BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN THỊ LIÊN HƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TS. VÕ THỊ QUÝ
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2010
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Võ Thị Quý đã tận tình
hướng dẫn và giúp đỡ tôi thực hiện tốt luận văn này cũng như hoàn thiện các
kiến thức chuyên môn của tôi.
Tôi xin trân trọng cảm ơn đến các Thầy cô khoa Quản trị kinh doanh
Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là Tiến sĩ Nguyễn
Quang Thu đã giúp đỡ và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt
thời gian tôi đã học tập tại trường cũng như việc hoàn thành luận văn tốt nghiệp
này.
Nhân đây tôi xin trân trọng cảm ơn Anh Đặng Xuân Cảnh – Tổng Giám
đốc của Công ty Kiểm toán DTL đã cho tôi lời khuyên bổ ích về các chuẩn mực
kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế, cảm ơn anh Lê Khánh Lâm –
Phó Tổng Giám đốc Công ty Kiểm toán DTL đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi có
thời gian hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa Quản trị kinh doanh và Phòng quản lý
đào tạo sau Đại học – Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn Gia đình đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành
luận văn này.
1.2.2 Chuẩn mực kế toán quốc tế 9
1.2.3 Chuẩn mực kế toán Việt Nam 10
1.2.4 Những khác biệt giữa hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam và hệ thống
chuẩn mực kế toán quốc tế 11
1.3 Phương pháp phân tích trong đầu tư 14
1.3.1 Báo cáo tài chính 15
1.3.2 Các chỉ tiêu tài chính thường được các nhà đầu tư sử dụng khi phân tích 17
CHƯƠNG 2. Phân tích sự khác biệt của một số khoản mục trong hệ thống
chuẩn mực kế toán Việt Nam so với hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế có
ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư 21
2.1 Sự khác biệt của phương pháp đánh giá các chỉ tiêu 21
2.1.1 Kế toán hàng tồn kho 21
2.1.2 Kế toán tài sản cố định hữu hình 22
2.1.3 Kế toán các khoản đầu tư 23
2.1.4 Kế toán bất động sản đầu tư 25
2.2 Sự khác biệt của việc trình bày báo cáo tài chính 26
2.2.1 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 26
2.2.1.1 Cổ tức trả bằng cổ phiếu 26
2.2.1.2 Lãi cơ bản trên cổ phiếu 27
2.2.1.3 Lãi từ hoạt động kinh doanh 29
2.2.2 Bảng cân đối kế toán 31
2.2.2.1 Vốn chủ sở hữu 31
2.2.2.2 Cổ tức phải trả 31
2.2.2.3 Khoản phải thu, phải trả 31
2.2.2.4 Lợi thế thương mại 33
2.2.2.5 Các chỉ tiêu ngoài bảng cân đối kế toán 33
2.2.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 34
2.2.4 Báo cáo tình hình thay đổi vốn chủ sở hữu 35
CHƯƠNG 3 Minh họa sự sai lệch của một số các khoản mục giữa hai hệ
IAS: International Accounting Standards
Chuẩn mực kế toán quốc tế
IFRS: International Financial Reporting Standards
Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
IASC: International Accounting Standard Committee
Ủy Ban Chuẩn mực kế toán quốc tế
IASB: International Accounting Standard Board
Hội đồng Chuẩn mực kế toán quốc tế
SAC: Standing Advisory Committee
Hội đồng cố vấn chuẩn mực
VAS: Vietnamese Accounting Standard
Chuẩn mực kế toán Việt Nam
VNM: Công ty Cổ phẩn sữa Việt Nam
FPT: Công ty Cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Các chỉ tiêu tài chính được nhà đầu tư quan tâm nhiều nhất 17
Bảng 3.1 Bảng phân tích về lãi cơ bản trên cổ phiếu của VNM 39
Bảng 3.2 Bảng phân tích về chỉ số giá thu nhập của VNM 40
Bảng 3.3 Bảng phân tích về doanh thu của VNM theo VAS 41
Bảng 3.4 Bảng phân tích về doanh thu của VNM theo IAS 42
Bảng 3.5 Bảng nguồn vốn của VNM theo VAS 43
vốn quốc tế đòi hỏi thông tin tài chính phải nâng cao chất lượng và phải so sánh
được với nhau; để so sánh được với nhau các thông tin tài chính phải được ghi
nhận trên cùng hệ thống chuẩn mực kế toán chung, là tiền đề để hệ thống chuẩn
mực kế toán quốc tế (IAS) được hình thành. Trên thực tế, các quốc gia có thể áp
dụng các chuẩn mực kế toán khác nhau để lập các báo cáo tài chính và các chuẩn
mực kế toán có thể có sự khác biệt. Sự khác biệt của hệ thống các chuẩn mực kế
toán xuất phát từ sự khác nhau về văn hóa, hệ thống pháp lý, chính trị, quá trình
hình thành và phát triển của các hiệp hội nghề nghiệp. Và các báo cáo tài chính
của cùng một doanh nghiệp được lập trên các hệ thống chuẩn mực khác nhau có
thể có sự khác biệt.
Chuẩn mực kế toán quốc tế đang dần được áp dụng chung trên hơn 100
quốc gia trên thế giới và tại các quốc gia chưa áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế
cũng đang diễn ra quá trình hòa hợp giữa hệ thống chuẩn mực kế toán của quốc
gia đó với chuẩn mực kế toán quốc tế. Ví dụ điển hình, Mỹ đã ký hiệp ước
Norwalk năm 2002 nhằm thúc đẩy quá trình hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán quốc
tế và Hệ thống các nguyên tắc kế toán đã được chấp nhận của Mỹ (US GAAP -
Generally Accepted Accounting Principles); căn cứ vào hiệp ước này, Ủy Ban
chuẩn mực kế toán quốc tế sẽ chỉnh sửa một số điểm trong chuẩn mực kế toán
quốc tế và đến năm 2011 Mỹ sẽ chuyển qua sử dụng chuẩn mực kế toán quốc tế.
Một ví dụ khác vào tháng 1 năm 2006, Ủy Ban chuẩn mực kế toán Canada cũng
đã thông qua kế hoạch 5 năm hội tụ giữa Hệ thống các nguyên tắc kế toán đã được
chấp nhận của Canada (GAAP Canada) với chuẩn mực kế toán quốc tế.
Các nghiên cứu gần đây trên thế giới đã khẳng định rằng chuẩn mực kế
toán quốc tế là một chuẩn mực chuẩn các quốc gia cần sử dụng để tham chiếu và
2 thực hiện. Nghiên cứu của Mary E.Barth của Stanford Graduate School of
Business, Wayne R.Landsman của University of North Carolina at Chapel Hill –
Accounting Area và Mark H.Lang của University of North Carolina at Chapel
Với tình hình chung như vậy đề tài “Phân tích ảnh hưởng của sự khác
biệt giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế đến
quyết định của nhà đầu tư” hy vọng sẽ cung cấp cho nhà đầu tư một cái nhìn
toàn diện hơn khi ra các quyết định đầu tư.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích sự khác biệt của một số khoản mục giữa hai hệ thống chuẩn mực
kế toán Việt Nam và quốc tế có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư;
Ví dụ minh họa và khuyến nghị.
3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những khác biệt của một số khoản mục giữa hai hệ
thống chuẩn mực kế toán có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư;
Phạm vi nghiên cứu chỉ nghiên cứu ở các khác biệt của hệ thống hai chuẩn
mực ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư mà không đi sâu phân tích sự khác
biệt của từng chuẩn mực kế toán.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định
tính, tổng hợp, so sánh, đối chiếu… và phương pháp chuyên gia.
Dữ liệu sử dụng: đa nguồn.
Các dữ liệu sơ cấp đã được thu thập thông qua việc phỏng vấn các
chuyên gia trong lĩnh vực kế toán tài chính.
Các dữ liệu thứ cấp đã được thu thập thông qua tìm hiểu các nghiên cứu
về chuẩn mực kế toán quốc tế, nghiên cứu sâu vào các chuẩn mực kế
toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế. Bên cạnh đó, nghiên cứu
4 tìm hiểu các phân tích về sự khác biệt của chuẩn mực kế toán Việt Nam
và kế toán quốc tế ảnh hưởng đến báo cáo tài chính và các nghiên cứu
đến quyết định của nhà đầu tư: lý thuyết ra quyết định nhằm tìm hiểu quá trình ra
quyết định của nhà đầu tư, nhà đầu tư sử dụng thông tin tài chính như thế nào, và
lựa chọn giải pháp tối ưu nhất để ra quyết định; các phương pháp phân tích nào
được nhà đầu tư sử dụng khi ra quyết định đầu tư.
1.1 Khái quát về lý thuyết ra quyết định
1.1.1 Định nghĩa về ra quyết định
Có nhiều định nghĩa về ra quyết định, trong nghiên cứu này đề cập đến định
nghĩa của Robert Harris, 2008.
Việc ra quyết định chính là việc xác nhận và lựa chọn các vấn đề dựa trên
giá trị của vấn đề và sự yêu thích của người ra quyết định. Quá trình ra quyết định
được ngụ ý rằng có nhiều sự lựa chọn được cân nhắc và trong mỗi trường hợp như
vậy chúng ta không chỉ nhận dạng ra nhiều giải pháp thay thế nhau mà còn phải
chọn ra giải pháp đạt được đáp ứng được hai mục tiêu sau (1) có khả năng thành
công hoặc hiệu quả nhất và (2) đó là giải pháp đạt được mục tiêu, mong muốn, sở
thích của chúng ta…
Một định nghĩa khác của Robert Harris, 2008 nói rằng ra quyết định chính
là quá trình nhằm làm giảm đi một cách đáng kể các sự kiện không chắc chắn và
các nghi ngờ giữa các lựa chọn để cho phép chọn ra vấn đề chắc chắn nhất. Định
nghĩa này nhấn mạnh đến chức năng liên kết thông tin trong quá trình ra quyết
định. 6 1.1.2 Quá trình ra quyết định
Nhìn chung, có sáu bước cơ bản trong quá trình ra quyết định:
Xác định môi trường và lựa chọn phương
án tốt nhất
7 các tiêu chí rõ ràng hoặc dựa trên cảm tính của người quyết định sẽ dẫn đến các sai
lầm.
Thu thập thông tin: trong bước này đòi hỏi người ra quyết định phải xác
định được các loại thông tin cần thu thập, xác định được nguồn thông tin có thể
thu thập, đề ra các phương pháp thu thập thông tin và các phương pháp xử lý
thông tin và các thông tin này phải phù hợp với các tiêu chí đưa ra.
Đánh giá và lựa chọn các giải pháp/phương án: căn cứ vào các thông tin
đã thu thập được, các tiêu chí đã lựa chọn và các phương pháp phân tích cụ thể để
đưa ra các giải pháp/ phương án phù hợp có thể xảy ra.
Đánh giá các giải pháp/phương án: việc xác định chi phí bỏ ra và lợi ích
thu được của từng giải pháp/phương án đạt được sẽ cho phép người ra quyết định
lựa chọn được giải pháp tối ưu, giải pháp tối ưu là giải pháp mà chúng ta vẫn có
thể đạt được mục tiêu của mình mà vẫn đảm bảo các nguyên tắc nhưng vẫn có thể
tiết kiệm được các nguồn lực tốt nhất dựa trên kinh nghiệm và thực nghiệm của
người đưa ra quyết định.
Xác định môi trường ra quyết định và ra quyết định cuối cùng: sau khi
đánh giá các phương án và đề ra các phương án tối ưu nhất; người ra quyết định
cần xem xét môi trường để ra quyết định và đưa đến quyết định cuối cùng.
1.1.3 Các loại quyết định
Trong cuộc sống, có rất nhiều vấn đề đòi hỏi chúng ta phải đưa ra quyết
định, quyết định đầu tư cũng là một loại quyết định mà chúng ta cần phải thực
hiện.
Các quyết định đầu tư thường được phân loại như sau:
Nếu quyết định đầu tư chủ yếu được phân loại theo thời gian đầu tư
thông tin tài chính. Muốn vậy, cần phải có các quy định làm khuôn mẫu giúp đánh
giá, ghi nhận và trình bày thông tin tài chính, đó chính là những chuẩn mực kế
toán.
9 Vậy chuẩn mực kế toán là những quy định và hướng dẫn các nguyên tắc,
nội dung, phương pháp và thủ tục kế toán cơ bản, chung nhất, làm cơ sở ghi chép
kế toán và lập Báo cáo tài chính nhằm đạt được sự đánh giá trung thực, hợp lý,
khách quan về thực trạng tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2 Chuẩn mực kế toán quốc tế
Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế là hệ thống chuẩn mực đề cập đến
những vấn đề mang tính nền tảng, khuôn mẫu, những nguyên tắc, phương pháp có
tính chất cơ bản được chấp thuận rộng rãi trên toàn thế giới.
Cơ quan đầu tiên xây dựng và ban hành hệ thống chuẩn mực kế toán quốc
tế chính là Ủy Ban chuẩn mực kế toán quốc tế (“IASC”). Đây là một tổ chức độc
lập thành lập vào năm 1973, bao gồm đại diện của 13 nước thành viên trực thuộc
Liên đoàn kế toán quốc tế (“IFAC”), đại diện của 03 tập đoàn kinh tế lớn và một
số quan sát viên độc lập đến từ Ủy Ban Châu Âu, Trung Quốc, Ủy Ban chứng
khoán quốc tế (IOSCO), Ủy Ban chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ.
Đến năm 12/1999, IASC đã chỉ định ủy ban lựa chọn và thành lập Hội đồng
thành viên (“Trustees”) gồm 22 thành viên đến từ các khu vực địa lý, lĩnh vực và
chuyên môn khác nhau. Để thực hiện chức năng của mình, vào tháng 02/2001, Hội
đồng thành viên Trustees đã thiết lập nên Ủy Ban sáng lập chuẩn mực kế toán
quốc tế gồm ba tổ chức chính là Ủy Ban Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), Hội
đồng cố vấn chuẩn mực (SAC) và Ủy Ban hướng dẫn các chuẩn mực báo cáo tài
chính (IFRIC).
Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế được ban hành và quản lý bởi Ủy Ban
sáng lập chuẩn mực kế toán quốc tế. Các chuẩn mực kế toán quốc tế (IASs) vẫn
được kế thừa các chuẩn mực kế toán quốc tế do IASC ban hành trước đây và Ủy
cầu của nhà đầu tư nước ngoài trong việc tìm hiểu hệ thống chuẩn mực kế toán
Việt Nam. Các chuẩn mực kế toán Việt Nam so với chuẩn mực kế toán quốc tế đã
11 có sự tương đối phù hợp về nội dung, về cơ sở đánh giá, ghi nhận và trình bày trên
BCTC mà còn cả về hình thức trình bày.
1.2.4 Những khác biệt giữa hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam và
hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế
Với xu hướng toàn cầu hóa về hợp tác và phát triển kinh tế, sự hình thành
hàng loạt các công ty đa quốc gia, thị trường tài chính quốc tế và các hoạt động
thương mại quốc tế, nhà đầu tư không chỉ hoạt động trong phạm vi khu vực mà
còn mở rộng hoạt động ra toàn thế giới. Các báo cáo tài chính phải nói cùng một
ngôn ngữ, nhằm nâng cao tính khách quan, tính có thể tin cậy được, tính có thể so
sánh được là một nhu cầu khách quan và tất yếu. Một ví dụ điển hình ảnh hưởng
đến việc so sánh của các nhà đầu tư do sự khác biệt của chuẩn mực kế toán của
công ty Daimler Benz năm 1993, công ty sản xuất hàng đầu của Đức và là công ty
đầu tiên của nước này niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán NewYork,
đã buộc phải chấp nhận các yêu cầu công bố thông tin theo chuẩn mực kế toán
Mỹ. Theo đó, Công ty Daimler Benz đã phải công bố quỹ dự trữ vào khoảng 4 tỷ
DM (tương đương 2 tỷ đô la Mỹ) trên thị trường New York mà theo luật của Đức
thì công ty không cần phải công bố khoảng quỹ dự trữ này. Luật kế toán của Đức
theo khuynh hướng chống rủi ro -risk-averse trong đầu tư, trong khi đó hệ thống
kế toán Mỹ theo khuynh hướng risk-friendly và báo cáo tài chính được thiết kế
nhằm cung cấp thông tin cho các cổ đông tiềm năng (Geoffrey Mazullo, 1999)
.
Sự
khác biệt này đem lại sự phẫn nộ của các cổ đông của Công ty Daimler Benz ở
Đức mà nguyên nhân xuất phát từ sự khác biệt trong chuẩn mực kế toán.
Có thể nói rằng, việc ban hành và áp dụng hệ thống chuẩn mực kế toán
tài khoản trước đây được ban hành theo Quyết định 1141TC/QĐ/CĐKT
đã được thay thế bởi hệ thống tài khoản kế toán theo Quyết định
15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 cho chế độ kế toán doanh nghiệp và
Quyết định 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 cho doanh nghiệp vừa
13 và nhỏ. Quyết định 15/2006/QĐ-BTC được ban hành là một bước tiến
giúp doanh nghiệp có thể đơn giản hóa công tác nghiên cứu và tuân thủ
chế độ kế toán, nhất thể hóa công tác kế toán tiến tới nâng cao tính
minh bạch trong kế toán tài chính, đảm bảo tính có thể so sánh được về
tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam với
nhau.
- Theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006, khi xây dựng hệ
thống tài khoản, doanh nghiệp sẽ tuân thủ đúng với nội dung, kết cấu và
phương pháp hạch toán của các tài khoản cấp 1 và cấp 2; doanh nghiệp
chỉ có thể xây dựng hệ thống tài khoản cấp 3 trở đi cho phù hợp với
tình hình quản lý của doanh nghiệp. Vì sự ràng buộc chặt chẽ nói trên
nên việc ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh của các doanh nghiệp
Việt Nam cũng bị nhiều hạn chế.
- Trên thực tế, hệ thống tài khoản của các doanh nghiệp thường lập ra
nhằm cho mục đích báo cáo thuế là chính nên cũng ảnh hưởng đến khả
năng xây dựng một hệ thống tài khoản phục vụ cho mục đích kế toán
quản trị của doanh nghiệp.
Hệ thống báo cáo tài chính: Tương tự như hệ thống tài khoản của doanh
nghiệp, hệ thống Báo cáo tài chính của Việt Nam phải xây dựng tuân theo
mẫu do Bộ Tài chính đưa ra. Trong khi đó, IAS 01 – Trình bày báo cáo tài
chính chỉ yêu cầu doanh nghiệp phải trình bày đầy đủ các chỉ tiêu tài chính
cần thiết trong từng loại báo cáo.
Hệ thống phương pháp đánh giá tài sản: Đối với phương pháp đánh giá
quyết định của mình đó là phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật.
15 Phân tích kỹ thuật là quá trình nghiên cứu xu hướng lên xuống của giá cả
thị trường chứng khoán và xu hướng lên xuống của một loại chứng khoán để xem
xét thời điểm thích hợp cho việc mua bán chứng khoán, lý thuyết thường được áp
dụng đó là lý thuyết Dow.
Phân tích cơ bản là phương pháp mà nhà đầu tư sẽ quan tâm đến giá trị nội
tại của một doanh nghiệp. Việc xác định giá trị nội tại của một doanh nghiệp phụ
thuộc vào việc phân tích tình hình tài chính cũng như tình hình kinh doanh của
doanh nghiệp để xem xét chất lượng của công ty cũng như việc phát triển công ty
theo thời gian, nhờ đó tiên đoán các chuyển biến giá chứng khoán, giá trị doanh
nghiệp là mục tiêu chính trong phân tích cơ bản. Vì vậy, thông tin kế toán (bao
gồm các báo cáo tài chính) là một nguồn thông tin quan trọng để nhà đầu tư có thể
dựa vào đó phân tích, đánh giá và đưa ra quyết định đầu tư thông qua lựa chọn
doanh nghiệp nào có nhiều triển vọng nhất.
1.3.1 Báo cáo tài chính
Các báo cáo tài chính cung cấp cho nhà đầu tư rất nhiều thông tin hữu ích.
Khi phân tích và xem xét báo cáo tài chính sẽ đem lại các câu trả lời cho các câu
hỏi chẳng hạn như: quy mô công ty lớn như thế nào? Công ty có đang tăng trưởng
không? Công ty đang làm ra tiền hay đang hao hụt tiền? Công ty có tỷ lệ tài sản
lưu động so với tài sản cố định như thế nào? Công ty chủ yếu đang vay ngắn hạn
hay vay dài hạn? Công ty có đang phát hành thêm trái phiếu hay cổ phiếu trong
năm vừa qua? Công ty đã thực hiện các khoản chi phí đầu tư lớn trong năm vừa
qua? Công ty đã hiện đang có nhiều tiền mặt hay không hay đang thiếu tiền. Có
các báo cáo tài chính chủ yếu như sau:
Bảng cân đối kế toán: là bảng báo cáo tài chính được lập vào một thời
điểm nhất định trong năm theo hai cách phân loại vốn và nguồn hình thành