sử học quan tâm nghiên cứu, có
nhiều công trình được công bố như:
3


4

Năm 2011, tác giả Đàm Thị Uyên với cuốn sách “Huyện Quảng Hòa
(tỉnh Cao Bằng) từ khi thành lập đến giữa thế kỷ XIX” của nhà xuất bản Chính
trị quốc gia, Hà Nội. Tuy đây là cuốn sách nói về một huyện không liên quan
đến Hà Quảng nhưng đây là cuốn sách đầu tiên đề cập đến vấn đề ruộng đất và
kinh tế nông nghiệp của một huyện của tỉnh Cao Bằng. Do vậy cuốn sách này
đã gợi mở những ý kiến quý báu, để tác giả nghiên cứu tình hình ruộng đất và
kinh tế nông nghiệp của một nơi cũng ở Cao Bằng là Hà Quảng.
Trong thời gian gần đây vấn đề ruộng đất cũng đã trở thành đối tượng để
nhiều sinh viên, học viên tìm hiểu và nghiên cứu. Có thể kể đến một số luận
văn thạc sĩ như: “ Tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp huyện Ba Bể
(Tỉnh Bắc Kạn) nửa đầu thế kỷ XIX” của Nguyên Đức Thắng và “ Sở hữu
ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở huyện Đại Từ (Thái Nguyên) nửa đầu thế
kỷ XIX” của Hoàng Xuân Trường….
Tuy nhiên vấn đề “Ruộng đất và kinh tế nông nghiệp tổng Hà Quảng
huyện Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng thế kỷ XIX” chưa được tìm hiểu và nghiên
cứu cụ thể. Nên đề tài này chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu vấn đề này. Những
kết quả nghiên cứu của các tác giả trong các tác phẩm trên đây là những nguồn
tài liệu quan trọng để chúng tôi thực hiện và hoàn thành tốt đề tài.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Thực hiện đề tài “Ruộng đất và kinh tế nông
nghiệp tổng Hà Quảng huyện Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng thế kỷ XIX”. Trên cơ
sở các nguồn tài liệu thu thập được, đặc biệt là tài liệu địa bạ của Hà Quảng
năm Gia Long (1805) và năm Minh Mạng (1840), chúng tôi nhằm mục đích
tìm hiểu tình hình ruộng đất thế kỷ XIX và kinh tế nông nghiệp của Hà Quảng.
Từ đó sẽ khôi phục lại bức tranh về Hà Quảng trên các lĩnh vực kinh tế,
chính trị và xã hội .
Nhiệm vụ nghiên cứu: Khái quát Hà Quảng với những đặc điểm chính
về tự nhiên, dân cư, hành chính của Hà Quảng.

6

Nguồn tư liệu điền dã: Để tìm hiểu thêm thực tế, cũng như để thẩm định
một số vấn đề mà tư liệu thành văn không có, tôi tiến hành thực địa tại huyện
Hà Quảng tỉnh Cao Bằng ngày nay. Đây là nguồn tư liệu bổ trợ cho luận văn
thông qua các tài liệu truyền miệng, ca dao, tục ngữ địa phương….
Nguồn tư liệu địa bạ: Được khai thác tại trung tâm lưu trữ quốc gia I ở
Hà Nội. Đây là nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu chế độ sở hữu ruộng đất
và tình hình nông nghiệp. Trong đề tài này chúng tôi sử dụng tất cả là 11 đơn vị
địa bạ trong đó có 8 đơn vị địa bạ có niên đại Gia Long (1805) và 3 đơn vị địa
bạ có niên đại Minh Mệnh (1840).
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài chúng tôi sử dụng nhiều
phương pháp khác nhau. Với đặc điểm nguồn tư liệu chính là địa bạ nên vấn đề
xử lý tư liệu với độ chính xác cao được đặt lên hàng đầu.
Từ các nguồn tư liệu trên chúng tôi kết hợp phương pháp đối chiếu, so
sánh các nguồn tư liệu khác liên quan đến đề tài. Ngoài ra, chúng tôi sử dụng
các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, phương pháp hệ thống hóa.
Phương pháp khai thác tư liệu thành văn đồng thời có sự kết hợp với
phương pháp điền dã dân tộc học, địa lý học.
Quan trọng hơn cả, phương pháp chúng tôi sử dụng chủ yếu trong nghiên
cứu đó là phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic để dựng lại bức
tranh kinh tế của Hà Quảng thế kỷ XIX.
6. Đóng góp của đề tài
Nghiên cứu đề tài “Ruộng đất và kinh tế nông nghiệp tổng Hà Quảng
huyện Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng thế kỷ XIX” chúng tôi mong muốn có một số
đóng góp nhỏ khi nghiên cứu về kinh tế của một địa phương miền núi cụ thể
vào thế kỷ XIX.
Đề tài là công trình đầu tiên nghiên cứu về tình hình sở hữu ruộng đất ở
Hà Quảng huyện Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng thế kỷ XIX. Là công trình đầu tiên

1.1.Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên.
1.1.1. Vị trí địa lý
Hà Quảng là một huyện thuộc vùng núi cao biên giới phía Bắc tại Cao
Bằng. Hà Quảng là vùng đất có nhiều địa danh cách mạng. Gắn liền với các sự
kiện lịch sử quan trọng của đất nước, cũng như là những dấu mốc đã gắn liền
với con đường hoạt động cách mạng của Bác Hồ.
Hà Quảng thuộc huyện Thạch Lâm, theo Đại Nam nhất thống chí có
ghi:“ từ phía Đông đến phía Tây cách nhau 31 dặm, từ phía Nam đến phía
Bắc cách nhau 119 dặm. Phía Đông đến địa giới huyện Thạch An tám dặm;
phía Tây đến địa giới huyện Cảm Hóa tỉnh Thái Nguyên 23 dặm; phía Nam đến
địa giới huyện Thất Khê tỉnh Lạng Sơn 60 dặm; phía Bắc đến địa giới huyện
Thạch An 59 dặm” [34, tr. 1609].
Hà Quảng ngày nay là một vùng đất biên giới nằm ở phía bắc của tỉnh
Cao Bằng, cách trung tâm thành phố Cao Bằng 45km theo đường tỉnh lộ 203,
cách thủ đô Hà Nội 255km.
Về vị trí địa lý: Huyện Hà Quảng phía đông giáp huyện Trà Lĩnh (Tỉnh
Cao Bằng). Phía Tây giáp huyện Thông Nông (Tỉnh Cao Bằng). Phía nam giáp
huyện Hòa An (Tỉnh Cao Bằng). Phía bắc giáp tỉnh Quảng Tây Trung Quốc.
Được giới hạn ở tọa độ địa lý:
Vĩ độ bắc từ 22
0
47’23” đến 23
0
00’00” (từ xóm Làng Mòn xã Hạ Thôn)
đến xóm Nặm Sấn xã Lũng Mặn).
Kinh độ đông từ 105
0
57’14” đến 106
0
15’50” (từ thôn Lũng Dươi xã Sóc

rừng chiếm 21,26%, xã Qúy Quân và xã Kéo Yên độ che phủ của rừng là 40%
Độ che phủ của rừng trên 50% chiếm tỷ lệ nhỏ như ở xã Nà Sác độ che phủ của
rừng hơn 50%, xã Phù Ngọc độ che phủ của rừng là 65% Vì rừng chiếm tỷ lệ
khá nhỏ, cùng với sự khai phá bừa bãi của người dân, nên hiện nay rừng ở đây hệ
10

thống thực vật, động vật khá nghèo nàn không được phong phú như các khu vực
khác trong tỉnh. Cây ăn quả tập trung trong hộ gia đình. Nhóm cây dây leo dược
liệu chưa được khai thác. Còn có một số loại cây có giá trị như cây thảo quyết
minh, nhân sâm, cỏ sước, bồ công anh hay cây công nghiệp thì có cây gạo, dả
vàng, mạy mạ ở xã Hồng Sỹ. Cây lấy gỗ quý hiếm như gố nghiến, san hô, xạ cài,
lim, bồ đề… Cùng với thực vật trong rừng có rất nhiều loại động vật quý hiếm cần
được quan tâm để bảo vệ như xã Xuân Hòa có cầy hương, chồn, thằn lằn, các loại
chim…. Xã Trường Hà có khỉ, sơn dương, tê tê, rắn, trăn, cầy hương…
Trong lòng đất của huyện có nhiều khoáng sản quý, như quặng boxit,
sắt, đá, trong “Đồng khánh dư địa chí’’ cũng đã ghi “… núi Nha Sơn ở xã
Quảng Trù (núi này có đá nam châm, quặng sắt)… ”, “Hà Quảng có đá nam
châm”, “Sắt thì có ở Hà Quảng” [47, tr.657]. Quặng Boxit tập trung ở Hà
Quảng với trữ lượng lớn. Với đặc điểm địa hình chủ yếu là núi đá, nên đây
cũng là nguồn cung cấp vật liệu cho các ngành sản xuất vật liệu xây dựng.
Nhưng khoáng sản ở đây chưa được đầu tư, khai thác có kế hoạch, như ở xã
Tổng Cọt “ Xã có khoáng sản, chủ yếu là quặng ở Cả Mộng, nhưng chưa được
khai thác ” [4 ,tr.272]. Do vậy hiệu quả từ khoáng sản đem lại chưa cao.
Các con sông ở Hà Quảng, cũng như là ở Cao Bằng đều được bắt nguồn
từ biên giới của Trung Quốc. Ở xã Sóc Giang có sông Bằng Giang chảy qua.
Sông Bằng được bắt nguồn từ tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc, chảy theo
hướng Tây Bắc Đông Bắc, chảy qua các huyện Hà Quảng, huyện Hòa An,
thành phố Cao Bằng, huyện Phục Hòa đến Thủy Khẩu sang Trung Quốc. Trong
khu vực của huyện hệ thống sông suối có sự phân bố không đều, xã Đào Ngạn
có duy nhất nguồn nước tự nhiên là Bó Meng, Phai Xả; xã Phù Ngọc có hai con

hóa chủ yếu là bằng sức người và sức của động vật điển hình như ngựa
thồ…Cho nên khá nhiều tuyến đường cũng đã được sửa chữa như “ tuyến Sóc
Giang – Nà Giàng - Khau Mắt, tuyến Đôn Chương – Nặm Nhũng – Tổng Cọt, Sóc
Giang – Mỏ Sắt, Sóc Giang – Bó Gai, Bó Gai – Trung Thắng, Trung Thắng – Bình
Lăng, Trung Thắng – Mỏ Sắt, ” [63, tr.163] để phục vụ cho việc đi lại được thuận
tiện hơn. Có hệ thống đường vành đai biên giới đi qua Hà Quảng và nhiều huyện
12

trong tỉnh. Hiện nay với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, cùng với ý nghĩa quan
trọng của huyện, vì có những di tích lịch sử gắn liền với những sự kiện lịch sử quan
trọng của đất nước nên giao thông đã được cải thiện xây mới thuận tiện cho việc đi
lại của người dân. Giao thông trong huyện đã được mở rộng nâng cấp. Nhà nước
đã nâng cấp đường, rải đá cấp phối các tuyến đường liên xã. Tất cả các xã đều có
đường tỉnh lộ 203 nối liền từ huyện đến xã. Giao thông thuận lợi là một trong
những yếu tố quan trọng để thúc đẩy nhanh hơn sự phát triển toàn diện về kinh tế
văn hóa xã hội, qua đó cải thiện đời sống của nhân dân
Do đặc điểm địa hình nên khí hậu của huyện chịu ảnh hưởng nhiều của
yếu tố địa hình. Các yếu tố đó đã làm cho khí hậu của huyện chia làm hai mùa
rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa đông thì rét buốt, ít mưa, có mưa chủ yếu
là mưa phùn. Mùa hè thì mát mẻ, mưa lớn. Khí hậu của huyện chia làm hai
mùa, mùa nóng hay còn gọi là mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9, mùa khô hay
còn gọi là mùa đông từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Hà Quảng có lượng mưa
trung bình, lượng mưa từ 1.300 – 1500mm. Về lượng mưa Hà Quảng có thể
chia làm hai vùng rõ rệt. Vùng phía bắc của Hà Quảng là vùng mưa nhiều với
lượng mưa từ 1500mm – 1900mm. Vùng phía nam của Hà Quảng là vùng
lượng mưa ít từ 1300mm – 1500mm. Số ngày mưa trung bình trong năm là
125,6 ngày. Tháng 7 có số ngày mưa trung bình nhiều nhất là 17,7 ngày. Tháng
12 có số ngày mưa trung bình ít nhất là 4,7 ngày. Là khu vực thỉnh thoảng có
mưa đá xảy ra. Số ngày mưa đá trung bình trong năm là 0,2 ngày. Mưa đá
thường xuất hiện vào tháng 4, 6. Hà Quảng là huyện có khí hậu khá mát mẻ,

ngày nay, ta có thể thấy được trong quá trình tồn tại và phát triển xã hội, đơn vị
hành chính của Hà Quảng có nhiều thay đổi cùng với sự phát triển và thay đổi
của châu Thạch Lâm nói riêng và Cao Bằng nói chung qua các thời đại.
Vào thời đại các vua Hùng dựng nước, Hà Quảng nói riêng và Cao Bằng
nói chung thuộc bộ Vũ Định, đây là một trong mười năm bộ của nước Văn
Lang. Đầu năm 1010 sau khi lên ngôi Vua Lý Thái Tổ đã tổ chức lại các đơn vị
hành chính , đã thực hiện đổi 10 đạo lúc trước thành 24 lộ phủ, các vùng xa xôi
hẻo lánh được gọi là châu. Cao Bằng thuộc Thái Nguyên. “Dưới thời Lý, Thạch
Lâm là một bộ phận của châu Quảng Nguyên” [17, tr.32], nên lúc này Hà
Quảng thuộc châu Quảng Nguyên. Thế kỷ XII, Hà Quảng thuộc địa phận của
châu Thái Nguyên vì thời gian này châu Thạch Lâm có sự thay đổi tên gọi
được gọi là châu Thái Nguyên. Sang thế kỷ XIII thời nhà Trần, nhà nước sắp
xếp lại các đơn vị hành chính, đã đổi 24 lộ của thời nhà Lý thành 12 lộ. Thời
gian này Hà Quảng vẫn thuộc châu Thái Nguyên. Đến năm 1397 thì châu Thái
Nguyên được đổi thành trấn Thái Nguyên. Thời thuộc Minh châu Thạch Lâm
là huyện Thái Nguyên thuộc phủ Thái Nguyên. Nên trong thời gian này Hà
Quảng thuộc huyện Thái Nguyên. Vào thế kỷ XV, thời nhà Lê, lúc này cả nước
14

chia làm 5 đạo, Hà Quảng vẫn thuộc huyện Thái Nguyên thuộc Bắc Đạo. Năm
1469 châu Thái Nguyên được đổi tên thành châu Thạch Lâm. Năm 1499 châu
Thạch Lâm thuộc trấn Cao Bằng, từ đây địa phận Hà Quảng thuộc châu Thạch
Lâm, phủ Cao Bằng.
Vào đầu thế kỷ XIX, thời vua Gia Long (1802 – 1820 ), Hà Quảng thuộc
châu Thạch Lâm, vào thời gian đó châu Thạch Lâm thuộc trấn Cao Bằng có 14
tổng, 133 xã, thôn, phường, phố, trại, động. Còn Hà Quảng có 8 xã. Thời vua
Minh Mạng vào năm 1831 trấn Cao Bằng đã được đổi thành tỉnh Cao Bằng.
Sang năm 1834 châu Thạch Lâm đã được đổi thành huyện Thạch Lâm, đến lúc
này vùng đất Hà Quảng nằm trong địa hạt huyện Thạch Lâm. Thời vua Đồng
Khánh (1886 – 1889 ), Hà Quảng thuộc huyện Thạch Lâm. Huyện Thạch Lâm

Hà Quảng là một huyện miền núi biên giới, xa xôi hẻo lánh, được hình
thành từ lâu đời. Có nhiều bằng chứng cho thấy ngay từ thời tiền sử vùng đất
này và con người nơi đây đã xuất hiện và sinh sống. Theo sách Cao Bằng thời
tiền sử và sơ sử ở Hà Quảng có Hang Piúc ở xã Xuân Hòa có nền và vách hang
có trầm tích màu vàng, trong khối trầm tích có răng hươu và xương thú hóa
thạch có tuổi hậu kỳ cánh tân. Ở xã Trường Hà có di tích cự thạch theo ông
Nông Văn Chương “do con người dựng nên từ thời Giao Chỉ” [10, tr.233].
Nhân dân ở Hà Quảng chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số đã cư trú ở đây
từ rất lâu đời. Mỗi dân tộc khác nhau có những đặc điểm khác nhau từ hình
thức canh tác đến phong tục tập quán. Là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu
số, trong đó dân tộc Tày và dân tộc Nùng là hai dân tộc cư trú sớm nhất là cư
dân bản địa chiếm ưu thế. Trong Đồng Khánh dư địa chí có ghi chép về các dân
tộc này sống ở đây khi xưa: “Hai huyện Thạch Lâm Thạch An phủ Hòa An
người Nùng, người Mán và người Thổ (Tày), ở xen kẽ nhau.” [47, tr.652].
Trong quá trình tồn tại và phát triển mỗi dân tộc với những phong tục tập quán
riêng của mình, đã tạo ra dấu ấn văn hóa riêng cho dân tộc của mình. Chính
điều này đã làm phong phú thêm cho nền văn hóa của huyện. Dân cư các dân
tộc sống xen kẽ với nhau, nhưng cũng có khu vực chỉ có một dân tộc. Theo chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status